Huy Đức: Trần Quang Cơ – một cái tên đã thành danh

Ông Trần Quang Cơ. Ảnh; Internet

Ông Trần Quang Cơ. Ảnh; Internet

Bài viết của Huy Đức trên Facebook (https://www.facebook.com/Osinhuyduc?fref=nf)

Tuy từ chối chức bộ trưởng Ngoại giao, ông Trần Quang Cơ vẫn là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất lên đường lối đối ngoại của Việt Nam – không phải bằng quyền lực, chức vụ mà bằng những gì ông bạch hóa trong cuốn Hồi Ức & Suy Nghĩ được “leak” ra hồi đầu thập niên 2000s. Cuốn hồi ký có giá trị cảnh báo nguy cơ Việt Nam rơi vào thời kỳ Bắc thuộc mới.

Năm 1991, ông Nguyễn Cơ Thạch chịu nhiều áp lực phải rời khỏi chính trường. Chiếc ghế bộ trưởng ngoại giao được chuẩn bị cho ông Trần Quang Cơ nhưng ông từ chối. Khi Quốc hội đã nhóm họp, ông Trần Quang Cơ vẫn “công tác” ở Lào. Ông Đỗ Mười tưởng ông Cơ “đòi” cái ghế ủy viên Bộ chính trị nên hứa là nếu ông Cơ nhận, Trung ương sẽ bổ sung. Ông Cơ kiên quyết từ chối.

Thật tình cờ, tôi nhận được điện thoại của đại sứ Đinh Hoàng Thắng báo ông Trần Quang Cơ đồng ý trả lời phỏng vấn khi đang ở trong Thành phỏng vấn Tướng Lê Đức Anh. Phải ngồi với cả hai mới thấy được sự khác nhau giữa họ về nhân cách, tầm nhìn; sự khác nhau giữa tham vọng quyền lực và lòng yêu quê hương đất nước.

Trong cuộc gặp vào chiều cùng ngày (có đại sứ Đinh Hoàng Thắng), tôi hỏi, vì sao ông lại không nhận chức bộ trưởng Ngoại giao. Ông Cơ thẳng thắn: “Lúc ấy, trong Bộ chính trị đã phân công cho Tướng Lê Đức Anh, Chủ tịch Nước, phụ trách quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Tướng Lê Đức Anh là kiến trúc sư chính của Hội nghị Thành Đô. Nghị quyết Đại hội VII xác định đường lối ngoại giao đa phương. Nhưng chúng tôi biết rõ ‘phương ưu tiên’ của ông ta là ai, là ngược lại với chúng tôi, dẫu có nhận chức, trước sau cũng mất chức”. Tôi nói: “Tại sao anh không nhận chức rồi đấu tranh, nếu có mất chức vì bất đồng quan điểm thì lịch sử càng làm rõ ai công, ai tội”. Ông Trần Quang Cơ cười: “Cậu nghĩ là người ta sẽ cho tôi mất chức vì bất đồng quan điểm ư”. Khi ông Cơ nói điều đó, chưa xảy ra vụ “hai bao cao su” nhưng tôi cũng phần nào hiểu được.

Rồi các đồng nghiệp của ông Trần Quang Cơ sẽ đánh giá về sự nghiệp ngoại giao của ông. Nhưng, việc ông và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch bị gạt khỏi cuộc chơi hồi thập niên 1990s đã để lại một khoảng trống trí tuệ to lớn cho Hà Nội. Trong khoảng trống đó, người ta mặc sức sử dụng con ngoáo ộp “diễn biến hóa bình” những con ngoáo ộp “made in” Trung Quốc.

Chúng ta chỉ mới biết đến những mất mát ở thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm, điểm cao 1509… Chúng ta còn rất ít biết đến những mất mát to lớn hơn: những cơ hội để cải cách chính trị; những cơ hội để cải cách kinh tế theo hướng thị trường; những cơ hội hội nhập sâu rộng hơn với các quốc gia tiến bộ; những cơ hội để ký BTA, đi trước Trung Quốc trong làm ăn với Mỹ.

Cho dù rất chia sẻ với quyết định của ông; vẫn kính trọng tài năng và tâm huyết của ông; không dám trách ông “bỏ cuộc chơi”… nhưng vẫn tiếc, vận nước vào những lúc khó khăn, lại quá thiếu vắng những con người tử tế.

Xin tiễn biệt ông. Ông ra đi nhưng người đời sẽ còn nhắc tên ông, một cái tên đã thành danh: TRẦN QUANG CƠ.

Huy Đức

Tiểu sử.Nguyên thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ vừa qua đời tối hôm thứ Năm 25/6 ở tuổi 89. Lễ tang ông sẽ được tổ chức tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, sáng ngày 1/7. Ông sinh năm 1927 tại Nam Định, làm ngoại giao từ 1954 tới khi về hưu năm 1997.

Ông Trần Quang Cơ  từng khước từ chức Bộ trưởng Ngoại giao sau khi Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch bị buộc phải ra đi dưới áp lực của Trung Quốc năm 1991.

Vào BCH TW ĐCS VN từ năm 1986, ông là một trong các nhà ngoại giao lão luyện nhất của Việt Nam, từng kinh qua các chức vụ như Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao.  Trong suốt 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Campuchia, rồi tiến trình đàm phán để bình thường hóa quan hệ với các nước lơn Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc.

Năm 2001, vị ngoại giao kỳ cựu này đã cho ra mắt cuốn hồi ký mang tựa đề ‘Hồi ức và Suy nghĩ’ gây tiếng vang vì đụng chạm tới những vấn đề vẫn được giữ kín về chính trị nội bộ và quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc.

HM Blog.  Trong một lời khuyên làm thế nào để thành nhà ngoại giao nổi tiếng, ông  Robert D. Blackwill từ đại học Harvard – Kennedy đã viết

Còm sỹ TM (Gordon Thuy) đã giúp dịch lại cho đúng và sát nghĩa hơn. Cảm ơn chị.

Be ready to disagree with evolving policy when it really matters. But choose your dissenting moments wisely. Don’t badger your principal. And if such policy differences become paramount, don’t whine. Resign. Hãy sẵn sàng bất đồng ý kiến với chính sách đang hình thành khi cần thiết, nhưng hãy khôn ngoan chọn đúng thời điểm mà bày tỏ. Đừng lải nhải nhiều lời với thượng cấp của mình. Và nếu những khác biệt trở nên quá sức chịu đựng, chớ than van. Hãy từ chức.

Know your political ideology. No matter how flattering a foreign policy job proposal may be, ask yourself whether your ideology is compatible with that of the offering institution. Not to do so is to invite endless professional pain and torment. Hãy tự biết rõ quan điểm chính trị của mình. Dù cho công tác ngoại giao được hứa hẹn có vinh dự đến đâu thì cũng phải tự hỏi mình xem thể chế muốn dùng mình có phù hợp với quan điểm lập trường của mình không. Không làm được như vậy thì bạn đã tự chuốc lấy đau thương và thống khổ bất tận cho mình.

Hình như ông Trần Quang Cơ hiểu rõ hai điều này.

Advertisements

95 Responses to Huy Đức: Trần Quang Cơ – một cái tên đã thành danh

  1. TamHmong says:

    Chào các bác HC và Mười Tạ. Trong comment của MT hôm qua có đoạn
    “Chính xác hơn nữa là Mỹ vẫn còn a cay vụ 1975, không thực tâm muốn quan hệ (tương đối) bình đẳng với VN”. Theo tôi nhận xét này của MT không phù hợp với bối cảnh quan hệ Việt – Mỹ sau 30/04/1975.
    Tôi xin phép trích mục “Bình thường hóa quan hệ Việt- Mỹ” từ Wiki
    “Khoảng tháng 6 năm 1975, Việt Nam có nhờ Liên Xô chuyển cho Mỹ một thông điệp không chính thức: “Lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tán thành có quan hệ tốt với Mỹ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Trên tinh thần đó, phía Việt Nam đã tự kiềm chế trong khi giải phóng, tạo cơ hội cho người Mỹ không bị cản trở trong việc tiến hành di tản nhân viên của họ.
    Phía Việt Nam đã cố gắng làm mọi sự cần thiết để không làm xấu đi quan hệ với Mỹ trong tương lai. Không có sự thù địch với Mỹ ở Việt Nam và Việt Nam cũng không muốn thấy như vậy ở phía Mỹ”. Tiếp theo đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói trước Quốc hội: “Việt Nam mời gọi Hoa Kỳ bình thường hóa và yêu cầu chính quyền Mỹ chi tiền tái thiết như đã hứa”.
    Ngày 7 tháng 5 năm 1976, Tổng thống Gerald R. Ford đề nghị Quốc hội Hoa Kỳ tạm ngưng cấm vận Việt Nam trong sáu tháng để tạo điều kiện cho việc đối thoại giữa hai nước. Ngày 8 tháng 5 năm 1976, Bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger gửi công hàm cho Quốc Vụ khanh Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, đề nghị thảo luận vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước
    Ngày 6 tháng 1 năm 1977, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra lộ trình ba bước bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Và phía Hoa Kỳ cũng đưa ra điều kiện để nối lại bang giao là Việt Nam phải làm đầy đủ hồ sơ về lính Mỹ mất tích (MIA), trao trả hài cốt lính Mỹ. Phía Việt Nam cũng đòi Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh, trong khi đó Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam đã vi phạm Hiệp định Paris nên không thể bàn đến khoản tiền bồi thường.
    Năm 1977, khi Jimmy Carter nhậm chức tổng thống, ông đã nỗ lực đẩy mạnh việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. Tháng 3 năm 1977, Carter gửi một phái đoàn sang Hà nội để bàn về việc nối lại bang giao. Ngày 17 tháng 3 năm 1977, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh đã tiếp Leonard Woodcock Đặc phái viên của Tổng thống Mỹ. Ngày 4 tháng 5 năm 1977, chính quyền Carter đồng ý để Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc.
    Ngày 3 tháng 5 năm 1977, phiên đàm phán đầu tiên giữa hai phái đoàn Việt Nam – Hoa Kỳ đã diễn ra tại Paris. Phía Việt Nam khăng khăng đòi Mỹ phải chi 3,25 tỷ đô-la bồi thường chiến tranh. Phía Hoa Kỳ đề nghị bình thường hóa trước, viện trợ sau. Trưởng đoàn đàm phán Phan Hiền báo cáo với ông Nguyễn Cơ Thạch, ông Thạch thuyết phục Bộ Chính trị nhưng không được.
    Khi Biên giới Tây Nam được đặt trong tình trạng chiến tranh và Trung Quốc đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là kẻ thù, Việt Nam bắt đầu nhận thấy vai trò quan trọng của việc bình thường hóa với Hoa Kỳ, một siêu cường trên thế giới.
    Đầu năm 1978, tại Tokyo, ông Phan Hiền thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng bình thường hóa vô điều kiện với Hoa Kỳ”. Tuy nhiên lúc này Mỹ quan tâm tới việc đàm phán bình thường hoá với Trung Quốc hơn, vấn đề Việt Nam không còn được ưu tiên nữa.
    Trong một nỗ lực cuối cùng, tháng 10 năm 1978, Nguyễn Cơ Thạch hối thúc các nhà đàm phán Hoa Kỳ ký thỏa thuận bình thường hóa. Nhưng Hoa Kỳ đã từ chối khéo: “Mỹ không thay đổi lập trường bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, nhưng phải chậm lại vì cần làm rõ ba vấn đề: sự thù địch của Việt Nam với Campuchia; Hiệp ước Việt-Xô và tình trạng gia tăng thuyền nhân Việt Nam”.
    Tuy nhiên theo ông Trần Quang Cơ viết trong hồi ký “Hồi ức và suy nghĩ” thì: “Tôi nghĩ, thực ra Mỹ đã quyết định dứt bỏ quá trình đàm phán bình thường hoá quan hệ với Việt Nam từ khi Việt Nam tham gia khối Comecon, tháng 6-1978, và sau đó, ký hiệp ước với Liên Xô”. Sau đó thì việc bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ bị gián đoạn bởi các cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam và Chiến tranh biên giới Việt – Trung.
    Trong thập niên tám mươi chính quyền của Tổng thống Reagan (1980-1988) phản đối việc bình thường hóa cho đến khi có sự xác nhận Việt Nam đã rút hết quân ở Campuchia và có sự hợp tác đầy đủ của Việt Nam trong việc tìm kiếm những người Mỹ mất tích” (hết trích).
    Theo tôi Wiki phản ánh khá chính xác tình trạng quan hệ Việt – Mỹ lúc đó.
    Việc thất bại trong chiến tranh VN là một trong những cú shock nặng nề nhất đối với dân Mỹ trong lịch sử nước Mỹ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ bại trận làm cho người Mỹ trở nên nghi ngờ các giá trị của nước Mỹ mà người Mỹ xưa nay vẫn tự hào.
    Chiến tranh VN gây chia rẽ xã hội Mỹ một cách ghê gớm và tạo nên một Vietnamese syndrome mà vẫn còn di chứng cho đến tận ngày nay.
    Cho dù như vậy thì các chính quyền Mỹ (TT Gerald Ford và TT Jimmy Carter) sau 1975 thực sự muốn Bình thường hóa quan hệ Việt- Mỹ như chúng ta thấy.
    Việc bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ rất có lợi cho Mỹ lúc đó.
    Thứ nhất là không có gì làm người dân Mỹ kiêu hãnh cảm thấy dễ chịu hơn khi kẻ thù cũ hợp tác và nhận sự giúp đỡ của mình (như Đức, Nhật trước đây). Nước Mỹ không mất mặt và người Mỹ có thể tiếp tục tự hào với vai trò thế giới của mình.
    Thứ hai là một VN hợp tác và thân thiện với Mỹ thì quá ổn cho các đồng minh của Mỹ ở ASEAN đang sợ VN chết khiếp (đặc biệt là Thailand).
    Thứ ba là một VN hợp tác và thân thiện với Mỹ thì không chỉ mang lại ổn định cho khu vực Đông Nam Á mà còn cho phép giữ thế cân bằng ảnh hưởng của các cường quốc Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc trong khu vực này và trên thế giới. Hàng đầu là ngăn chặn mưu toan “lấp chỗ trống” của Trung Quốc sau khi Mỹ rút.
    Nếu các nhà lãnh đạo VN lúc đó đủ tầm để hiểu tương quan lực lượng trên bàn cờ chính trị thế giới và VN sớm bình thường hóa quan hệ với Mỹ thì VN hoàn toàn có thể giữ được thế cân bằng giữa ba cường quốc Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc.
    Điều này cho phép VN không phải ngả hẳn về phía Liên Xô. VN với vốn liếng chính trị không nhỏ sau 30/04/1975 có thể làm giá để tranh thủ được sự giúp đở “cạnh tranh” của cả ba cường quốc và tránh được rất nhiếu sự kiện bi thảm sau 1975 (thuyền nhân, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, Mỹ cấm vận, Thành Đô,…).
    Tóm lại là có thể biến vốn liếng chính trị lúc đó (thế) thành phát triển kinh tế (lực) và tránh được việc tiếp tục làm con tốt thí trên bàn cờ chính trị thế giới.
    Tất nhiên lịch sử làm gì có chữ “nếu” nhưng tôi vẫn phải buồn lòng nghĩ rằng một nhà chính trị tầm cỡ như ông HCM có lẽ là không để lỡ những cơ hội như vậy.
    Nhân chuyến ông NPT đi thăm Hoa Kỳ tôi xin bày tỏ sự mong mỏi rằng ông NPT sẽ không bỏ lỡ cơ hội. Hợp tác và liên minh chiến lược với Hoa Kỳ sẽ góp phần cho dất nước Việt Nam đi đúng tiến trình lịch sử. Dân tộc Việt Nam có điều kiện khắc phục sự lạc hậu hiện nay của mình.
    Chúc các bác HC mọi điều tốt đẹp.

    • Hiệu Minh says:

      Tôi ở Mỹ một thời gian dài và có thể nói VN đã để lỡ bao cơ hội vàng chỉ vì một lý do đơn giản “ý thức hệ” mà người TQ thì quá hiểu VN sợ cái gì.

      Trong ngoại giao, khi tiếng súng im, đó là vai trò của các vị xách ca táp đi đàm phán, Chiến thắng trên chiến trường không phải đã là chiến thắng, mà chiến thắng trong xây dựng, trong hội nhập, kinh tế đi lên, xã hội trong sạch, chính phủ minh bạch dựa trên pháp luật công minh … mới là chiến thắng thật.

      Tất cả ngôn từ hoa mỹ trên bục không thể xóa được thực tế phũ phàng. Ngày nay internet đã bạch hóa nhiều chuyện, văn minh lúa nước sông Hồng đã nói rằng, đừng tắm hai lần trên một dòng sông,

  2. CD@3n says:

    – để góp với entry, mời tất cả xem bài viết của TS Đinh Hoàng Thằng, nguyên ĐS tại Hà Lan về ô.Trân Quang Cơ :

    “Chắc hẳn nhiều người còn nhớ buổi giao ban năm ấy… Với sắc mặt thất thần, ông Trần Quang Cơ gần như gào to giữa phòng họp: “Mọi người biết không, người ta sắp cắt thủ cấp Nguyễn Cơ Thạch để dâng cho nước ngoài rồi”.

    Đoán “triều đình” có biến, lũ chúng tôi (những đứa lần đầu được dự giao ban), chẳng ai bảo ai, im thin thít. Tôi cố gắng tập trung vào “Bản tin A” (*) nhưng đầu óc thì nghĩ mông lung.
    Không tham quyền cố vị

    Trước tháng 12/1986, đại sứ Trần Quang Cơ được Bộ triệu tập về họp. Khi trở sang nhiệm sở (Bangkok), ông kể lại với một cán bộ tâm phúc về quyết định của “anh Thạch” dự kiến điều ông về nước làm thứ trưởng ngoại giao và giới thiệu ông vào Ban Chấp hành TƯ Đảng.

    Ông lưỡng lự trước đề nghị của Bộ trưởng và tâm sự: “Với cơ chế của ta thì không thể làm việc được”. Sợ ông từ chối cái ghế nhiều người đang mơ ước, cán bộ tâm phúc ấy nói với ông rằng, anh nên nhận lời anh Thạch. Cố nhiên, anh không đi thì “chợ vẫn đông”, nhưng anh làm sẽ tốt hơn khối người khác.

    Thế mới biết, tại sao năm 1991, rồi năm 1993 ông lại đề nghị được rút khỏi danh sách Ban Chấp hành TƯ. Đặc biệt và có thể nói vô tiền khoáng hậu (xin lỗi nếu có ngoại lệ), ông từ chối cả cái ghế Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khi Tổng Bí thư Đảng đã có quyết định.

    Khí phách Trần Quang Cơ hẳn nhiên đạt tới “đỉnh” khi ông quyết định công bố “Hồi ức và Suy nghĩ” khá sớm, khoảng đầu 2001. Chính nhà ngoại giao Dương Danh Dy cũng không hiểu vì sao được ông tín nhiệm, giao tận tay một lúc cả hai bản đánh máy. Thấy chắc chắn sẽ có ích cho cái chung, ông Dy góp thêm một số ý kiến, sau đó công khai đưa lên mạng.

    Hồi ký Trần Quang Cơ lập tức trở thành sách gối đầu giường đối với nhiều nhà quan sát và giới cầm bút muốn có nguồn tư liệu trung thực để phân tích tình hình Việt Nam những năm hậu chiến, thậm chí để hiểu thấu được cả những sự kiện mà hệ lụy của chúng còn kéo dài mãi tới hôm nay và mai sau.
    Cống hiến và phản biện

    Trần Quang Cơ đóng góp nhiều cho Ngành từ những ngày ông về phụ trách Vụ 2, vụ đối sách với Mỹ, đàm phán tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, bình thường hóa với Trung Quốc. Từ những năm ấy, ông đã xác quyết các ý đồ và âm mưu của Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là âm mưu cướp biển đảo.

    Và Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

    Ông đã lên tiếng kêu gọi phải khẩn trương trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và sớm gia nhập ASEAN. Triết lý sống còn về an ninh của đất nước được ông khái quát khá sớm: “Trong cái thế anh nằm ngay cạnh nước lớn, nước khổng lồ, mà không có bạn thì anh sẽ bị ép”. Đối với ông, chiến lược an ninh và đối ngoại phải hết sức linh hoạt, phải phù hợp với xu hướng chung của cục diện chính trị-kinh tế thế giới, nhất thiết phải tương thích với những đặc điểm lớn của thời đại.

    Nhưng rồi ông cũng cay đắng đưa ra nhận xét, ngày ấy, ta đã làm những việc cần thiết đối với Mỹ và ASEAN “chậm trễ tới cả mười năm”.

    Sau này, ngay cả khi đã “rửa tay gác kiếm” ông vẫn sẵn lòng cho chúng tôi biết thêm một số chi tiết giá trị trong cuộc vật lộn ngoại giao đằng sau các cuộc chiến, đặc biệt là những bão táp thời hậu chiến mà ông là người trong cuộc, có lúc từng là tác nhân và nhờ sự tỉnh táo mách bảo, biết rút ra sớm khỏi cuộc chơi trước khi có thể trở thành nạn nhân.

    Phản biện thông minh và luôn có ý thức tích lũy để cống hiến. Từng là cán bộ địch vận, thuyết phục binh lính Pháp, cùng làm việc với nhiều “cây đa, cây đề” trong làng ngoại giao và văn hóa, một thời dưới trướng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ ngày chuyển về Bộ Ngoại giao, ông càng có cơ hội phát huy tầm nhìn xa trông rộng đối với các vấn đề mỗi khi góp phần vào việc đề xuất chính sách.

    Có lẽ các phẩm chất tử tế nói trên đã làm Trần Quang Cơ thành danh như nhận xét của nhà báo tự do Huy Đức. Tuy nhiên, chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy thì vẫn còn đó… và đang hết sức nan giải.

    Nhưng vận mệnh đất nước không thể cứ “bèo dạt mây trôi” như thế này mãi. Ông ra đi nhưng dường như vẫn muốn nán lại để hỏi chúng ta: “Những người đang sống phải làm gì?
    —————————————————–
    – “những người đang sống phải làm gì”…Dạ, thưa linh hồn bác Trần Quang Cơ, M sẽ ghi nhớ câu hỏi này, một ngày nào, đi thăm mộ ĐT Võ nguyên Giáp tại Quảng Bình, thắp nhang vái ĐT, M sẽ khấn đê nhờ ĐT giúp M có câu trả lời…?!

  3. Dân gian says:

    Trước khi đi Mỹ gặp Obama cụ Trọng nhấn mạnh gì đây này: Người không chấp nhận đa nguyên đa đảng.

    http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/247766/nguoi-khong-chap-nhan-da-nguyen–da-dang.html

    Cụ Dove có còn hy vọng cụ Trọng gặp Obama về sẽ đập bình, diệt chuột nữa hay không?

    Cụ Trọng có ý nhắc rằng “không đa nguyên đa đảng” là ý cụ Linh đấy nhé, tớ chỉ học tập và lồm theo thôi, đừng có mà ép tớ nhé. Sang năm tớ hưu trí rồi, để yên cho tớ vui thú điền viên nhé. Các chú ở lại lồm gì thì lồm, đừng có qui kết gì tớ nhé… Obama đang giãy chết nhưng đáng yêu ra phết, Tập Cận Bình chỉ thể hiện tư tưởng Hán tộc thôi mà, có gì lạ đâu… 😀
    Quả thật cụ bình tĩnh, sáng suốt, rất khôn ngoan:
    – VN ta cứ hiền, ngoan là OK rùi(ý Ngọc Trinh). ĐCSVN muôn năm!

    • CD@3n says:

      dân này…Gian quá, nên AQ thì cực thấp, mà IQ thì cực….cao cao, như bài hát của cố nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu : “xây cho nhà cao…cao quá..” ( chết, cao cao mãi !).

      • Dân gian says:

        Cụ Phan Huỳnh Điểu có lần tâm sự về bài hát Những ánh sao đêm: Hồi ấy cụ sống trong một căn nhà ở phố Huế, Hà Nội. Đêm về, cụ đứng trên sân thượng nhìn về phía khu Kim Liên, cách xa khoảng 3-4 km theo đường chim bay, thấy ánh lửa hàn lóe sáng, biết là ở đấy người ta đang xây dựng khu nhà tập thể cao 4 tầng nên cụ cảm hứng sáng tác ra bài Những ánh sao đêm.
        Vốn đang trong tâm trạng của người miền Nam tập kết ra Bắc sau hòa bình lập lại 1954(ngạc nhiên chưa), chắc cụ nhớ một em nào đó ở lại quê hương nên cụ lồng ghép tình cảm riêng tư của mình khéo léo vào lời ca, cộng với sự ca tụng sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở miền Bắc. Hồi ấy nếu chỉ nói yêu đương thuần túy chắc sẽ bị qui cho là tiểu tư sản, chỉ có toi đời. 😀
        Cụ vốn thấp bé, nhẹ cân nên rất tự nhiên thấy cái gì cũng cao, to quá khổ với mình.

        Làn gió thơm hương đêm về quanh khu nhà tôi mới cất xong chiều qua
        Tôi đứng trên tầng gác thật cao nhìn ra chân trời xa xa
        Từ bao mái nhà đèn hoa sáng ngời bầu trời thêm muôn vì sao sáng
        Tôi ngắm bao gia đình lửa ấm tình yêu nghe máu trong tim hoà niềm vui lâng lâng lờ ca
        Em ơi, anh còn đi xây nhiều nhà khắp nơi
        Nhiều tổ ấm sống vui tình lứa đôi
        Lòng anh thấy càng thương nhớ em
        Dù xa nhau trọn ngày đêm anh càng yêu em càng hăng say xây cho nhà cao cao mãi

        Ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta
        Anh lắng nghe bao lời ân ái những bài tình ca ….

        Lòng nhớ thương quê hương miền Nam anh hằng tha thiết mong ngày mai
        Anh sẽ đi về khắp làng quê xây những ngôi nhà tương lai
        Dòng sông mát xanh vòng quanh phố phường và nhiều công trường xây niềm vui mới
        Khi bóng đêm trở về rực ánh đèn lên em thấy như muôn ngàn vì sao thêu trong đêm tối
        Em ơi tuy giờ đây hai miền còn cách xa
        Niềm chia cắt thắt đau lòng chúng ta
        Nhưng không thể xóa được hình bóng em
        Dù xa nhau trọn ngày đêm, anh càng yêu em càng hăng say xây cho nhà cao cao mãi

        Ôi xinh đẹp Tổ Quốc của ta
        Anh lắng nghe bao lời ân ái những bài tình … ca.

        • Hiệu Minh says:

          Nghe luôn trên YouTube cho sướng, Của đáng tội, hát karaoke, cánh U50-80 ngoài Bắc toàn thích những bài này.

        • Hiệu Minh says:

          Hà Nội nóng 38-40oC, kinh người, đi lại trên phố như cái lò thiêu, qua những khu phố cây bị cắt trụi, chợt thấy nhớ mùa Đông, chút lá thu vàng đã rụng…. làm sao về được mùa Đông…

    • Dove says:

      TBT Nguyễn Văn Linh đã nói câu: “không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, kiên quyết chống tệ tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.” có lẽ là vào cuối thập niên 1980, như vậy là 1/4 thế kỷ đã trôi qua.

      Tuy nhiên việc chống tham nhũng và vi phạm dân quyền xem ra ngày càng thiếu kiên quyết hơn. Thiển nghĩ cụ NPT nên đánh giá cẩn trọng quan hệ biện chứng giữa 3 vế rồi phát biểu chín chắn hơn, cho xứng tầm với học vị TS xây dựng đảng do Liên Xô cấp.

      Vào thập niên 1980 thì có thể chủ trương ko đa đảng của cụ NVL là đúng. Còn chưa quên, hồi đó Hoàng Cơ Minh và đảng Việt Tân đóng căn cứ ở Thái Lan, mở 3 chiến dịch “Đông tiến” hỗ trợ Tàu lấn đảo của VN. Vào lúc đó, thì VN đang bị cả phương Tây cầm đầu là đế quốc Mỹ xúm nhau lại xỉ vả là “kiêu căng” rồi hăng máu lên xúi Đặng dạy cho “một bài học” để đời. Không chỉ vậy, bức tường Béc Linh còn nứt ra nhiều mảng và đổ sập đến nơi. Trong bối cảnh như vậy thì “vì thế đa đảng là tự sát”.

      Còn bây giờ thì khác rồi. Dove đã suy nghĩ khá nhiều về việc VN đã có quan hệ đối tác chiến lược với hầu hết các cường quốc và thiển nghĩ “trào lưu mới” mà lão Chinook đã có lần đề cập sẽ bao gồm 3 nội dung cơ bản, đó là: 1) Quản lý đất nước bằng quyền lực mềm; 2) Phát triển kinh tế trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật thị trường và 3) Tái phân phối giá trị thặng dư minh bạch theo mô hình XHCN Bắc Âu và Canada.

      Nếu vậy, cụ NPT nên đàm đạo uyển chuyển với ông B. Obama rằng Quốc hội VN sẽ xem xét lộ trình mở rộng đa nguyên đa đảng để hỗ trợ ĐCS VN thực hiện tốt chỉ thị chống tệ tham nhũng và vi phạm dân quyền của cựu TBT NVL. Đó là bước đi mà Đảng CSVN nhất định phải thực hiện để có thể tái hội nhập với nhân dân để xây dựng một xã hội giàu mạnh, có trách nhiệm, công bằng và văn minh.

      Mặc dù còn có sự khác biệt nhưng Dove tin rằng sẽ OK và đề nghị Lão Cua gỡ ngay lập tức bức hình “hoa dương vật dị hình to tổ chảng”.

      • CD@3n says:

        bác Dove, “tỉnh lại đi bác…có bị làm sao không…”?! bác lại nói tới cái từ diễn đạt cái cơ quan quyền lực “cao nhất” nhưng mà ở dưới “cương lĩnh…” à…?! Tình lại bác Dove ơi…úi, Nga”Ivoire” ơi…giúp một tay…lai tỉnh, lai tình…”cá quả sào rau cần ta..”…!!!

  4. Dove says:

    GS Trần Văn Khê vừa mất thì hôm 28/6 nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu cũng mãi mãi ra đi. Nếu cụ Trần là thần tượng của giới bác học thì cụ Phan lại là thần tượng của giới bình dân cả một đời chỉ mải mê lao động và chiến đấu phục vụ đất nước.

    Nhớ lại cái thời mà thi ca về tình yêu là vô cùng hiếm hoi thì các tác phẩm của cụ Phan thật sự là suối nguồn tươi mát cho những kẻ đang yêu. Chúng là sụ kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, thi ca và cuộc sống theo cái cách mà chỉ cụ Phan làm được. Bởi thế chỉ cần nghe vài tiết tấu thì bất cứ ai cũng có thể nhận ra cụ Phan, thế rồi chúng ngấm dần vào trái tim và ở luôn trong đó.

    Dove còn nhớ việc đệm nhạc cho bài “anh ở đầu sông em cuối sông” là rất khó và tốn thì giờ đối với các nhạc công Nga vì nó ko tương hợp với bất cứ dòng nhạc nào mà họ biết. Thế nhưng, thực ra chỉ cần một cây đàn măng đô lin hoặc sang hơn là ghi ta thế là ổn. Cụ Phan đã viết ra những tác phẩm để đời là cốt để chúng có thể được biểu diễn trong điều kiện tối giản.

    Xin mời thưởng thức phong cách tối giản đó.

    Nhân dịp cụ Phan 90 tuổi, ca sĩ Vũ Dậu đã tặng cụ 4 câu thơ, xin được trích lại

    Đã chín mươi xuân hưởng tuổi trời
    Âm nhạc bay lên giữa chơi vơi
    Tâm hồn nghệ sĩ mênh mông thế
    Hỏi thế gian này được mấy ai?

    • HỒ THƠM1 says:

      Tui thì ít theo dõi các Cụ âm nhạc nhưng biết đến cái tên Trần Văn Khê từ khoảng năm 1970 trên Tạp Chí Phổ Thông của Nhà thơ Nguyễn Vỹ. Cụ Khê hay đăng bài trên Tạp chí này!

      Tính ra Cụ Nguyễn Vỹ cũng có đóng góp rất lớn cho văn hóa nước nhà đấy!
      Có khi sự nghiệp văn hóa của Nguyễn Vỹ còn dày hơn cả Hoài Thanh Huy Cận Xuân Diệu Thế Lữ nữa kia. Chỉ tội cái Cụ Nguyễn Vỹ không ưa các cụ Cộng Sản nhà mềnh nên bị dìm hàng thui!

  5. xanghứng. says:

    “Giấc mộng Thiên đường” đẹp đê mê,

    Bốn chục năm sao mãi ê chề.

    “Trạng Nguyên”* cõng mẹ ra – vô mãi…..

    Cơ cùng Nhân, Điểu… nay lại Khê !

    * Trạng Nguyên (Đốp) cõng mẹ đi ra,
    Va phải cái bồ, cõng mẹ đi vô.
    Trạng Nguyên cõng mẹ đi vô,
    Va phải cột nhà, cõng mẹ đi ra !

    • XoaiXon says:

      Thế là trăm năm đứt bóng
      Biển đảo… Còn được mảnh nào?
      Thôi thế cũng là may
      Ngửa mặt kêu trời Xã tắc đến chua cay !
      Không xa một ngày Ta khoả chân xuống biển
      Coi chừng vi phạm: Chủ quyền đ/chấy khựa ! Láng giềng.

    • Dove says:

      Có hẵng tỷ người đã mơ về thiên đường đã 2 ngàn năm nay. Nhưng họ đã bất lực nhìn những thánh địa của đức tin đang bị hủy hoại trong cái gọi là mùa xuân Ả Rập. Họ cũng đã đọc, thế nhưng càng đọc thì càng cố tình nhắm mắt lại trước những sự thật khủng khiếp được Dan Brown phơi bày trong The Da Vinci code, The lost symbol….

      Dove ko như vậy, khi đã tin XHCN thì đọc tận gốc và tin hết mình, khi thấy Mao Sít đã sai thì cất lên tiếng nói trung thực ko bị chính trị hóa.

      Thật ra thì âm mưu có khắp mọi nơi, mọi chốn. Có trong những tôn giáo cổ xưa nhất, có quá nhiều trong CNXH và hiện ra lồ lộ trong những cố gắng mới nhất nhằm đánh tráo “khai hóa văn minh” bằng “khai hóa dân chủ” để nô dịch thế giới.

      Vạch trần những âm mưu như vậy bằng tiếng nói trung thực là cần thiết.

      Chúc huynh có đủ tinh thần và nghị lực để đón nhận sự phá sản của Hy Lạp và hậu quả dây chuyền sau đó. Hãy nhanh chóng đổi hết Euro sang nhân dân tệ, số tiền lẻ thì dành ra ăn một miếng bí tết – rất có thể là cuối cùng trong đời.

  6. CD@3n says:

    – có một bài viết, lại vê cảm nhân của 1 ô. Mỹ phiên dịch tiếng V, xin mởi coi :

    “Trong thời gian tôi làm phiên dịch ở Việt Nam thấy rõ thiện chí của ông Nguyễn Cơ Thạch. Ông đã có tư tưởng gác lại quá khứ hướng tới tương lai, dù Mỹ đã gây chiến tranh ác liệt chống lại Việt Nam” – ông André Sauvageot.
    (nguồn : http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/247581/-khi-ay-toi-thay-ro-thien-chi-cua-ong-nguyen-co-thach-.html)
    ———————————————————–
    – sau khi xem toàn bài, thấy ô. Mỹ này nói có mấy chộ “sạn”, nhưng mà, thôi, người Mỹ thê là quá tốt với VN rùi !

    • Hiệu Minh says:

      Tôi gặp cụ này vài lần rồi, cụ nổ tiếng Việt hơi bị kinh, nhưng thuộc vè thời quá khứ rồi. Báo chí nước mình không ra khỏi vòng luẩn quẩn với mấy ông … quen quen, cứ bảo sao dân thích sang Tầu vì quen mà 🙄

      • TranVan says:

        Tư tưởng “tiến bộ” ?

        Tôi tình cờ được gặp bác Thạch tại nhà một người bạn tại Paris. Bác “động viên” chúng tôi : “Học xong, thu xếp về xây dựng đất nước , đừng quên !”.

        Tôi cười cười , ngó ngang ngó dọc (*), trả lời nhỏ nhẹ : “trí thức, tư sản hay tiểu tư sản, theo học tại nước tư bản thì khó có thể được chấp nhận nơi mấy xứ XHCN, chẳng lẽ VN ta là ngoại lệ ?”

        Bác nổ tiếp : “VN ta thì gì cũng có thể làm được !”

        Nổ như thế thì quả là đã không (muốn) nhìn rõ vấn đề, vấn nạn !

        (*) Tránh bị bác vừa là Tài xế vừa là Bảo vệ nghe thấy được !

  7. Dân gian says:

    Không chỉ thời của cụ Trần Quang Cơ, nếu đọc được chủ trương lựa chọn các ứng cử viên vào trung ương đợt tới, DDH12 này thì sẽ thấy đảng CS yếu kém như thế nào. “Những người được giới thiệu phải có khả năng sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.”

    Có thể suy diễn ra rằng họ, những người này rất hiếm trong đảng. Và đa số trong đảng là những người có đặc tính ngượi lại. Tức là đa số đảng viên là những người không có khả năng sáng tạo, không dám nghĩ, dám làm, và không dám chịu trách nhiệm.

    Với bản lĩnh như vậy , không ngạc nhiên khi chúng ta luôn nghe thấy câu cửa miệng của các vị chức sắc trong đảng: Phải làm sao để…, phải làm thế nào để… và kết quả của những chỉ đạo này thì luôn kém cỏi.

    Một đảng cầm quyền như vậy nhưng vẫn không bị thải loại. Thật ngạc nhiên! 😀

    • Hiệu Minh says:

      Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thế nào đươc? Nhiều vị tự ứng cử toàn bị khuyên là…thôi thôi, xin bố 🙂

      • CD@3n says:

        M phải xin phép, và xin lỗi các bạn, cái câu được ghi trong chỉ thị, NQ “khả năng sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm”…là lấy từ hình ảnh “tưng bừng- quyêt liệt” của a# đấy ạ ?! vì sao, thì các bạn tự trả lời ( gợi ý : chỗ chống “nưng” của a# là Ai, ở đâu?!) …hông tin, tới VP BGTVT mà “thực tế”, ở đây, có câu nói “cực hay” : VỖ TAY TRONG TÚI QUẦN !

  8. TamHmong says:

    Chào các bác HC và chào Dove. Xin lỗi các bác vì vài hôm nay bận việc không vào tham gia trao đổi với các bác được. Xin phép trao đổi một chút về các cơ hội bị bỏ lỡ sau 1975. Thứ nhất về thông tin của Dove.
    “Tuy nhiên, có một sự thật lịch sử mà ko phải ai cũng biết. Đó là ngay sau ngày 30 tháng Tư, ko ít cán bộ có tâm đã bày tỏ quan điểm khôi phục quan hệ kinh tế văn hóa vốn có giữa Sài Gòn với phương Tây càng nhanh càng tốt, để từng bước xây dựng lại Hòn ngọc Viễn Đông do chiến tranh mà thui chột. Mãi 10 năm sau đó, trong bối cảnh Sài Gòn đã lún sâu vào tình trạng trì trệ và tụt hậu khó lòng cứu vãn được thì Dove mới được tận mắt chứng kiến sự tiếc nuối không thể nguôi ngoai của một nhà tình báo chiến lược kỳ cựu. Cụ cho biết, ngay trong lần đầu tiên mà TBT Lê Duẫn có mặt tại Sài Gòn vào 1975, thì cụ đã thay mặt các chiến hữu căn cứ trên yêu cầu rất nóng của các hãng hàng không quốc tế đã đề nghị TW đảng cho phép ưu tiên mọi nguồn lực nhằm khôi phục ngay lập tức hoạt động đầy đủ của sân bay Tân Sơn Nhất – một trong 3 trung tâm hàng không lớn nhất của ASEAN lúc bấy giờ. Mặc dù đã mang toàn bộ sinh mạng chính trị của mình ra đặt cọc nhưng đề xuất tâm huyết này đã bị đích thân cụ Lê Duẩn bác bỏ chỉ bằng chỉ thị mồm.”
    Thông tin này không có gì mới. Sau ngày 30/04/1975 phần lớn lãnh đạo TW cục Miền Nam như các ông Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt và Trần Văn Trà đều ủng hộ phương án dành cho Miền Nam một thời kỳ quá độ khoảng một vài năm phát triển theo qui chế riêng, duy trì một số hình thức kinh tế thị trường thời VNCH và các quan hệ giao thương sẵn có với các nước tư bản. Việc này phần lớn mọi người ở HN có quan tâm lúc đó đều biết.
    Đồng thời sẽ thực hiên việc “cải tạo“ dần dần xã hội và kinh tế Miền Nam rồi mới tiến hành thống nhất đất nước. Nhất thể hóa Miền Nam với Miền Bắc.
    Đề nghị này lúc đầu có vẻ được ông Lê Duẩn lắng nghe và đồng tình. Tuy nhiên, sau khi các Ủy viên Bộ chính trị chủ chốt ở Hà Nội lúc đó đi thăm Miền Nam và chứng kiến sự phát triển kinh tế vượt trội của Miền Nam thì đã không tán thành phương án này. Ông Lê Duẩn cũng thay đổi ý kiến và phương án đã hoàn toàn bị bác bỏ.
    Lý do là vì tất cả đều ngại “qui chế riêng” của Miền nam dù chỉ trong một giai đoạn sẽ dẫn đến tâm lý “địa phương chủ nghĩa” của các cán bộ lãnh đạo địa phương gốc Miền Nam (hay cả đời hoạt động ở Miền Nam như các ông Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ).
    Do đó việc thống nhất đất nước đã được gấp rút tiến hành nhanh hơn khá nhiều so với dự kiến ban đầu. Như chúng ta biết ngày 25 tháng 4 năm 1976, hai miền của Việt Nam được thống nhất thành một quốc gia có tên chính thức là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    Ông Lê Duẩn là người có niềm tin khá “máy móc” vào mô hình kinh tế Xô Viêt. Ông đã từng rất say sưa với mô hình Tổ hợp công nông nghiệp theo kiểu Liên Xô lấy cấp huyện là đơn vị cơ sở. Chúng ta đều biết ông Trương Kiện Bí thư tỉnh ủy Nghệ Tĩnh lúc đó đã “cầm đèn chạy trước ô tô” triển khai mô hình này làm khổ bà con Quỳnh Lưu thế nào.
    Những tham vọng không tưởng được cụ thể hóa trong các văn kiện Đại hôi Đảng như mục tiêu đuổi kịp Nhật, Pháp trong vòng thời hạn lịch sử 20-25 năm. Trong Chính phủ lúc đó thì GS Trần Đại Nghĩa là người bị thất sủng nặng nề vì đã tích cực phản biện mô hình Tổ hợp công nông nghiệp và những tham vọng không tưởng này.
    Có thể nói là gần cuối đời ông Lê Duẩn mới nhận ra khiếm khuyết cơ bản của mô hình kinh tế chỉ huy kế hoạch theo kiểu Liên Xô. Đó là mô hình này chỉ có thể thành công ở một nước giàu tài nguyên như Liên Xô. Và cũng chỉ thành công trong một giai đoạn.
    Năm 1985 vào khoảng một năm trước khi ông mất tôi đã chính thức được nghe một người trong gia đình ông Lê Duẩn chia xẻ là ông rất băn khoăn về tính hiệu quả của mô hình kinh tế Xô Viết khi nghiên cứu kinh tế Nhật Bản. Ông nói “Chúng ta phải xem lại tất cả vì nếu Nhật Bản là một nước XHCN thì đó sẽ là nước XHCN nghèo!”.
    Nhân chuyến ông NPT đi thăm Hoa Kỳ tôi xin bày tỏ sự mong mỏi rằng ông NPT sẽ không bỏ lỡ cơ hội. Hợp tác và liên minh chiến lược với Hoa Kỳ sẽ góp phần cho dất nước Việt Nam đi đúng tiến trình lịch sử. Dân tộc Việt Nam có điều kiện khắc phục sự lạc hậu hiện nay của mình.
    Chúc các bác HC mọi điều tốt đẹp.

    • Dove says:

      Dove ko phải là nhà lịch sử nên ko hề có ý định phát hiện ra điều gì mới cả. Chỉ là lưu ý đến một thông tin xác tín mà mình biết và chú trọng đến sân bay Tân Sơn Nhất, một vấn đề đang rất nóng

      TamHmong có quen một người nhà của cụ Lê Duẫn, Dove cũng có vinh dự như thế, thế nhưng ko phải nhờ người nhà của cụ Lê mà biết được nội dung chỉ thị mồm của cụ Lê Duẫn về sân bay TSN, đó là: khôi phục lại hoạt động quốc tế của TSN tức là tự mở đột phá khẩu cho bè lũ thực dân đế quốc do Mỹ cầm đầu quay lại xâm lược Miền Nam. Từng câu, từng chữ ko nhớ vì ko ghi lại.

      Các kênh thông tin tình báo VN đều độc lập với nhau. Cụ mà Dove kể là sĩ quan cấp đại tá (cuối đời là trung tướng) phụ trách anh ninh cho Hội nghị Paris và sau đó là phái đoàn quân sự hỗn hợp tại Camp David, sân bay TSN, cho nên cụ có thể nắm tình hình về hàng không, chứ thông tin về “bè lũ thực dân đế quốc do Mỹ cầm đầu” thì có thể cụ ko biết. Vì vậy, để đánh giá phân minh chỉ thị mồm của cụ Lê Duẩn thì cần bổ sung thêm những thông tin ko phải lúc nào cũng được bàn ở tổ dân phố hoặc do Huy Đức hay Trần Đĩnh ghi lại.

      Dove ko tán thành quan điểm cho rằng sau khi tham quan Miền Nam về, cụ Lê sợ Miền Nam phát triển hơn Miền Bắc nên đã bác bỏ đề xuất của Trung ương cục. Tuy vậy, Dove luôn luôn là tín đồ của quan điểm mà TamHmong đã đề cập rằng “Ông Lê Duẫn là người có niềm tin khá “máy móc” vào mô hình kinh tế Xô Viêt” bởi vậy thiển nghĩ cụ Lê đã tự diễn biến từ khá tin đến vững tin đến mức ko gì lay chuyển nổi rằng xây dựng MN theo mô hình Liên Xô thì sẽ tốt hơn.

      Một sự kiện có thực để minh chứng thêm, đó là vào cuối năm 1975, Dove được triệu về Hà Nội để lập quy hoạch phát triển khoa học biển. Đã được cụ Lê Khắc phổ biến rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng, đứng đầu là TBT Lê Duẫn vv… thì trong vòng 15 năm nữa VN sẽ là một nước có chế độ XHCN ưu việt và nền kinh tế phát triển tương đương một nước TB trung bình, cụ thể là Pháp vì vậy cứ căn cứ vào đó mà lập quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật.

      Nghe xong, Dove cho rằng đề bài quy hoạch quá dễ. Mượn cớ thu thập tài liệu, đi bát phố HN nửa ngày. Sau đó tạt vào Thư Viên Khoa học mượn cuốn sách đã đọc từ trước, trong đó có phần tổng quan với sơ đồ chi tiết về tổ chức khoa học biển của Pháp. Buổi tối về cứ thế mà làm, sáng ra bổ sung vào mục mở đầu phần “văn bia”: dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng, đứng đầu là TBT Lê Duẫn … đã có sẳn trong tài liệu được phát. Rồi kết luận là hoàn toàn khả thi. Xế chiều đến nộp, hóa ra sớm nhất nên bị cụ Khuê Phó Ban quy hoạch tóm lại căn vặn

      – Cậu đã xong rồi à?

      Thế nhưng sau khi xem sơ đồ tổng quan được sao lại bằng bút chì, có ghi chú bằng tiếng Pháp, và những thông tin chi tiết bằng chữ gà bới về số cán bộ, số viện nghiên cứu và hạm tàu khoa học vv.. thì cụ cười và bảo:

      – Xem qua thì khá ổn. Đưa giấy công tác tôi ký cho, nhớ lãnh đủ tiêu chuẩn bồi dưỡng rồi hãy về lại Hải Phòng.

      Sau này, khi cái nghiệp lập quy hoạch vận vào Dove và viết “văn bia” đã khá thành thạo thì mới dám khẳng định rằng vào thời khắc mà đất nước bước vào thời kỳ tái thiết hậu chiến thì TBT Lê Duẫn đã đặc cọc toàn bộ sinh mệnh chính trị của mình vào mô hình Liên Xô nên đã bác đề nghị thực tiễn của TW cục.

      Nhiều người cũng cho là ko thể sai được, trong đó có bọn Dove, cao hơn là cụ Khuê và chắc chắn là cả anh Hiệu. Còn cụ Trần Đại Nghĩa thì khác, cụ ở tầm cao hơn về mặt tư duy, nhưng về thực tiễn mà nói thì xa rời lắm, đi họp Chính phủ về toàn lên nhầm xe, may mà tất cả các tài xế đều thần tượng cụ nên tự dàn xếp ổn thỏa và điều đó đã trở thành huyền thoại.

      • HỒ THƠM1 says:

        Tui vẫn luôn luôn theo dõi những phát biểu linh tinh của Lão Đốp để uốn nắn giúp đỡ đấy, không phải bạ đâu nói đấy đâu 🙂

        Lão cứ lải nhải mãi về chuyện Sân bay TSN mí lại Long Thành, nóng với chả lạnh… Hú ba hồn chín vía lão đấy, nếu lúc đó cụ Lê quyết tái cơ cấu sân bay TSN và có Lão Đốp tham gia thì chắc gì lão còn khỏe để nhận cái sổ hưu mà chui Hang chém gió? Nhìn Đại tướng vĩ đại Cu Ủn xử lý Sân bay mà bớt bớt cái mồm đi này! 😯

        Còn chuyện cụ Trần Quang Cơ không nhận cái chức BT Ngoại giao của cụ Đ.M hứa “cho” trên Wiki cũng có đấy, không phải riêng Huy Đức hay Trần Đĩnh nói đâu mà phát biểu lung tung.
        Hình như lão và cũng nhiều người tin rằng vợ con của chính khách, chính trị gia nổi tiếng thì “ở gần” nên hiểu tất cả về cha, chồng của mình nên lời nói của họ rất đáng “tin cậy”, riêng tui thì không, nhiều lúc họ chẳng biết gì chính xác hoạt động chính trị xã hội của cha, chồng của mình cả. Họ chỉ nói theo hiểu biết lờ mờ và theo cảm tính tình cảm cha con vợ chồng là chính mà thôi, rất ít tính giá trị lịch sử, Lão Đốp nhớ lấy! Trường hợp cụ Duẩn cũng vậy!

      • huu quan says:

        em nhớ hinh như năm 1976, khi phát biểu tại miền Nam, cụ Duẩn đã bảo chỉ vài năm nữa nhà nhà sẽ có tivi tủ lạnh xe máy, đời sống nhân dân sẽ sung sướng. Rất tiếc sau khi cụ phát biểu một thời gian thì toàn dân ăn bo bo hay là độn mỳ (Sắn).

        • Dove says:

          Ko nhớ văn bản nào chính thức, nhưng tinh thần hồi đó thì VN chỉ cần 15 năm quá độ lên XHCN theo mô hình Liên Xô và đạt trình độ phát triển ngang nước Pháp. Đặt hy vọng khá nhiều về 3 tỷ USD bồi thường chiến tranh của Washington.

          Hồi đó thì tin. Nhưng bây giờ nghe cụ NPT luận về trăm năm quá độ thì thấy cũng oải.

        • trungle118 says:

          15 năm nhưng mà tính theo lịch nào vậy bá Dove ơi. lịch trần gian hay lịch thiên đình. vì hồi nhỏ em coi phim tề thiên hình như 1 ngày trên trời bằng 1 năm dưới đất hay sao ấy. 🙂

  9. TamHmong says:

    Chào các bác HC. Tôi cũng xin phép chia buồn cùng gia quyến ông Trần Quang Cơ và bà con HC nhân việc ông ra đi. Một nhà ngoại giao tài ba một nhân cách lớn trong chính giơi Việt Nam. Tôi tin rằng chúng ta sẽ luôn nhớ đến những cảnh báo tâm huyết của ông.
    Tôi xin phép nói đến sự ra đi của một tài năng, một nhân cách, một con người tâm huyết vĩ đại với đất nước khác.
    Vietnamnet 25/06/2015 bài viết của Tình Lê
    Yêu âm nhạc dân tộc thiết tha
    Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, người có nhiều năm gắn bó và được GS Trần Văn Khê hướng dẫn tận tình khi nghiên cứu, làm hồ sơ về âm nhạc vô cùng tiếc nuối trước sự ra đi của GS Trần Văn Khê.
    Nhạc sĩ tâm sự: “Sự mất đi của bác là một mất mát lớn lao đối với nền âm nhạc truyền thống của Việt Nam bởi bác có một tiếng nói quốc tế trong lĩnh vực âm nhạc này. Cho tới cách nay hơn 1 tháng, bác vẫn viết bài trên mạng, giới thiệu miệt mài âm nhạc truyền thống Việt Nam với bạn bè quốc tế. Bác giới thiệu một người ta tin một, bác giới thiệu hai người ta tin hai. Bác có tiếng nói trong trường quốc tế, bác mất đi là Việt Nam mất vị thế quốc tế. Tiếng nói của Việt Nam ra ngoài nước thiệt thòi, hụt hẫng. Có thể sẽ có những vị khác nhưng để được như GS Khê chắc phải nhiều năm nữa”.
    Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan chia sẻ rằng, GS Trần Vân Khê là người đầu tiên giới thiệu, giảng dạy âm nhạc truyền thống Việt Nam trên toàn thế giới. Đây là việc làm rất quan trọng và vì công việc mà GS đã có học trò khắp các nước.
    Chính những học trò này, GS Trần Văn Khê luôn hướng họ làm các đề tài liên quan tới âm nhạc truyền thống Việt Nam. Từ đó, học trò khắc các nước của GS dù có làm đề tài theo hướng của ông hay không thì ít nhiều cũng biết được âm nhạc truyền thống Việt Nam nó như thế nào. “Đó là tình yêu đất nước thiết tha thông qua việc yêu âm nhạc truyền thống”, nhạc sĩ Hoành Loan nhấn mạnh.
    GS Khê cũng là người giới thiệu âm nhạc Việt Nam trong các chương trình UNESCO và được đánh giá cao. Trong cuộc thi về băng đĩa, GS đã giới thiệu nhiều nghệ nhân như Quách Thị Hồ, Tống Văn Ngữ.
    Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhớ lại một lần mà ông phải bái phục GS Khê về lòng yêu thiết tha âm nhạc dân tộc. “Khi giới thiệu cho sinh viên Pháp về âm nhạc dân tộc, họ say sưa nghe không màng tới thời gian. GS thì nói liền mấy tiếng không ngừng nghỉ. Một con người hiểu âm nhạc Việt Nam tới sâu sắc như vậy quả là ít có ở Việt Nam”, nhạc sĩ Hoành Loan chia sẻ.
    Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan kể, đối với Viện Âm nhạc Việt Nam, GS Khê là người cộng tác, vừa là thầy, vừa là bạn, vừa là cha chú đối với Viện. GS toàn dùng tiền của mình giúp cho Viện từ máy ghi âm, thiết bị, hướng dẫn cán bộ nghiên cứu phương pháp điền dã. Điều này đã đóng vai trò quan trọng giúp viện đi đúng phương pháp sưu tầm của thế giới.
    Những năm 1980, phương pháp sưu tầm âm nhạc của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở sưu tầm giai điệu, nốt nhạc trong sinh thái văn hóa. GS đã dạy lớp nghiên cứu của Viện hiểu rằng, để có công trình nghiên cứu âm nhạc còn phải có một nhãn quan văn hóa, phải đặt trong một sinh cảnh văn hóa, không gian và thời gian lịch sử nhất định.
    Cùng với phương pháp điền dã, từ những năm 1990 lần nào ở Pháp về GS đều nói chuyện so sánh âm nhạc Việt nam với Thế giới để các cán bộ ở Viện nghe. GS nói nghiên cứu không thể thấu đáo được khi chỉ nghiên cứu trong nước mình mà không liên hệ với các nước trong khu vực. Chính điều này buộc các nhà nghiên cứu của Việt Nam phải mở rộng tầm nhìn, liên hệ quốc tế.
    Những năm 1990, GS Khê đang còn là ủy viên hội đồng UNESCO, hướng dẫn Việt Nam xây dựng hồ sơ di sản văn hóa. Di sản Nhã nhạc là loại hình đầu tiên được làm hồ sơ.
    Ca trù cũng vậy. Ca trù là nghệ thuật duy nhất của Việt Nam bị hắt hủi nhưng GS đã đánh giá và nói chuyện với vị lãnh đạo Việt Nam về giá trị văn học và âm nhạc. Năm 2005 nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá ca trù nhưng cuối cùng GS đã thuyết phục được nhà nước đồng ý làm hồ sơ di sản cho ca trù.
    “GS là người đầu tiên hướng cho chúng ta phương pháp xây dựng di sản kiệt tác là như thế nào”, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cho biết.
    Lần đầu tiên được GS Khê hướng dẫn làm hồ sơ xây dựng Ca trù, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan mới thực sự biết được thế nào là văn bản chuẩn quốc tế, chuẩn về kỹ thuật, nội dung, ngôn ngữ. GS sửa từng nội dung, sửa chỗ nào chỉ ra tại sao sửa. “Tôi lớn lên từ những điều tưởng như nhỏ nhặt đó”, nhạc sĩ Hoành Loan nhớ lại.
    Cũng chính lần đó, khi nói chuyện về nghệ thuật ca trù, trong lúc viện âm nhạc phân tích về cái hay, cái độc đáo của Ca trù, GS Khê đã thẳng thắn chỉ ra 2 cái hay nhất mà Viện thiếu vẫn chưa đưa ra được để thuyết phục nhiều người khó tính. “GS phân tích, cái độc đáo của ca trù là cái phách, tại sao phách ca trù lại có 3 lá. Phách 1, phách đôi để tạo ra 2 âm sắc khác nhau, đó mới là cái độc đáo, phát hiện tinh tế về âm nhạc.
    GS phát hiện thêm cho Viện cái độc đáo khác nữa của giọng hát ca trù ngoài cái mà Viện phát hiện trước đó là giọng hát ca trù dung giọng. Nhưng dung giọng chưa độc đáo, giọng hát ca trù độc đáo ở cách hát đổ hột. GS bảo, nghệ nhân Quách Thị Hồ có giọng hát đổ hột như tiếng ngọc rơi trên mâm bạc. Chính GS đã cung cấp cách nhìn vào chi tiết nghệ thuật, âm nhạc dân tộc của Việt Nam mà phương Tây chưa có.
    Một giáo sư bậc thầy
    Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan kể, thời gian làm việc với GS Khê, nhạc sĩ chưa từng thấy GS cáu gắt bao giờ. “Khi làm việc với GS để lập hồ sơ Đờn ca tài tử. GS là bậc thầy đứng cách tôi vời vợi. Trao đổi với GS mới thấy mình ngu ngọng nhưng GS chỉ nói là cái này chú chưa biết, GS hướng dẫn tận tình, không cáu gắt, đặc biệt là không bao giờ hỏi đến tiền. Tôi không biết GS có bao nhiêu tiền, nhiều đến cỡ nào nhưng làm việc hăng say từ 2h đến 6h30 chiều, chỉ bảo tường tận mà chưa bao giờ đòi tôi một đồng thù lao nào cả”, nhạc sĩ Hoành Loan nhấn mạnh.
    Mặc dù GS không ưng với Bộ VHTT&DL giao cho Viện âm nhạc làm hồ sơ Đờn ca tài tử bởi GS muốn Nam bộ làm hơn, vì chỉ có Nam bộ mới làm tốt hơn tất cả các vùng miền khác về Đờn ca tài tử. Nhưng dù không ưng lắm, như nhiều người khác giận dỗi, nhưng GS vẫn tận tình chỉ bảo. Kể cả khi xong rồi, GS vẫn nói rằng giao cho Nam bộ vẫn tốt hơn nhưng vẫn không hề ‘ấm ức’.
    “Như vậy cho thấy GS Khê trân trọng ngay cả với những quy định pháp luật mặc dù lúc đó, GS có thể yêu cầu đưa cho Nam Bộ làm”, nhạc sĩ Hoành Loan nhấn mạnh.
    Nhạc sĩ Hoành Loan bảo, cũng có một thời gian GS làm việc ở Việt Nam bị nhiều hiểu nhầm. Người ta xôn xao GS về nước lấy tư liệu đem bán thế giới để thu về lợi cá nhân, làm chảy máu âm nhạc dân tộc dù đó chính là giai đoạn GS giới thiệu âm nhạc Việt Nam ra thế giới nhiều. GS đã nhận biết bao nhiêu tai tiếng nhưng ông không giận, chỉ nói rằng người ta chưa hiểu mình, rồi sẽ hiểu.
    “Đúng là người làm khoa học, không bực tức với câu chuyện xung quanh, bỏ qua tất cả chỉ tập trung vào chuyên môn của mình. Tôi khẳng định cả đời GS không có chuyện buôn bán tài liệu. Chỉ một lòng giới thiệu âm nhạc việt nam ra thế giới. GS toàn đi đi về về bằng tiền của mình để giới thiệu âm nhạc Việt Nam thôi”, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan tâm sự.
    “GS Khê cũng có cách hành xử với âm nhạc dân tộc rất mở, tinh tế”, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cho biết.
    Ông kể, có lần khi nói chuyện về dân ca Việt Nam, GS bảo nhạc sĩ tổ chức chương trình để một số nghệ nhân có thể ca hát, giới thiệu âm nhạc truyền thống. Nhưng lúc đó nhạc sĩ Hoành Loan nói quan họ cổ thì không còn, chỉ có quan họ người ta đệm đàn để hát. GS Khê nói: “Ngày nay người ta đã hát có đàn, cứ tổ chức hát có đàn, chứ không phải là nhất nhất cổ”.
    “Điều này cho thấy cái hành xử với âm nhạc truyền thống, không cứ phải đẩy nó vào cổ sơ. Gợi mở cách ngẫu hững, không thể ép người ta chỉ hát những bài cũ. Quan điểm của GS rất gợi mở. Đúng là cách nhìn của GS bậc thầy”, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.
    Và đây là nhận xét về sụ nghiệp ngoại giao văn hóa của GS Trần Văn Khê. GS Trần Văn Khê quê gốc tại Tiền Giang, là cây đại thụ trong giới học thuật liên quan đến âm nhạc và nhiều lĩnh vực khác tại Việt Nam và thế giới. Bà Tôn Nữ Thị Ninh, một nhà ngoại giao giỏi của đất nước cũng ngưỡng vọng giáo sư như một hình tượng ngoại giao xuất sắc: “Thầy có thể tự hào đã để lại cho đất nước và các thế hệ người Việt trong và ngoài nước một di sản văn hóa và tinh thần hết sức đặc sắc và quý báu. Thầy đã đưa nhạc dân tộc Việt Nam ra thế giới bằng sự uyên bác và tài ba của mình, giành được sự kính trọng và mến mộ của bạn bè quốc tế”.

    • TKO says:

      @ Chào bác TamHmong:

      Giáo sư Trần Văn Khê ngâm đọc bài thơ Nhớ Rừng của nhà thơ Thế Lữ.

      Bà Quách Thị Hồ ngâm đọc bài thơ Cảm Thu của nhà thơ Tản Đà.
      “GS Khê bảo, nghệ nhân Quách Thị Hồ có giọng hát đổ hột như tiếng ngọc rơi trên mâm bạc”.

    • Trần says:

      @ Bác THM:
      Biết bác dễ dàng tiếp nhận các ý kiến đa chiều nên xin recom. Tôi rất tán thành và cảm ơn những gì bác ca ngợi về nhân cách, tài năng và tâm huyết của GS Trần Văn Khê, người mà rất nhiều người Việt đã biết và ngưỡng mộ từ bao lâu nay.
      .
      Chỉ xin thế này. Chuyện chính. Tôi không nghĩ bà TNTNinh là “nhà ngoại giao giỏi của đất nước” như bác nói. Tôi nhớ chắc cách nay khoảng mươi năm bà này lúc đó là Đại sứ VN tại Liên hiệp châu Âu EU. Khi bị chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền ở VN trong buổi họp báo tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ hồi tháng 10 năm 2004, bà này nói rằng: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”. Về mặt ngoại giao không ai nói vậy. vả lại như thế là rất hỗn hào với người Việt. Câu này bị “bia miệng” cả trong ngoài ngạch, cả hai lề. Bà này (tiếng Pháp) giống ông Vũ Khoan (tiếng Nga), từ thông dịch viên mà lên thôi, chứ không phải có căn bản học hành ngoại giao chính thống gì. Thiệt tình sau vụ đó, tôi khó chịu coi thường bà này.

      Chuyện nhỏ: ‘đại thụ’, từ Hán Việt, là cây lớn, tránh viết ‘cây đại thụ’.

      Dẫu sao, có gì ‘quá đà’ về bả, mong bác cảm thông. Kính.

      • TM says:

        Tôi xin bổ xung một ít thông tin về cô Tôn Nữ thị Ninh, vì cô là cựu giáo sư của tôi tại miền Nam.

        Cô thuộc giòng dõi quyền quí (hoàng tộc) và theo học chương trình Pháp từ bé, sau sang học đại học Sorbonne tại Paris. Cô tốt nghiệp bằng văn chương tiếng Anh, nên cả tiếng Anh & tiếng Pháp đều lưu loát xuất sắc hơn người.

        Sau khi tốt nghiệp cô về giảng dạy tại ĐH Văn Khoa và sư phạm tại SGN. Lúc ấy cô như bọn “hippi yé yé”, ăn mặc theo mốt mới nhất tại Paris, tức là “không giống ai” tại SGN lúc đó, mặc dù SGN ngày xưa cũng theo sát thời trang thế giới. Tuy nhiên, khi cô mở miệng giảng bài thì cả lớp im phăng phắc, không ai không phục khả năng ngôn ngữ và kiến thức uyên bác của cô.

        Sau 1975 chính quyền mới hân hạnh được cô làm thông dịch cho những buổi tiếp xúc với phái đoàn nước ngoài, là một vinh dự đáng kể, vì tài năng của cô hơn hẳn bậc thông dịch. Về phần cô, có lẽ cô cũng có tham vọng chính trị chứ không muốn làm “cô giáo làng”, ẩn dật trong giới học thuật tại SGN. Cô kết hôn với một người chồng từ miền Bắc một cách chớp nhoáng, hình như chẳng quen biết được bao lâu, rồi từ đó bước hẳn sang lĩnh vực ngoại giao. Bác nào có xem những video lúc cô đối đáp bằng tiếng nước ngoài thì cũng phải công nhận tiếng Anh, tiếng Pháp của cô rất ngọt ngào quí phái, ngày nay vẫn không ai sánh kịp.

        Tầm là như vậy, nhưng tâm là một chuyện khác. Học trò miền Nam sửng sốt khi cô “trở cờ” chớp nhoáng vào tháng tư 75, và có những phát biểu “plus royal que le roi – bảo hoàng hơn vua, hay nói cách khác là “hồng” hơn cả cán bộ nòng cốt”. Đến khi cô phát biểu rằng VN có những đứa con ngỗ nghịch cần phải dạy bảo” thì bao tình cảm quí mến của trò đối với thầy trong tôi hoàn toàn tan biến.

      • TamHmong says:

        Chào bác Trần và chị TM. Cám ơn hai bác thông tin về bà Tôn Nữ Thị Ninh. Tôi không biết nhiều về bà TNTN. Ấn tượng của bà đối với tôi trước hết khả năng ngọai ngữ tuyệt vời và phong cách quí phái hiếm có (ngay cả đối với thành viên hoàng tộc) .
        Khả năng ứng xử và diễn đạt tiếng Việt của bà cũng rất tốt. Tóm lại là một “của hiếm” trong hàng ngũ ngoại giao VN hiện nay,
        Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với cán bộ ngoại giao VN trong công viêc cũng như trong cuộc sống. 90% những người mà tối có dịp tiếp xúc không có vẻ gì là liên quan đến chữ ELITE. Trong khi chử này gắn chặt với cán bộ ngoại giao hầu hết các nước mà tôi có dịp biết. Thật là buồn.
        Có lẽ đó chình là điều làm tôi có thể hiểu sai về bà TNTN. Cám ơn hai bác.
        Một lần nữa xin bày tỏ sự kính trọng với ông Trần Quang Cơ. Kính mong linh hồn ông sớm được siêu thoát.

        • Trần says:

          Lời còm của chị TM xác đáng. Tôi rất thích câu trả lời của ông tướng Colin Powell, từng làm bộ trưởng ngoại giao thời Bush con khi trả lời câu hỏi của phóng viên TQ ở Bắc Kinh, “có phải ông định sang đây để dạy người TQ về nhân quyền”. Ông nói: ” Thế giới luôn cọ xát, nước Mỹ cũng vậy nên một người da mầu như tôi giờ đây mới có thể đứng đây để nói chuyện với các bạn”. Thật tài tình, tế nhị về mặt ngoại giao. Câu nói của bà TNTN hoàn toàn không thể hiện ngôn từ “ngoại giao chuyên nghiệp”, cho nên dù cũng đã biết bà người dòng dõi và rất giỏi ngoại ngữ nhưng vẫn chỉ là từ thông dịch viên mà lên.
          Nước mình trong mặt nào đó hay có tâm lý “sợ” người có nhiều ngoại ngữ, nhưng có những người ít ngoại ngữ nhưng trình độ lý luận vẫn “ghê”. Ông đại tướng NC Thanh bên thắng cuộc được biết còn hùng biện hơn một ông đại tướng khác nhiều ngoại ngữ, đó là thực tế tôi được biết.

      • TamHmong says:

        @Bác Trần. Nhân câu chuyện bàn về các nhà ngoại giao. Tôi cũng xin nêu thêm một quan sát. GS Trần Văn Khê là một người sử dụng tiếng Vệt tuyệt vời. Hình như đối với ông việc biết nhiều ngoại ngữ chỉ làm ông giỏi tiếng Việt hơn. Khác hẳn với rất nhiều nhà khoa bảng hiện nay ở VN.
        Chúng ta có thể thấy điều này ngay trong HC, Có thể lấy thí dụ ngay từ tôi và nhiều người khác mà chúng ta đều biết
        90% các nhà ngoại giao VN mà tôi có dịp tiếp xúc tiếng Việt nói chung là không chuẩn. Cả về ngữ pháp, từ vựng, phát âm và cách diến đạt, Không lẽ họ biểu hiện tốt hơn khi giao dịch bằng ngoại ngữ? Kính bác.

      • chả nhớ says:

        vâng, chính xác là bà này-nghe giọng cứ như bố tướng, nhưng kg nên phủ nhận hết những người làm ‘tay ngang’

  10. huu quan says:

    tuy lạc đề nhưng cho em còm một chút. Mấy ngày nay em đang lu bu đám tang GS- TS Trần Văn Khê, một tên tuổi với nhân cách lớn mà em rất quý trọng. Ít người trong đám tang của mình mà lại nhận được nhiều tình cảm như cụ Khê. Tuy nhiên có một chút áy náy, cả Tổng Lú, cả 3 X đều giủ vòng hoa chia buồn, đích thân Tư sang tới viếng. Nhưng riêng tỉnh Bạc Liêu (Quê hương của đờn ca tài tủ, nơi nhờ có công rất lớn của cụ Khê thì đờn ca tài tử mới được UNISEP, mói có cơ hội moi ngân sách ra cả trăm tỷ để tổ chức Lễ hội vinh danh Đờn ca tài tử và kiếm ăn) lại không có nổi một đoàn tới viếng. Hỏi một lãnh đoạ bạc Liêu thì nghe rằng: “Ddang chủan bị nhân sự cho địa hội nên không thể đi được.”- Bó tay.
    Hôm nay lại nghe tin 2 nhạc sỹ tên tuổi khác là Phan Huỳnh Điểu, Phan Nhân cùng vừa qua đời. Chỉ biết buồn. Không biết có điềm gì không mà nhạc sỹ lớn lũ lượt ra đi?

  11. Dove says:

    Tên lửa Falcon 9 đưa tàu tiếp vận Dragon đén trạm không gian quốc tế ISS đã bị nổ tung. Trước đó tàu tiệp vận ISS cũng có chung số phận. Hiện tại trạm không gian vẫn tạm đủ các nguồn lực cần thiết để duy trì hoạt động bình thường của trạm và sự sống của các nhà du hành.

    Video toàn cảnh, nguồn NASA.

    Mọi hy vong chỉ còn trông chờ vào Nga. Ông D. Rogozin Phó của ông V. Putin đã tuyên bố: Không gian không có chỗ cho các trò chính trị. Và đó là một cam kết đáng tin cậy.

    • Dove says:

      Đính chính: tàu tiếp vận progress của Nga cũng có chung số phận.

      • lethuy says:

        Bác nên đính chính cả dòng “Mọi hy vong chỉ còn trông chờ vào Nga. Ông D. Rogozin Phó của ông V. Putin đã tuyên bố: Không gian không có chỗ cho các trò chính trị. Và đó là một cam kết đáng tin cậy.”

        • Dove says:

          Trong vài tháng tới Mỹ ko còn bất cứ nguồn lực nào để phóng thêm một con tàu nào nữa. Có thể thuê TQ, nhưng chưa ai tính đến phương án này cả.

          Chẳng nhẽ vì thế mà đính chính à?

  12. CD@3n says:

    – cập nhật :

    “Năm 2001 ông cho ra cuốn hồi ký mang tựa đề ‘Hồi ức và Suy nghĩ‘ gây tiếng vang vì đụng chạm tới những vấn đề vẫn được giữ kín về chính trị nội bộ và quan hệ với các nước lớn trong đó có Trung Quốc.

    Đánh giá về ông, cựu đại sứ Nguyễn Ngọc Trường nói: ” Ông Cơ là một nhà ngoại giao lão luyện, có tầm nhìn chiến lược”.

    “Ông có chính kiến, độc lập, đặc biệt là không tán thành cách tiếp cận cơ hội với Trung Quốc như một số nhân vật cấp cao thời bấy giờ.”

    Sau khi từ chối chức Bộ trưởng Ngoại giao năm 1991 vì cho rằng không thể làm việc khi một số nhân vật cao cấp trong dàn lãnh đạo Việt Nam lúc đó quá ngả về phía Trung Quốc, cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Trần Quang Cơ cũng tự xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN.

    Theo ông Nguyễn Ngọc Trường, “có thể xem ông Cơ như một nhà nho hiện đại, biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng nhưng có lẽ không biết biến…”

    “Các phẩm chất ấy không phải ai cũng có. Đó là nhân cách lớn của Trần Quang Cơ.”

    Trong cuộc phỏng vấn với BBC nhân dịp 30 năm cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, ông Trần Quang Cơ đã bình luận rằng căn nguyên (của cuộc chiến Việt – Trung) là xung quanh vấn đề quyền lợi nước lớn, liên quan tới vấn đề Đông Dương.

    Ông nói: “Các nước lớn họ có tính toán của riêng họ, nhưng tình hình quan hệ chiến lược giữa ba nước lớn bất lợi cho Việt Nam”.

    “Tôi thấy điều mình có thể làm khác, là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ.”

    Thời kỳ vô cùng khó khăn của ngoại giao Việt Nam này đã được phản ánh trong cuốn hồi ký Trần Quang Cơ, với những chi tiết như về Hội nghị Thành Đô 1990 cho thấy “các giới hạn của môt thời kỳ lịch sử, cái khó của đất nước đứng cạnh Trung Quốc và chịu sức ép của Trung Quốc”, ( nguổn : BBC).
    ———————————–
    – lễ tang ô. Trần Quang Cơ se diễn ra sáng 01/7/2015 tại nhà tang lễ quốc gia, xin thăp một nén nhang, cẩu chúc linh hổn ô. siêu thoát, phù hộ cho con cháu và vận nước ở lại, thành tâm chia sẻ với nỗi đau và mất mát không gì bù đắp được của gia đình.

    • Vũ Bình Giang says:

      Tôi cám ơn ông Trần Quang Cơ, đã có trách nhiệm, nói ra sự thật, để thế hệ sau hiểu rõ.

      Về trách nhiệm, ông hơn rất nhiều các vị, nhân vật lịch sử: Lê Đức Thọ, Ng Cơ Thạch, Võ Nguyên Giáp, Ng văn Thiệu, Dương văn Minh, Trần Xuân Bách, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt…, những người biết rõ các sự kiện trong quá khứ, mà đã không dám viết ra!

      • Mười tạ says:

        Viết hay ko viết là nhu cầu tự than của mỗi cá nhan thôi, chứ ko phải dám hay ko dám 🙂

      • huu quan says:

        Trần Xuân Bách thì không viết nhưng ông lại dám làm, dám nói

        • Vũ Bình Giang says:

          Trần xuân Bách, tư lệnh dân sự ở Cam pu chia, chừng ít nhất 6 năm (2 nhiệm kỳ), ông biết rất nhiều, bao nhiêu lính chết, các lãnh tụ của đảng cách mạng CPC là ai, đã từng ở VN, ở đâu ra, …, nhưng ông không nói và viết ra. (Lê Đức Anh là tổng tư lệnh và phụ trách quân đội, trùm trên cả là Lê Đức Thọ)

        • Hiệu Minh says:

          Hồi đó các cụ chưa biết hang Cua, nếu biết thế nào cũng viết 🙂

  13. CD@3n says:

    – mời xem, đê thấy trên thực tế, bạn “vàng” đã không từ bất kỳ cách hành xử cực kỳ “trơ tráo, đê tiên, đểu cáng…” đê từng bước, gậm nhấm và lấn chiếm biển đảo VN :

    ” Trung Quốc (TQ) bắt ngư dân Việt Nam rồi bắt họ ký công nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền TQ, một hành động khiến cho cả thế giới coi thường.

    Chẳng lẽ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa của TQ được xác lập do chữ ký của một vài ngư dân? Chẳng lẽ chữ ký của những người bị bắt giữ, bị ép buộc bằng vũ lực lại có giá trị?

    TQ đã coi thường cộng đồng quốc tế và coi thường chính quốc gia của họ.

    TQ đã coi thường cộng đồng quốc tế từ lâu khi họ thực hiện các bước xâm chiếm trên Biển Đông. Mới đây, TQ tuyên bố hoàn thành việc cải tạo các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của VN và cho rằng sẽ tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng trong những ngày tới. Đã đi xâm chiếm lãnh thổ của nước khác, nhưng theo lời Ngoại trưởng TQ Vương Nghị, thì họ là nạn nhân lớn nhất bị xâm lấn chủ quyền, nếu ngừng khẳng định chủ quyền trên biển đảo Trường Sa sẽ làm cho họ “xấu hổ trước tiền nhân” và không dám đối mặt với hậu thế.

    Với TQ, khẳng định không có nghĩa là lên tiếng, mà thực hiện bằng hành động xâm chiếm. Cho nên, nói như ông Vương Nghị, không ngừng khẳng định chính là không ngừng các hành động xâm chiếm.

    Hành động đó là, TQ tổ chức bắn đạn thật trên Biển Đông, bắt giữ ngư dân VN, nói thẳng ý đồ của họ trên Biển Đông khi công khai việc chuẩn bị quân sự hóa cho hơn 170.000 tàu dân sự để phục vụ cho chiến tranh.

    Và nóng nhất, TQ đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào hoạt động tại vùng chồng lấn ở cửa vịnh Bắc Bộ – nơi VN và TQ đang đàm phán để phân định ranh giới. Hành động này cho thấy TQ bất chấp luật quốc tế và các cam kết với láng giềng. Giàn khoan 981 sẽ còn những bước đi nguy hiểm khó có thể lường trước được.

    Bắt ngư dân ký công nhận chủ quyền của TQ đối với Hoàng Sa không làm nên chủ quyền thực sự. TQ có đổ hàng triệu tấn cát lên Biển Đông để làm căn cứ quân sự cũng không xác lập được chủ quyền. Họ biết điều đó, nhưng họ vẫn làm, vì họ đang thực hiện chủ nghĩa bành trướng, dùng sức mạnh nước lớn để tạo ra hiện trạng mới.

    TS Zachary Abuza (Mỹ) – chuyên gia chính trị và an ninh khu vực Đông Nam Á – nhận định: “Điều gì sẽ xảy ra nếu TQ tiếp tục lấn tới, kiểm soát Trường Sa và chặn đường viện trợ của VN ra các đảo nhỏ ngoài quần đảo này? Đó là viễn cảnh cực kỳ nghiêm trọng”.

    Thực ra đó là cận cảnh, không phải là viễn cảnh.

    TQ không phải ép buộc ngư dân, mà ép buộc cộng đồng quốc tế phải công nhận sự áp đặt của họ lên Biển Đông theo hiện trạng mới, cho đến khi đạt mục tiêu độc chiếm Biển Đông.” ( nguồn : LĐO).
    ———————————-
    – thảm họa và thảm cảnh, sau “mật ước Thành đô”…wait n see !

  14. CD@3n says:

    – nhân ngày ô.Trấn Quang Cơ đi xa, xin mời cùng đọc lại trích đoạn bài viết của cụ Nguyễn Trung, nguyên ĐS VN tại Thái lan, tức là cũng thuộc loại “nguyên” trung thần với ĐCS và NN :

    “Chẳng lẽ đốn đời đến mức phải nói lời cảm ơn với cái giàn khoan HD 981 hả trời đất!? Tôi cảm thấy xấu hổ trong lòng về ý nghĩ này, và quả thực trong bụng có lúc tôi đã nghĩ như vậy!
    Sự thật là không ít các bạn đồng niên của tôi cũng có cách nghĩ như thế trước một thực tế đau lòng: Hàng chục năm nay, chí ít là từ khi anh Trần Quang Cơ trong cuốn Hồi ức và suy nghĩ (2001) của mình đã giấy trắng mực đen cảnh báo rành rành trước cả nước về mối họa Thành Đô. Nhưng tất cả cứ như nước đổ đầu vịt! Các lời cảnh báo khác qua mấy khóa đại hội đảng cũng thế…
    Thậm chí mãi cho đến ngày 02-05-2014 trở về trước, nghĩa là cho đến khi cái giàn khoan HD 981 cắm sâu vào vùng biển của ta, hễ cứ ai mở miệng phê phán Trung Quốc ăn hiếp nước ta nhiều chuyện, hay biểu tình lên tiếng đòi “NO U” (nói Không với đường lưỡi bò!).., là lập tức bị gán cho cái tội phá đại cục quan hệ Việt Nam – Trung Quốc để lật đổ chế độ!.. Đã có những bắt bớ và tù đầy nhằm đàn áp những chuyện này. Thậm chí ngay cái tên gọi Trung Quốc trong không biết bao nhiêu hành động phải gọi là tội ác ức hiếp nước ta dù là trên bộ hay dưới biển, phía ta cũng phải lờ đi, ngậm bồ hòn làm ngọt, hoặc vì vì lý do nào đấy nếu buộc phải nhắc đến thì cũng phải gọi trẹo đi là tầu lạ, kẻ lạ…
    Nhưng đúng là từ sau cái ngày 02-05-2014 câu chuyện đã bắt đầu khác. Vâng, mới chỉ bắt đầu khác thôi.
    Bây giờ mà có ai cả gan công khai bảo vệ 4 tốt và 16 chữ, chắc chắn sẽ được cả nước ném đá khỏi phải đem đi chôn luôn!
    Dù sao, toàn bộ câu chuyện nói trên mới chỉ là chuyện nổ bùng của tình cảm – một tình cảm bị quyền lực và tủi nhục lâu nay đè nén đến ê chề, nhìn đất nước hàng ngày oằn lên dưới sự lũng đoạn mọi mặt của Trung Quốc mà không làm gì được! Nói đúng hơn là: Không được làm gì!
    Bây giờ xin cùng nhau giữ cái đầu lạnh một chút, giữ trái tim ấm một chút với đất nước, để cả nước cùng nhau nhìn nhận lại tất cả.
    Khi được tin báo về nước là hội nghị Thành Đô đã kết thúc, bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thốt lên: Một thời Bắc thuộc lần thứ hai bắt đầu!
    Câu chuyện giàn khoan HD 981 hôm nay bắt đầu từ đấy.
    Thỏa thuận Thành Đô 1990 ra đời trong hoàn cảnh (1) Việt Nam đã thấm đòn cuộc chiến tranh 17-02-1979 của Trung Quốc (chỉ thực sự kết thúc 1989) và chiến tranh Campuchia (do Trung Quốc cài dựng lên để lừa ta vào), (2) Trung Quốc vừa mới đánh chiếm 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa năm 1988, và (3) hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa (các nước Liên Xô – Đông Âu cũ) bắt đầu sụp đổ từ 1989. Nỗi lo sự sụp đổ này có thể xóa mất chế độ chính trị ở nước ta là một trong những tác nhân quyết định dẫn tới bước đi nói trên của lãnh đạo phía Việt Nam hồi ấy, chưa kể đến những nguyên nhân khác cá nhân.
    Tìm kiếm liên minh ý thức hệ ở Thành Đô trong bối cảnh như vậy chính là tìm kiếm liên minh với kẻ vừa mới thẳng tay làm thịt mình mấy trận liền. (Xin đừng quên: Trung Quốc lúc ấy còn kênh kiệu: Nếu Việt Nam có chịu đến Thành Đô thì cũng chỉ có liên minh thôi, chứ không thể có đồng minh, chỉ là đồng chí chứ không thể là đồng minh!..)
    Không thể nói lãnh đạo phía Việt Nam thời ấy không đếm xỉa đến thực trạng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc như đã nêu trong Sách Trắng 1979[1]. Nhưng quyết định Thành Đô là sự lựa chọn của lãnh đạo phía Việt Nam vào thời điểm và hoàn cảnh lịch sử của thế giới cũng như của chính nước ta lúc bấy giờ, với niềm tin sẽ phục hồi lại được quan hệ hữu nghị giữa hai nước, sẽ có hòa bình, và tạo ra được liên minh ý thức hệ, để từ đó có thể bảo vệ chế độ và giữ nước. Những điều cốt lõi này tạo nên quyết định lựa chọn liên mình ý thức hệ.
    Hơn nữa, hệ thống thế giới XHCN không còn nữa, Việt Nam phải đi với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa xã hội – rất nhiều lần lãnh đạo đã giảng giải như vậy trong nội bộ và trong nhân dân.
    Chặng đường một phần tư thế kỷ từ Thành Đô đến giàn khoan HD 981, là chặng đường Việt Nam nhận được một nền hòa bình phải trả giá đắt bằng nhiều nhân nhượng hoặc thua thiệt đau lòng – trong những vấn đề biên giới trên bộ và trên biển, trong quan hệ kinh tế, trong nhiều vấn đề chính trị khác, và lòng tự trọng dân tộc bị tổn thương nặng nề…
    Trong những năm gần đây đã có nhiều học giả và cơ quan nghiên cứu trong nước trong nước đưa ra nhiều dữ liệu, sự kiện và những lý lẽ xác đáng cho thấy kinh tế nước ta lệ thuộc nghiêm trọng và trên thực tế gần như trở thành một nền kinh tế phụ trợ cho Trung Quốc: Cung cấp như vơ vét mọi tài nguyên khoáng sản ta có cho Trung Quốc; xuất siêu của ta sang thị trường toàn thế giới không đủ bù nhập siêu của ta từ Trung Quốc; Việt Nam trở thành một thị trường lý tưởng tiêu thụ hàng hóa rẻ, độc hại và chất lượng xấu của Trung Quốc; trong hơn một thập kỷ nay khoảng 2/3 công trình kinh tế lớn xây mới trong cả nước rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc với chất lượng công nghệ thấp, đắt, ô nhiễm môi trường nặng nề, bóp chết khả năng nội địa hóa của nước ta…
    Thực tế một phần tư thế kỷ vừa qua cũng cho thấy nội tình đất nước bị quyền lực mềm Trung Quốc lũng đoạn và chia rẽ ngày càng trầm trọng, con đường phát triển của đất nước bị kìm hãm, nhiều cơ hội phát triển của đất nước bị cướp mất, chịu nhẫn nhục ngậm bồ hòn làm ngọt nhiều thứ… Liên minh ý thức hệ dù mang tên 4 tốt và 16 chữ không thể ngăn cản biết bao nhiêu việc làm sai trái năm này qua năm khác của Trung Quốc trên Biển Đông. Về toàn cục, nước ta chỉ gặt hái được một thực tế: ta càng nhân nhượng Trung Quốc càng lấn tới. Và hôm nay nước ta lâm vào tình trạng bị cô lập trước nguy cơ bị lấn chiếm tiếp, bị bao vây và xâm lược từ phía Trung Quốc chưa từng có kể từ 30-04-1975.
    Nỗi đau còn nhức nhối hơn ở chỗ Trung Quốc đã làm được như vậy đối với nước ta giữa lúc nước ta đã hội nhập toàn diện vào quá trình toàn cầu hóa, sản phẩm của Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các thị trường quan trọng trên thế giới, hầu hết các quốc gia quan trọng trên thế giới là đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện của nước ta. Nói cách khác: Lợi dụng cái liên minh ý thức hệ này, quyền lực mềm Trung Quốc đã thành công trong việc vô hiệu hóa đáng kể những nỗ lực hội nhập quốc tế của Việt Nam để vươn ra bên ngoài, đã giam hãm thành công Việt Nam trong vòng kiềm tỏa của Trung Quốc mà đến hôm nay Việt Nam vẫn chưa có cách gì thoát ra. “
    (….)
    “Nhìn lại 25 năm qua từ Thành Đô, như đã nói ngay ở trên, liên minh ý thức hệ tìm kiếm ở Thành Đô thực chất là do ảo tưởng hay do lo sợ, nên trên thực tế là đã đi tìm kiếm liên minh với kẻ vừa mới làm thịt nước mình liên tiếp mấy trận liền. Chính vì thế trong ¼ thế kỷ tiếp theo của liên minh này nước ta bị ăn thịt tiếp nhiều lần là điều tất yếu, làm sao tránh được? Sự thật này còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy. Bởi vì Thục Dương Vương, giữ hòa hiếu trong tư thế một quốc gia độc lập, Người thua chẳng qua chỉ vỉ mất cảnh giác mà thôi. Còn ở Thành Đô, ĐCSVN tự nguyện ép mình đi hẳn với liên minh mà vẫn thua mất cả chì lẫn chài. Thỏa thuận hòa hiếu cấp cao giữa hai nước mới đây nhất là năm 2011 cũng chỉ là một mớ giấy và chữ, không thể cản nổi cái giàn khoan HD 981. Nó còn cay đắng hơn muôn phần ở chỗ cuối cùng thì Thục An Dương Vương cũng nhận ra được kẻ thù làm mình mất nước là ai. Còn nước ta hôm nay?
    Còn hôm nay, ĐCSVN và những người đứng trong hệ thống chính trị của đất nước liệu đã nhận dạng được kẻ đã nhiều lần ăn thịt mình và bây giờ đang lăm le ăn thịt mình tiếp hay chưa? Trả lời câu hỏi này tùy thuộc ĐCSVN lúc này và trong quá trình chuẩn bị cho đại hội XII có đặt ra hay không đặt ra vấn đề cứu nước như đã trình bầy trong bài viết này hay không./.”
    (Nguyễn Trung
    Hà Nội, ngày 05-07-2014)
    ———————————————————-
    – bài viết khá dải, bạn nào cần đọc toàn bộ , thì cứ hỏi cụ Gúc-Gồ là xong ( Nguyễn Trung- còn hơn cả mị châu-trọng thủy).
    – dàn khoan HD-891 lại đang hiên diên trên vùng biền chống lấn khu vực HS, bọn bành trướng đã tinh từ lâu, rất kỹ, rất chi tiết…tất cả mọi chuyện. Nếu chuyến đi này của TBT NPT không là “biểu tượng”, mà mang đến cú “lật cánh” ngoạn mục ( sic ! có bị nằm mơ không?), thì ô. chắc chắn sẽ được kính trọng và ủng hộ. Và điều này cần phải nói, sự “lật cánh” đến từ một con người có học hành, tri thức, và đời tư “trong sạch- như ô.giáo làng” sẽ khác rất xa, với sự “lèo lá- mánh mung- thủ đoạn” của nhiểu kẻ ít học, “môi mỏng- lưỡi dài”…ngưởi dân bây giờ tinh lắm, ngay từ bà bán nước trà, cafe vỉa hè, cho đến ô. xe ôm hay a, lái tac-xi trẻ măng…!

    • CD@3n says:

      sorry, HD 981, thay cho 891, kiểm điểm nghiêm túc thằng gõ key “đúng qui trính- mà vẫn sai” !

  15. Ngocoanh says:

    TS Phạm Duy Nghĩa: “Nếu chúng ta nói rõ cái gì của ai thì đất nước đã khác”

    (TBKTSG Online) – Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa đã có bài thảo luận về quyền sở hữu tại một hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức vào ngày 25-6. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online lược ghi.

    Điều gì đã cản trở Việt Nam trong 20 năm vừa rồi không thể phát triển? Thực ra, trong 30 năm vừa rồi, mình cải cách nửa chừng, giúp đất nước phát triển, nhưng cũng làm đất nước vướng nhiều cái do mình làm không đến nơi đến chốn….

    Nền kinh tế tư nhân chia thành hai loại. Một loại giàu lên rất nhanh. Ngay như điểm tin sáng nay cũng thấy, có đại gia ôm hàng trăm tỉ tiền mặt vào Phú Quốc mua đất. Sự giàu có của một bộ phận tư nhân gắn bó với sân sau, với những người có quyền phân chia đất. Như vậy, có một bộ phận tư nhân phát triển rất tốt, tốt một cách không tin được. Nhưng có một bộ phận tư nhân khác, tức hàng trăm, hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân chết mà không chết được, teo tóp đi.

    Tức là loại nào mà bám vào chính quyền, quan hệ tốt, trở thành sân sau thì phát triển rất tốt, còn loại không có được những quan hệ đó rất khó.

    Còn về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì bao nhiêu năm nay vẫn không có gì mới. Chúng ta đã nói từ mấy chục năm nay rồi. Sở hữu không rõ, thành ra nhiều anh khai thác quyền của mình để kiếm được lợi tư từ khối DNNN.

    Vì vậy, DNNN thích hợp với những ai nắm quyền quản trị, và can thiệp được vào khối tài sản này. Cũng có những DNNN thành công như Vinamilk, Viettel… Nhưng còn các DNNN khác thì cũng có nhiều khó khăn lắm. Những khó khăn này dẫn đến thoái vốn, bán tống bán tháo tài sản nhà nước đi. Rồi dưới chiêu bài xã hội hóa, công tư hợp doanh để phân phối tài sản công cho tư nhân cũng khá nguy hiểm.

    Khu vực thứ 3 là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) thì lại đang phát triển tốt, ngày càng tăng trưởng. Lập luận của chúng tôi là, hóa ra khu vực này nó không dùng luật Việt Nam mình. Tài lực, vật lực nó mang từ bên ngoài vào, thuê đất, nhân công của mình, lắp ráp ở mình rồi bán đi. Tài sản của họ ở mình thì có nhiều đâu. Nếu có tranh chấp thì họ có nhờ tòa mình xử đâu, họ mang ra nước ngoài.

    Như vậy, thể chế của Việt Nam mình chỉ làm khổ dân mình thôi, chứ không làm khổ khu vực nước ngoài nhiều lắm. Chính vì vậy, họ vay mượn từ bên ngoài, họ vượt qua được thể chế của mình. Đó là lý do giải thích vì sao khu vực FDI có thể đóng góp vào xuất khẩu lớn với lý do không vướng vào những phiền nhiễu của chế độ sở hữu trong nước.

    Bây giờ cải cách thế nào? Nếu mà đất nước nói rõ cái gì của ai thì đã khác. Chỉ đơn giản thế thôi chứ có gì đâu mà phải nghĩ ngợi cho nhiều. Chẳng hạn như lô đất này của VCCI, thì chủ của nó là VCCI. VCCI không thích thì bán, hay cho thuê. Như vậy sẽ rõ chủ sở hữu của mảnh đất là ai…

    Hơn 10 năm trước, chúng tôi từng nói một ý rằng: sở hữu toàn dân là cái ý chí chính trị, nhưng khái niệm ấy không dùng được, không có ý nghĩa về pháp lý. Nó phải có chủ thể rõ ràng. Lấy ví dụ, Hà Nội hay TP.HCM là một pháp nhân. Là pháp nhân thì họ có đất, cây… khi cây đổ vào ô tô của tôi thì tôi có thể kiện chính quyền. Sở hữu toàn dân như là một vòng kim cô. Việt Nam mình phải làm như Trung Quốc năm 2007 khi ban hành luật về vật quyền.

    Sở hữu toàn dân rất có lợi cho những người biến ao ruộng, miếng đất đáng giá thành bao nhiêu cây vàng. Cái lợi ấy chạy hết vào túi của những người đó, nhà nước chẳng thu được đồng thuế nào, vì phần lớn sẽ nằm trong tay những người có quyền quyết định đối với những lô đất đó. Vì thuộc về toàn dân, thuộc quyền nhà nước nên xảy ra nhũng nhiễu, hạnh họe người ta. Nếu sở hữu rõ ràng thì phải thương lượng. Vì không rõ sở hữu nên nay anh thu hồi, mai anh chuyển đổi. Những người đó giàu lên rất dữ nhưng nó làm cho doanh nghiệp không dám đầu tư lớn. Thể chế sở hữu không chắc chắn thì không ai dám đầu tư.

    Rất nhiều đại gia Việt Nam bây giờ đang bán tài sản cho nước ngoài. Đây cũng là điều cảnh báo cho những nhà làm chính trị tại Việt Nam. Khi những đại gia này làm ăn đến mức nào đó … người ta bán đi.

    Ngoài ra còn có những loại sở hữu thông qua hợp đồng. Chẳng hạn có người sở hữu biệt thự ở Vũng Tàu, cho thuê 2 tuần/lần. Người ta sẽ sáng tạo ra đủ thứ sở hữu. Đáng ra luật pháp phải đảm bảo sự tự do đó, và dùng hệ thống tòa án bảo vệ những điều đó.

    Thứ 3, giả sử một người làm ăn tồi, vỡ nợ, thì tài sản đó phải nhanh chóng chuyển sang tay chủ nợ. Chẳng hạn một ngày đẹp trời, OceanBank, Ngân hàng Xây dựng sẽ chuyển sang cho anh khác. Nên luật phá sản là cái roi rất dữ đe nẹt những anh làm ăn dở. Nhưng mình chưa bảo vệ được những chủ nợ.

    Nhưng vấn đề sở hữu ở đất nước mình chưa ai dám thảo luận rộng, sâu.

    Giới nhà giàu có được quyền lợi từ cái đó cũng không muốn đổi, còn những thành phần khác muốn đổi thì tiếng nói không mạnh.

    Bây giờ, nhà nước muốn lấy đất đai của dân thì khó hơn một chút, giá thì do nhà nước đề ra, dân mất đất thì có thể khiếu nại, tố cáo… Thế thì vòng vo tam quốc nhưng mình có chữa được luật đâu. Hôm nay mình nói mạnh hơn để cố gắng 20 năm sau con cháu mình nó có cái nhà của nó là của nó, không phải của nhà nước. Nhà nước muốn lấy, thu hồi thì phải thương lượng, mua với giá đàng hoàng, chứ không thể thu hồi không.

    • CD@3n says:

      bây giờ, không còn ‘sân sau” một cách núp bóng nữa đâu, đã “lộ diên”rất đành hoàng…bà “Tâm đen” ( M.T- nghị sĩ) là “bà hai” (xuất xứ từ người tình của câu trường !) của vị tồng nickname RCCB…đang đứng tên một Cty “xa hội hóa” đầu tư vào ngành “thu phí” hot nhất cả nước…còn nhiêu lằm những cai tên, nhưng chẳng “dại, ngu” đụng vào đê rồi kết quả là “luật rừng” của cách hành xử xã hội đen…!
      giữ “lịch sự” không văng Đ*M, nhưng phải phụt ra : kH…nan !

  16. Dove says:

    Nhân dịp cụ NPT đi thăm Mỹ, hoa thối khổng lồ Amorphophallus titanum lại nở ở vườn bách thảo Luân Đôn, Anh. Đay là một loài hoa rất hiếm nhiều năm mới nở một lần, có sắc đẹp ma quái và thối kinh khủng. Theo Wikipedia tên của hoa được ghép lại từ 3 từ Hi Lạp cổ: “amorphos” = dị hình + “phallos” = dương vật, và “titan” = to lớn. Diễm nôm ra là “hoa dương vật dị hình to khủng”

    Bông hoa thối nở ở Luân Đôn nhân dịp cụ NPT thăm Mỹ (ảnh pravda.ru)

    Theo nghiên cứu của Dove thì Ngoại giao đỉnh cao Việt Mỹ có quan hệ ko thể phủ nhận được với loài hoa Amorphophallus titanum. Hồi cụ Phan Văn Khải thăm Mỹ, có một bông nở ngay tại vườn bách thảo của DC. Do ghét bà Loretta Sanchez nên Dove đã đề nghị ngắt nó để tặng bả. Bị ném đá ghê gớm.

    • HỒ THƠM1 says:

      Hi hi… Lão Đốp giật cái tít cùng đưa cái ảnh minh họa như ri thì đến Phó chủ tịt Hội Báo chí Cách mạng Hà Minh Huệ cũng không dám bảo dân trí nước ta thấp nữa rồi 😛

  17. Dove says:

    Sửa lại đôi chút và post lại:

    Các cụ Đỗ Mười và Lê Đức Anh là những người do cụ Lê Duẫn và Lê Đức Thọ dựng lên, trước hết là để lấn lướt cụ Võ Nguyên Giáp và sau đó là để “mù quáng” phất hai ngọn cờ hồng: Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở Miền Nam và Xây dựng huyện thành pháo đài XHCN ở Miền Bắc. Mọi việc ko cần thiết để dương cao hai ngọn cờ đều bị bác bỏ thô bạo.

    Tuy nhiên, có một sự thật lịch sử mà ko phải ai cũng biết. Đó là ngay sau ngày 30 tháng Tư, ko ít cán bộ có tâm đã bày tỏ quan điểm khôi phục quan hệ kinh tế văn hóa vốn có giữa Sài Gòn với phương Tây càng nhanh càng tốt, để từng bước xây dựng lại Hòn ngọc Viễn Đông do chiến tranh mà thui chột. Mãi10 năm sau đó, trong bối cảnh Sài Gòn đã lún sâu vào tình trạng trì trệ và tụt hậu khó lòng cứu vãn được thì Dove mới được tận mắt chứng kiến sự tiếc nuối không thể nguôi ngoai của một nhà tình báo chiến lược kỳ cựu. Cụ cho biết, ngay trong lần đầu tiên mà TBT Lê Duẫn có mặt tại Sài Gòn vào 1975, thì cụ đã thay mặt các chiến hữu căn cứ trên yêu cầu rất nóng của các hãng hàng không quốc tế đã đề nghị TW đảng cho phép ưu tiên mọi nguồn lực nhằm khôi phục ngay lập tức hoạt động đầy đủ của sân bay Tân Sơn Nhất – một trong 3 trung tâm hàng không lớn nhất của ASEAN lúc bấy giờ. Mặc dù đã mang toàn bộ sinh mạng chính trị của mình ra đặt cọc nhưng đề xuất tâm huyết này đã bị đích thân cụ Lê Duẩn bác bỏ chỉ bằng chỉ thị mồm.

    Kể ra như vậy, cốt giúp mọi người biết rõ rằng, ko chỉ riêng cụ Trần Quang Cơ mà con đường công danh của phần lớn các cụ sớm có tư duy làm bạn với tất cả mọi người ko phân biệt Đông – Tây, Nam – Bắc vì sự nghiệp phát triển đất nước, trong đó có những cái tên rất lớn như Nguyễn Cơ Thạch, Trần Văn Trà …đều ko hanh thông. Những think tank và giới công thương có quá khứ VNCH, tình nguyện ở lại xây dựng đất nước vì thế cũng ko phát huy được. Sau này cụ Võ Văn Kiệt đã cố gắng vớt vát lại phần nào, nhưng phải nói về cơ bản họ đã lỡ tàu vì quan hệ công việc đã bị gián đoạn đủ lâu.

    Theo Dove biết thì cụ Lê Duẩn rất ghét Mao và Đặng, thậm chí còn xem là thù vì cả hai đều cho rằng chiến công thắng Mỹ chẳng là cái đinh gì và xem cụ Lê ko chỉ là kẻ hậu bối mà còn là nặc nô của cụ Bờ (L. Brejnev – TBT đảng CSLX). Bởi vậy nếu cho rằng hai đệ tử của cụ Lê là Đỗ Mười và LĐA là nô tài của Tàu thì Dove nỏ có tin. Tuy nhiên do cả hai ngọn cờ Cải tạo công thương nghiệp và Xây dựng pháo đài hóa ra chỉ là cờ rủ để đưa ma, nên trước khi Đông Âu sụp đổ khá lâu thì đất nước VN đã lâm vào đại khủng hoảng “bo bo”, tình thế như ngàn cân treo sợi tóc và vì vậy các cụ Đỗ và Lê bị Tàu lấn lướt nên phải nhượng bộ khá nhiều.

    Nếu cụ Lê Duẫn nghe cán bộ, rồi nghiên cứu tình hình như sau này cụ Trường Chinh làm, thế rồi thay vì cải tạo thì khởi động xây dựng lại Sài Gòn thành Hòn ngọc Viễn Đông và nhân thể kiếm thêm tiền để xắn tay xây dựng pháo đài cấp huyện ở Miền Bắc. Khi dân tình đã hòa hợp trong ấm no hạnh phúc và tiền bạc ngày càng dư dã hơn, thì chọn vị trí hợp lý để xây dựng thành phố mới và đặt tên là TP Hồ Chí Minh. Được như vậy thì VN đã là câu chuyện thành công nhất về nền kinh tế chuyển đổi và là hình mẫu để các nước đang phát triển noi theo trong kỷ nguyên phát triển đô thị.

    Lịch sử ko được viết bằng chữ nếu, lại cũng ko nên bị gọt bớt để lấy cớ tru lên thảm thiết “Nô tài của Tàu”. Bởi vậy mong cụ NPT nếu là người có tâm vì nước thì sau khi gặp ông B. Obama về cho lập biên niên “Đổi mới” đủ chi tiết và trên cơ sở đó tổng kết khách quan rồi công bố để dân chúng tỏ tường. Thiển nghĩ cũng nên đề cập đến sai lầm của cụ Lê Duẫn trong việc thực hiện các chính cương trước đây của đảng (đặc biệt chính cương 1951), di chúc của Văn Ba và vì thế nên dân tình lại khốn đốn, đất nước lại lâm vào tình thế hiểm nghèo.

    • Hiệu Minh says:

      Các lão cứ chửi Dove chứ nhiều còm của lão hơn đứt mấy tay chửi ra rả, thông tin toàn hàng tôm hàng cá.

      • Dove says:

        Hóa ra thông tin Dove thuộc loại hàng tôm hàng cá.

        • Hiệu Minh says:

          Xin lỗi cụ Dove, sửa lại rồi 🙂

        • A. Phong says:

          Căn cứ vào những phản biện của ông Dove ở blog Hiệu Minh này, không ít người, cho dù khác chính kiến với Ông, cũng phải công nhận ông Dove vừa có tâm vừa có tầm. Tấm lòng trăn trở của Ông đối với Đất Nước quá hiển nhiên. Trình độ và quá trình làm việc của Ông tạo nhiều cơ hội để Ông có nhiều thông tin có tính lịch sử. Do đó, thông tin của Ông chắc chắn không được xếp loại với hàng tôm hàng cá.
          Nhưng thông tin của ông về “sự thật lịch sử mà không phải ai cũng biết” để “cốt giúp mọi người biết rỏ” cũng không được rõ ràng và khoa học cho lắm.  “ko ít cán bộ có tâm đă bày tỏ” hay “một nhà tình báo chiến lược kỳ cựu…đề xuất tâm huyết ” có tính mơ hồ, khuyết danh, khó kiểm chứng. Who What Where When Who và How cần được thỏa mãn để có được một thông tin khả tín, nếu không thì chỉ nói nghe cho vui mà thôi.
          Xa xưa hơn nhiều, mà những bản điều trần của ông Nguyễn Trường Tô, ý kiến của Viện Cơ Mật, châu phê của vua Tự Đức đều có văn bản, ngày tháng rõ ràng. Nhờ đó, con cháu sau này mới học hỏi, đánh giá được.

      • Viễn Đông says:

        Anh Kua kết luận về ngài Dove và những còm sĩ khác quan điểm ngài Dove là kiểu chửi hàng tôm hàng cá là chưa chính xác đâu.
        Chuyện ngài Dove viết”Tuy nhiên, có một sự thật lịch sử mà ko phải ai cũng biết. Đó là ngay sau ngày 30 tháng Tư, ko ít cán bộ có tâm đã bày tỏ quan điểm khôi phục quan hệ kinh tế văn hóa vốn có giữa Sài Gòn với phương Tây càng nhanh càng tốt, để từng bước xây dựng lại Hòn ngọc Viễn Đông do chiến tranh mà thui chột. Mãi10 năm sau đó, trong bối cảnh Sài Gòn đã lún sâu vào tình trạng trì trệ và tụt hậu khó lòng cứu vãn được thì Dove mới được tận mắt chứng kiến sự tiếc nuối không thể nguôi ngoai của một nhà tình báo chiến lược kỳ cựu. Cụ cho biết, ngay trong lần đầu tiên mà TBT Lê Duẫn có mặt tại Sài Gòn vào 1975, thì cụ đã thay mặt các chiến hữu căn cứ trên yêu cầu rất nóng của các hãng hàng không quốc tế đã đề nghị TW đảng cho phép ưu tiên mọi nguồn lực nhằm khôi phục ngay lập tức hoạt động đầy đủ của sân bay Tân Sơn Nhất – một trong 3 trung tâm hàng không lớn nhất của ASEAN lúc bấy giờ. Mặc dù đã mang toàn bộ sinh mạng chính trị của mình ra đặt cọc nhưng đề xuất tâm huyết này đã bị đích thân cụ Lê Duẩn bác bỏ chỉ bằng chỉ thị mồm. ”
        Tin tức này thì nhiều người từng nghe qua các cụ hưu hưu phát biểu nhiều lần trên lề trái và phải , nhưng các cụ ấy đều viết theo kiểu tung hỏa mù chẳng đâu ra đâu cụ Kua ạ. Các cụ ấy đều nói viết theo cùng 1 kiểu rất là bao biện như kụ Tiến sỹ Trần Việt Thái, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Quan hệ Quốc tế, nói có 3 ý
        ” Thứ nhất là tính biểu tượng. Phải nói là chuyến thăm Mỹ lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có tính biểu tượng hết sức sâu sắc. Hiện nay nhận thức của rất nhiều người Mỹ, hoặc rất nhiều người ở Mỹ về Việt Nam là tương đối lạc hậu, chậm so với những thay đổi ở Việt Nam, hoặc là họ có những nhận thức không phù hợp với bối cảnh hiện nay.”
        Toàn đổ lỗi cho người khác không thây được hạn chế` của mình thì không thể nào lớn nỗi như cái cụ nhân dịp 30/04/75 trả lời BBC về chuyện tù cải tạo MN .
        Đại khái cụ này nói là không có chuyện tù quân nhân MN , chỉ là học tập cải tạo chứ không bạc đãi. Và cụ này còn nhấn mạnh rằng trên tinh thần của 1 số vị lãnh đạo là không bắt tù quân nhân MN nhưng những ý kiến này bị bỏ qua .
        anh Kua thấy có mâu thuẩn không câu trước khẳng định không có , câu sau thì nói bị bỏ qua là sao ? Nếu cần chính xác thì search trên BBC sẽ đọc thêm thì rõ . Tôi không copy lại vì chán cách trả lời của các cụ này như con gián.
        Chuyện rỉ tai này nọ về các chiến lược vĩ đại này nọ của các cụ cao cao sau 75 tràn đầy quán cà phê vĩa hè y như chuyện TT Nguyễn Văn Thiệu ẵm 14 tấn vàng , hay chuyện anh Cao Kỳ buôn lậu ma túy , làm giang hồ thậm chí tương lên báo chính thống với tiêu đề ” ! thời hãnh tiến , 1 thời lưu vong “. Câu chuyện vẽ ra hình ảnh anh Cao Kỳ ở nước ngoài là 1 trùm gangster ….
        Hay như GS Đặng Phong được cho là công bằng nhất nhất về nhận xét cả 2 miền thì cũng đầy nhưng thiên kiến. Khi cần thì bảo xã hội MB ổn định hơn MN , người dân thường bị đe dọa chết chóc nhiều hơn ở MB. Nhưng cũng trong quyển sách ấy thì GS Phong lại bảo dân thường MB bị chiến tranh de dọa làm chết chóc tan thương nhiều hơn hẳn MN ?
        Ở đây phải phân biệt dân thường với những người đi lính của cả 2 miền, họ cầm súng đối đầu nhau nên chuyện bắn hay bị bắn là không thể tránh khỏi , họ chết đi thì thân nhân cả 2 bên đều không thể tránh khỏi những mất mát thiệt hại . Bên nào cũng mất mát ,cũng để lại hậu quả . Còn khi bàn về dân thường bị chết thì hầu hết chỉ thấy sự thiệt hại của dân thường Mb còn như dân thường MN là ” Bọn mày phải ráng chịu . là chân lý không được nói không được than vãn “.. Hễ ai nhắc tới chuyện này thì xem như là bọn phản động, cố tình khơi gợi sự hận thù v.vv. trông khi bên kia thì được phép tối đa trên mọi phương tiện truyền thông.
        Những vấn đề ấy tồn động qua nhiều thế hệ, nhiều năm tháng và nó trở thành nỗi ngậm đắng của nhiều thành phần ở MN và đó cũng chính 1 trong những vết hằn trong lòng người .
        Ngài Dove là tự xem là 1 trí thức nhưng ngài Dove thường dùng những từ ngữ không thích hợp của 1 người tự xưng là có học chứ đừng nói là trí thức ? Dù họ có khác quan điểm như thế nào nhưng cũng không nên mạt sát người khác bằng những từ ngữ hàng tôm hàng cái anh Kua ạ. Đây cũng là nguồn cơn để những người khác phản biện lại ngài Dove . Ngài ý cũng từng phán ĐI VỚI MA PHẢI MẶT ÁO GIẤY, vậy tại sao ngài Dove lại có quyền mạt sát người khác ? Ví dụ như ngài Dove viết “Lịch sử ko được viết bằng chữ nếu, lại cũng ko nên bị gọt bớt để lấy cớ tru lên thảm thiết “Nô tài của Tàu”, ai TRU ? chó Tru ah ? Là người có học anh nên tôn trọng người khác chứ anh sỉ vả người khác bằng những ngôn từ chợ búa và bắt người khác tôn trọng anh ? Đây cũng là kiểu Tao thắng tao có quyền , mày thua thì đừng hòng khóc nha. Đây cũng không phải là lần đầu ngài Dove còm kiểu này ! Trước hết phải tôn trọng cái văn hóa của mình, tôn trọng người khác đã rồi mới đòi người khác tôn trọng mình. Đó là mức tối thiểu cần có của 1 người có văn hóa chứ chưa nói là có học thức , trí thức .
        Nếu anh Kua thấy những lời tôi nói không đúng thì cứ spam

        • Dove says:

          Dove ko bao giờ tự xưng là trí thức mà còn nói rõ từ 7 -8 tuổi đã ra đường sống với xã hội đen. Dove ko và sẽ chẳng bao giờ tôn trọng những kẻ đã làm cái bung xung cho Washington ném bom HN và nay thì xỉ vả CS một cách hàng tôm hàng cá và tru lên CS là “nô tài của Tàu”.

          Thực ra Dove chỉ nghĩ họ là người sói nên ko hề quan tâm đến sự tôn trọng của những kẻ sau khi đọc còm của Dove bỗng mặc cảm ra mình là chó.

        • Brave Hoang says:

          Còm này rất hay. Còm của bác Dove ở trên cũng có những suy luận có lý. Up cả 2.

      • ngavoi77 says:

        Cụ Tổng lại nẫn nộn rồi. Nhiều lão tranh cãi và thậm chí chửi nhau với lão Dove là vì trái ngược quan điểm và không chịu nổi cái sự nhất quán của lão Dove trong việc yêu Văn Ba, ghét Truman, hay lôi chính cương và nhiều lúc phạm lỗi ngụy biện trong tranh luận chứ các lão không chửi lão Dove nếu lão Dove đưa thông tin chính xác. Nhiều còm của lão Dove đâu có bị ném đá, điều đó chứng tỏ không phải cứ nhìn thấy Dove là ghét, là chửi. Lão Tổng viết, “Các lão cứ chửi Dove chứ nhiều còm của lão hơn đứt mấy tay chửi ra rả, thông tin toàn hàng tôm hàng cá.” làm cho mọi người nghĩ lão cho rằng nhiều người ghét Dove chỉ vì Dove là Dove mà đã là Dove thì tất yếu phải chửi 😛 Điều này không đúng 😛

        “Thông tin toàn hàng tôm, hàng cá” thì cho dù đó là ai cũng sẽ bị chửi thôi. Thời buổi thông tin cập nhật nhanh như chớp thì thông tin sai lệch chỉ cần một lúc là biết rõ. Nhiều người chưa có thói quen kiểm chứng thông tin và kiên nhẫn tìm hiểu trước khi đưa thông tin vả lại trong bối cảnh nhiều người chỉ đưa tin phần có lợi cho mục đích của mình nên bị nhầm lẫn, sai lệch. Có thể thông cảm được 😛 Mà thật ra cũng chẳng cần mắng chửi làm gì, người ta bị hố vài lần sẽ tự quê và sẽ biết tự kiểm chứng trước khi viết. Đấy là Voi nghĩ vậy.

      • TranVan says:

        Tin hàng tôm :
        (Xin kiểm chứng trước khi tin, như thường lệ !”
        ___________
        VietPress USA (27-6-2015): Theo tin đặc biệt từ tổ chức R.H. ở Hoa Kỳ cho hay thì Đại Tướng Bộ Trưởng Quốc Phòng PHÙNG QUANG THANH đã vừa bị ám sát bằng súng hãm thanh vào sáng hôm qua Thứ Sáu 26-6-2015 trước một ngôi nhà trên đường phố ở Paris.
        ___________

        • TranVan says:

          >Các lão cứ chửi Dove chứ nhiều còm của lão hơn đứt mấy tay chửi ra rả, thông tin toàn hàng tôm hàng cá.”

          Tôi quý trọng những phản biện của Cụ Dove.

          Lý thuyết (đệ tam, hay đệ tứ) giờ này mà còn có người (nhất là trí thức) tin và dùng như thế thì hiếm lắm.

          Vả lại dùng lời nói để phản biện vẫn hay hơn là dí súng vào đầu bắt phải “phục tùng và quy hàng”

        • TranVan says:

          Hôm 19/06 vừa qua hai ngài Bộ trưởng có gặp nhau. Báo chí Pháp đã không đăng tin vì không phải một buổi gặp mặt chính thức , ghi trên lịch trình của bộ Quốc Phòng Pháp.

          Website (bản tiếng Anh) của bộ Quốc Phòng VN đã đưa tin cho biết ngày gặp gỡ giữa hai bên và thông cáo chung, vô thưởng vô phạt , kiểu hoàn toàn xã giao.

          TB : Nguồn tin (vịt ?) thứ hai thì vừa mới tăng tốc (cách nay 1 giờ) cho rằng tin này hoàn toàn có thể tin cậy được. Tuy rằng có sai về địa điểm, quyết đoán là quận 13. Theo địa chỉ đưa ra thì đúng ra là ở quận 5, nơi gần quán Monge do Đại Sứ quán VN tại Pháp quản lý.

      • A. Phong says:

        Bao nhiêu năm thông tin của ta được định hướng tuyên truyền, thiếu minh bạch và chân thực. Lệnh miệng và khoanh vùng nhạy cảm tạo thành đám mây mờ. Nên thông tin không hàng tôm hàng cá thì cũng ngồi lê đôi mách, chẳng biết đâu mà mò.

    • NGỌ 100 ngàn USD says:

      Nói chính xác hơn, ông Đỗ 10 là do ông Lê Duẩn dựng lên còn ông Lê Đức Anh là do ông Lê Đức Thọ cẩu lên. Mục đích là để thực hiện âm mưu, mục đích chính trị của mình. Nhưng nói là “trước hết là để lấn lướt cụ Võ Nguyên Giáp” thì Đệ chưa thông. Như ai đó nhận xét ông Đỗ 10 tuy cũng có nhiều thủ đoạn (chính trị mà) nhưng ông có tính “tổ chức”. Còn ô. LĐA thì khác hẳn. Thời ông LĐA còn làm chủ tịch nước, kể cả sau khi rời vị trí đó, ảnh hưởng, tác động của ô. LĐA về nhận sự cấp cao còn có sức mạnh hơn cả TBT (Đỗ 10). Nhiều vị lão thành đã phải thốt lên nước ta có một “thái thượng hoàng”. Thời ông Đỗ 10 làm Thủ tướng rồi lên TBT thì Võ Đại Tướng cũng “hết sức” rồi chẳng còn đe dọa đến chiếc ghế nào của người nào trên cụ nữa. Còn với Võ Đại tướng thì ô.Đỗ 10 đối xử cũng không đến nỗi tệ lắm đâu, không tốt đến mức bảo vệ Võ Đại Tướng nhưng cũng không tệ đến nỗi “cố ý” hại cụ. Ô.LĐA thì không như vậy, như chúng ta đã biết qua vụ Sáu Sứ.
      Nếu nói ông Lê Duẩn rất ghét Mao (TQ) cũng chưa thật chính xác. Chủ trương chống xét lại theo Mao xuất phát từ Lê Duẩn và nhóm của ông đã gây hậu quả không nhỏ cho đất nước và những người bị đày đọa. Ông phải ghét TQ kể từ khi TQ “cho rằng chiến công thắng Mỹ chẳng là cái đinh gì”, gây ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh ông trong “thế giới thứ Ba”.
      Riêng với LĐA thì lịch sử sẽ đánh giá chính xác hơn về quan hệ với Tàu. Ông Trần Quang Cơ đã để lại một số tình tiết rồi. Còn lịch sử cũng đã ghi, thời LĐA đang giữ cương vị Bộ trưởng BQP, 64 chiến sĩ hải quân bị hy sinh nhưng Gạc Ma vẫn bị mất vào tay giặc mà không sử dụng lực lượng để đuổi giặc trong khi ta hoàn toàn của đủ sức mạnh không quân. Rồi còn tin vỉa hè, LĐA bị trọng bệnh ngay lập tức TQ cử bác sĩ sang cứu sống…

      Thích đoạn kết của huynh. Đây đúng là những dòng chữ được tiết ra từ bộ óc thông thái tuy hơi già .

      • Hiệu Minh says:

        Càng ngày càng thấy quản blog này rất khó vì những còm sỹ như…ri 😛

        • NGỌ 100 ngàn USD says:

          Xin được bác Tổng một vài Định hướng để phấn đấu quyết liệt thực hiện bằng được.

      • Dove says:

        Thân đến mức môi hở răng lạnh rồi chuyển ra ghét tận xương tủy ko phải là chuyện hiếm trong địa chính trị thế kỷ XX.

        Thật ra nên viết tách bạch về các cụ Đỗ Mười và Lê Đức Anh. Nhưng tự thấy mình ko đủ tư liệu xác tín nên Dove chỉ phản ứng với thông tin hàng tôm hàng cá và khêu gợi để cùng nhau làm rõ hơn.

        Nói về thế mạnh của không quân thì chỉ đúng với hải chiến Gạc Ma thôi, còn đối với chiến tranh toàn diện mà cụ thể là Hải Phòng, Huế và Đà Nẵng thì câu chuyện sẽ rất khác đấy. Vả lại chủ trương kiềm chế vũ lực để lẳng lặng cắm mốc chủ quyền là của TW, còn cụ LĐA chỉ là người thực hiện.

        Cụ LĐA là một người trong sạch, sai lầm của cụ là do ngu trung với cụ Lê Duẩn mà ra. Tình thương của cụ LĐA với Nguyễn Chí Vịnh thì ai cũng biết. Nhưng trớ trêu thay đó là một tình thương làm tổn hại đến sự đồng tâm nhất trí và tinh thần chiến đấu của quân đội.

        • NGỌ 100 ngàn USD says:

          Có thể, ô.LĐA trong sạch về kinh tế, tuy nhiên, đệ nghi ngờ sự trong sạch về “tâm” của ông đối với đồng chí đồng đội.

        • A. Phong says:

          Luật pháp và dân chủ ta chỉ để làm cảnh cho vui. Quốc hội đại diện cho dân thì đã được cơ cấu. Không có tam quyền phân lập để kiểm soát và cân bằng. Nen vận nước nổi trôi theo sự nóng lạnh của các Cụ. May nhờ rủi chịu.
          Với một nền dân chủ tàm tạm như đế quốc Mỹ xấu xa, thì một tổng thống hạ đẳng cũng chẳng phá hại Đất Nước được bao nhiêu.

      • Mười tạ says:

        Người ta đánh giá các nhân vật chỉ dựa trên những tài liệu như: Hồi kí cụ T.Q.Cơ, Bên thắng cuộc của Huy Đức, Đèn cù, và thông tin vỉa hè. Dễ thấy rằng các nguồn tin này nhường như cùng tông với nhau – nghĩa là mới một chiều.

        Đang rất thiếu những đánh giá dựa trên những câu chuyện đang xãy ra, nó đang phản ánh những kết mà nguyên nhân có từ thời trước và sau năm 75. Đáng tiếc!

        Dù sao thì HC vẫn thiếu vắng những còm sĩ trẻ, có thể mang những hơi thở tươi mới hơn 🙂

        Mta xin đặt một giả thiết: với quyền lực tuyệt đối sau 1975 tại sao cụ LD ko nắm quân đội, tự xưng tư lệnh tối cao, thống chế gì mà chả được? Nếu như cụ VNG tiếp tục nắm vị trí cao, cộng với vai trò lực gần như tuyệt đối của quân đội sau cuộc chiến thì liệu VN có thành một nước quân phiệt không, kiểu như Miến Điện.

        Dù sao, nói chuyện chính trị mà chưa đọc Machiavelli, hay thiếu tính Machiavelli (mà thừa tính Đảng) thì cũng rất buồn cười, hihi.

        • Dove says:

          Xếp Trần Quang Cơ đồng hạng với Huy Đức và Trần Đĩnh là ko thỏa đáng.

        • TM says:

          Đồng ý với Tấn về sự thiếu vắng những còm sĩ trẻ trên Hang Cua.

          Không biết Hang Cua thiếu sự hấp dẫn đối với còm sĩ trẻ, hay giới trẻ thiếu quan tâm đến những vấn đề thời sự?

          Thập niên 30, 40, 50, những thanh niên yêu nước đã dấn thân từ tuổi đôi mươi, bước lên làm lãnh tụ hay bỏ mình trong khám lạnh hay trên giàn máy chém còn chưa bước sang tuổi 30.

          Thập niên 60, 70 thanh niên trong Nam sôi nổi bàn tán, mổ xẻ, phân tích, chọn lựa, lên án hay tôn thờ, ủng hộ hay tẩy chay những trào lưu văn chương, triết học, tôn giáo, nghệ thuật, chính trị, v.v. Nhiều người tự phất cờ tạo dựng những trường phái mới, sáng tạo mới của mình: Thanh Tâm Tuyền, Tôn thất thiện, Nguyễn văn Bông,Trịnh công Sơn, v.v. Nhiều người hành động: Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm (thân cộng), Lê Bá Khánh Trình (chống cộng, đại diện ĐH Luật khoa SGN, bị phe thân cộng ám sát tại trường)

          Ngày nay hình như giới trẻ được khuyến khích bảo ban hãy “Play it safe!”, tránh vùng nhạy cảm, mọi chuyện đã có Đ và nhà nước lo. Một vài người muốn bày tỏ chính kiến riêng thì lên bờ xuống ruộng.

          Ở VN muốn học đòi Machiavelli thì ngoan ngoãn vào Đ, tuyệt đối trung thành vài chục năm cho đến khi lên đến TW. Thường dân ngoài Đ thì Machiavelli nỗi gì?

        • TM says:

          Ấy chết, tôi nhầm. Lê Khắc Sinh Nhật là sinh viên luật SGN bị VC ám sát.

          Xin anh Lê Bá Khánh Trình (sinh viên giỏi toán) tha tội trủ ẻo. 🙂

        • Mười tạ says:

          @ cụ Dove
          Mta chỉ nói trên phương diện nguồn tin thôi.

  18. thuan An says:

    doc o day moi biet va hieu duoc nguoi tot , nguoi gioi , cam on HM

  19. Mười tạ says:

    Phải ngồi với cả hai mới thấy được sự khác nhau giữa họ về nhân cách, tầm nhìn; sự khác nhau giữa tham vọng quyền lực và lòng yêu quê hương đất nước.

    Mình phục khả năng nhìn người của cụ HĐ, dù mình …. nghi ngờ 🙂

    Người ta thường nói đến tham vọng quyền lực như là cái gì đó xấu xa, nhưng nói thật, nếu ko tham vọng quyền lực thì về đuổi gà cho vợ, đừng tham gia chính trị làm gì.

    Nếu cụ Nguyễn Cơ Thạch từ chức vì đấu đá quyền lực thì con trai cụ ko có chuyện được đi Mỹ học, ko có chuyện tiếp cái ghế của cụ như bây giờ, nên nói rằng quan điểm của cụ vào thời đó chưa phù hợp thì đúng hơn. Chính xác hơn là chưa đủ điều kiện để chơi với Mỹ; chính xác hơn nữa là Mỹ vẫn còn a cay vụ 1975, không thực tâm muốn quan hệ (tương đối) bình đẳng với VN.

    • HỒ THƠM1 says:

      Dù bận cũng “lay” cụ Tấn phát cho ý kiến ni:

      “Người ta thường nói đến tham vọng quyền lực như là cái gì đó xấu xa, nhưng nói thật, nếu ko tham vọng quyền lực thì về đuổi gà cho vợ, đừng tham gia chính trị làm gì”.

      Đã gọi là chính khách, chính trị gia mà không có “tham vọng quyền lực”, không có ý đồ thâu tóm quyền lực, không có tư tưởng hét ra lửa khạc ra khói thì cũng giống như con gà trống thiến mà thui, chỉ là anh công nhân viên chức ăn lương mà thui dù có làm đến tổng thống cũng thế, mà tổng thống như ri thì nhạt hoét!

      ( Còn chuyện thâu tóm quyền lực để vơ vét cho gia đình dòng họ là chuyện khác!)
      Đúng chính trị là phức tộp lắm! 🙄

    • Trung says:

      Chắc chắn là bác Mười Tạ chưa đọc cuốn hồi ký của TT Trần Quang Cơ nên chưa hiểu được vấn đề của BT Nguyễn Cơ Thạch. Nếu có thể thì bác nên đọc thêm cuốn Lịch sử Kinh tế VN từ năm 1975 đến 1989 của Đặng Phong nhé!!! Vấn đề này nhiều khi nói thì khó được nguyên văn mà ý hiểu thì sẽ thành ý kiến chủ quan mất. Mong bác đọc để thấy được nhân cách của bác TQ Cơ và NC Thạch cũng như những nhân vật khác nữa. KN 100 ngày sinh của ngài NVL – tác giả của Những việc cần làm ngơ và Ngàn năm Bắc thuộc, đáng tiếc ông ta lại gần nhà em nên nhiêu fkhi em thấy xấu hổ vì đồng hương với họ!

      • Mười tạ says:

        Cảm ơn cụ. Cuốn đầu Mta đã đọc, cuốn sau sẽ đọc.

        Và điều đo ko liên quan gì đến việc “nghi ngờ” của Mta. Khi nói đến việc lựa chọn chính sách của người CS, hãy nhớ rằng Việt Nam là nước hàng ngàn năm phong kiến, nơi tập quán: một người làm quan cả họ được nhờ, nơi khát khao vương triều trường tồn thiên thu.

%d bloggers like this: