Lê Vinh Huy: Sơ lược về Văn Miếu

Khổng tử

Ảnh minh họa. Nguồn FB Lê Vinh Huy

HM Blog. Đây là bài viết của anh Lê Vinh Huy, một còm sỹ nổi tiếng một thời của Hiệu Minh blog. Chả hiểu hồi đó cãi nhau chi chi, lão Huy bỏ đi một mạch. Hôm nay có bài hay do lão TC Bình giới thiệu. Mình xin phép tiên sinh Huy đăng lên blog cho mọi người đọc và cũng là một lời xin lỗi. Mong tiên sinh bỏ quá cho những điều không nên không phải của lão Cua hâm hấp. Khi nào vô SG, tôi alo cụ đi uống rượu, dù tôi không biết nâng chén.

Trước khi nói về văn miếu, xin nói về… võ miếu đã, vì hệ thống đền miếu của Trung Hoa cổ, cũng như của các chư hầu thần phục nó, chia ra hai ban, văn võ song toàn.

1/. Võ miếu:

Hệ thống cúng tế của võ miếu được hình thành vào đời Đường Huyền tôn. Niên hiệu Khai Nguyên thứ 19 (722), Đường Minh Hoàng cho xây dựng “Thái công Thượng phụ miếu”, chủ yếu thờ Thái công Vọng (Khương Tử Nha), phó tự là Trương Lương, với 9 vị lương tướng khác cùng phối hưởng. Nghi lễ cúng tế võ miếu (cũng như văn miếu) được cử hành vào tiết Trọng xuân và Trọng thu hàng năm.

10 vị lương tướng phối hưởng được chia ra: tả ban là Bạch Khởi, Hàn Tín, Gia Cát Lượng, Lý Tĩnh, Lý Tích; hữu ban là Trương Lương, Điền Nhượng Thư, Tôn Võ, Ngô Khởi, Nhạc Nghị.

Sau đó, qua các đời người ta lại thêm vào, khiến danh sách võ tướng cứ thế dài ra, nào Phạm Lãi, Tôn Tẫn, Hoắc Khứ Bệnh, Mã Viện, Quản Trọng, Bành Việt, Quách Tử Nghi v.v… thành ra tới 64 người.

Sau đó, trải biến thiên của lịch sử, các đời Tống, Nguyên, Minh, danh sách thờ tự khi trồi khi sụt, vì mỗi triều đại đều muốn đưa thêm “danh tướng” của mình vào, hoặc tinh giản đi những vị không phù hợp. Đến đời Thanh thì chỉ còn thờ mỗi Quan Vũ. Rồi chiến loạn liên miên, Hoa kiều phiêu bạt tứ phương, dựng “Quan đế miếu” ở những nơi họ ngụ cư, Quan miếu chính là hình thức biến tướng của võ miếu, và nhờ đó mà giăng trải cùng khắp thiên hạ.

2/. Văn miếu:

Nếu võ miếu thờ bậc lương tướng, thì văn miếu là để thờ các vị danh nho. Khởi nguồn từ Trung Hoa, văn miếu lan truyền sang các nước Đông Nam Á, tạo nên thanh thế lớn cho Nho học.

Thành ngữ Trung Hoa có câu “Bắc Khổng tử, Nam Văn Xương”, ý nói về phong tục thuở xưa, ở miền bắc Trung Hoa, văn miếu là đền thờ Khổng tử, còn ở miền nam thì văn miếu thờ Văn Xương. Vì vậy, Văn miếu thời cổ có hai loại: thờ Khổng tử, và thờ Văn Xương.

a. Miếu Văn Xương:

Văn Xương đế quân, tức Thục vương Trương Dục, ngoài chức năng cai quản việc văn học và khoa cử, ông còn được xem là vị thần tống ôn, được dân gian vùng Tứ Xuyên tin tưởng là có tài phép chuyên trị ôn dịch.

Văn Xương đế quân cùng với Đại Khôi tinh quân, Châu Y tinh quân, Thuần Dương đế quân và Quan Thánh đế quân được tôn xưng “Ngũ Văn Xương”, theo quan niệm cổ Trung Hoa, là một bộ các vị thần chủ trì văn học.

Miếu Văn Xương luôn có hai thư đồng câm điếc đứng hầu, tượng trưng cho thiên cơ bất khả lậu.

Kể từ Nguyên, Minh trở về sau, do biến thiên hưng vong của triều đại, quy mô việc tế tự Văn Xương cũng theo đó mà nhạt dần. Tuy nhiên, ở tỉnh Tứ Xuyên, “Văn Xương cung” ở Thất Khúc sơn, thuộc huyện Tử Hoài vẫn là một thắng cảnh cuốn hút du khách. Hàng năm, vào ngày vía Văn Xương (mùng 3 tháng 2 âm lịch), ở đây tổ chức ngày hội lớn gọi là “Hội Văn Xương”, tao nhân mặc khách khắp nơi tụ về đề thơ ngâm vịnh.

Văn Xương tinh quân dù là vị thần văn học đỡ đầu khoa cử, tống trừ dịch bệnh, nhưng phạm vi ảnh hưởng không tỏa khắp, nên miếu thờ Văn Xương phải cam chịu mai một dần, để miếu Khổng tử dương danh thiên hạ, truyền bá văn minh Hoa Hạ cho khắp trung nguyên, và lan rộng ra cả các chư hầu.

b. Miếu Khổng tử:

Khổng miếu, còn gọi Phu tử miếu, Chí thánh miếu, Tiên sư miếu, Tiên thánh miếu, Văn Tuyên vương miếu, thường gọi tắt là Văn miếu.

Đây là ngôi đền dùng để thờ Khổng tử, vị triết gia được tôn xưng “Vạn thế sư biểu”.

Năm 478 tr.Cn, tức một năm sau khi Khổng tử mất, Lỗ Ai công cho xây dựng đền thờ ở quê hương ông (huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông) để tưởng nhớ. Đó là ngôi Văn miếu đầu tiên ở Trung Hoa.

Đời Bắc Ngụy, năm +489, xây dựng Khổng miếu tại kinh thành (nay thuộc huyện Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây). Qua đời Đường, năm 630, Thái tôn hạ chiếu, lệnh cho khắp nơi phải xây dựng văn miếu, tôn vinh Nho học. Từ đó, văn miếu được các thể chế Trung Hoa công nhận và đặt ra quy chế thờ tự chặt chẽ trang nghiêm.

Lúc ban đầu, văn miếu chỉ thờ Chu công và Khổng tử. Sau, người ta lại thêm vào 72 môn đệ của Khổng. Cứ thế, mỗi triều đại lại thêm các danh nho vào, đến đời Trung Hoa Dân Quốc đã là 162 vị thánh hiền.

Khi Trung cộng chiếm đại lục thì Khổng tử bị hạ bệ, bởi chủ tịch Mao không thể nào chịu được nổi việc ngoài mình ra, lại còn có một vị “Tố vương” (ông vua không ngai) khác được tôn sùng.

Rồi “Cách mạng văn hóa” nổ ra, Trung Hoa rơi vào kiếp nạn 10 năm đại loạn (1966-1976), các di tích văn hóa cổ xưa đều bị phá hủy, Khổng tử bị Cộng đảng phê bình, đền miếu thờ Khổng bị trưng thu, tượng Khổng bị lật nhào. Khí thế cách mạng của Hồng vệ binh quả là có sức mạnh kinh hồn, bình địa cả giang san.

Mãi đến năm 1984, việc tế lễ Khổng tử ở Văn miếu Khúc Phụ (văn miếu đầu tiên) mới được khôi phục, và các văn miếu trên toàn đại lục mới được tôn tạo phục hồi. Và từ năm 2004, năm bắt đầu thành lập hệ thống Học viện Khổng tử, thì nghi thức tế tự Khổng tử ở các văn miếu được chính quyền đứng ra chủ trì trang trọng.

Ngoài Khúc Phụ, Sơn Đông, hiện ở trung quốc còn có rất nhiều văn miếu cổ xưa nổi tiếng, như văn miếu ở Trịnh Châu (thuộc tỉnh Hà Nam) được xây dựng vào đời Hán Minh đế (năm 58-75), Khổng miếu ở Bắc Kinh (năm 1306), văn miếu Thiên Tân (1436), văn miếu Bình Dao ở Sơn Tây (1163), văn miếu Chính Định ở Hà Bắc (1374), văn miếu Nam Kinh (1034) v.v… Các văn miếu trở thành trọng điểm di tích văn hóa của quốc gia.

3/. Văn miếu ở các nước:

– Đài Loan: Khổng miếu ở Đài Nam là văn miếu đầu tiên ở lãnh thổ này, do Trần Vĩnh Hoa dựng vào năm 1666. Vào ngày 28 tháng 9 hàng năm, nơi đây đều cử hành đại lễ, do đích thân thị trưởng làm chủ tế.

Khổng miếu ở huyện Đại Đồng, Đài Bắc, cũng là ngôi văn miếu danh tiếng. Năm 2008, tổng thống Mã Anh Cửu từng đích thân làm chủ tế trong ngày đại điển ở đây.

– Triều Tiên: Ngoại trừ Trung quốc ra, thì Triều Tiên là đất nước có nhiều văn miếu nhất. Khi còn là nước Cao Ly, ở đây đã bắt đầu kiến tạo văn miếu. Thời Triều Tiên Thái tổ Lý Thành Quế (1335-1408), nhà vua đã ban lệnh cho khắp địa phương các cấp đều phải xây văn miếu. Văn miếu Triều Tiên ngoài Khổng tử ra, còn thờ 18 vị thánh hiền của họ.

Tổng cộng Triều Tiên có 362 tòa văn miếu. Sau Đệ nhị Thế chiến, đất nước chia đôi, rất nhiều văn miếu ở Bắc triều Tiên bị chuyển đổi mục đích sử dụng; Nam Hàn vẫn bảo tồn và hoạt động tế tự cho 232 văn miếu trên phần lãnh thổ của mình.

– Nhật Bản: tại đây có các văn miếu cổ xưa như Văn miếu Nagasaki; Văn miếu Bunkyo-ku, Tokyo; Văn miếu Nagasaki.

– Indonesia: ở ngoại ô phía nam thủ đô Jakarta, một văn miếu được hoàn thành vào ngày 23 tháng 12 năm 2010, do Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono chủ trì lễ khánh thành, kêu gọi mọi người dân cùng nhau xây dựng một xã hội hài hòa hợp tác.

4/. Văn miếu ở Việt Nam:

Trong số các phiên thuộc của đế quốc Trung Hoa xưa kia, thì Việt Nam là nước chịu tác động văn hóa Trung Hoa sâu sắc nhất.

Văn miếu được kiến tạo sớm nhất ở Việt Nam, theo các thư tịch chính thức, là Văn miếu thời Lý ở kinh đô Thăng Long, xây dựng năm 1070. Sang đời Trần, năm 1397, các phủ đều phải xây dựng trường học, văn miếu cũng theo đó mà lan tỏa khắp nước.

Các văn miếu cổ nổi tiếng có Văn miếu Hà Nội, Quốc Tử giám ở cố đô Huế, Văn miếu Hội An, Hải Dương; ngoài ra, có một số văn miếu mới được xây dựng, như Văn miếu Trấn Biên (Đồng Nai), văn miếu Vĩnh Phúc…

Đối tượng và nghi thức thờ cúng của văn miếu Việt Nam được mô phỏng theo quy chế tế tự của Trung Hoa, tuy có đưa thêm các danh nho bản quốc vào thờ.

5/. Đề nghị cách tân Văn miếu: nhân dư luận đang xôn xao bàn cãi về việc thờ cúng ở Văn miếu Vĩnh Phúc mới xây dựng, tôi có vài đề nghị nhỏ.

Như đã nói ở trên, hệ thống và nghi thức thờ phụng của văn miếu, ngay ở Trung Hoa, qua các triều đại, cũng đều có biến cải thêm bớt các vị tiên hiền tùy theo nhận thức và nhu cầu của chính quyền.

Việt Nam có thể (và cũng đã từng) thêm các danh nho nước ta vào thờ trong Văn miếu, như Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Thiếp v.v…, nhưng thế vẫn chưa đủ, ta cần mạnh dạn cách tân hơn nữa, để văn miếu Việt Nam trở thành hiện tượng văn hóa – tâm linh có một không hai, độc đáo nhất thế giới.

Đã đành văn miếu là để suy tôn đạo học, suy tôn văn hóa của tiền nhân, nhưng nho giáo đã tự diễn biến, suy đồi tàn tạ. Ngày nay, Mác giáo mới là quốc giáo, chi phối toàn bộ lý tưởng, nhân sinh quan, vũ trụ quan của toàn đảng, toàn quân và toàn dân ta. Vì vậy, tôi dám đề nghị: ngôi trang trọng nhất trong văn miếu, ta nên dành cho thái tổ Các Mác.

Đã có Mác thì không thể thiếu Lê, huống chi Lê Nin là vị thánh chuyên cần cầu học, với câu danh ngôn chấn động mười phương: “Học, học nữa, học mãi”, bởi vậy thành ra: cạnh đó, cũng nên có một chỗ xứng đáng cho thái tôn Lê Nin.

Ngoài ra, còn ai có thể sánh vai hai vị ấy để làm thành bộ ba Tam Thánh bất hủ, ngoài Hồ Chí Minh? Chủ tịch Hồ, với tinh hoa dân tộc bốn ngàn năm kết tụ, với tư tưởng tuyệt vời đúng đắn, chuẩn nhất trong các chuẩn, là tấm gương cho đời đời con cháu chúng ta học tập và làm theo, cho nên nhất định chủ tịch phải được thờ trong văn miếu vậy!

“Tam vị nhất thể” đã có, hàng thánh hiền được tế tự trong Tân Văn Miếu thiết nghĩ nên chia làm văn võ lưỡng ban, cho thêm phần trang nghiêm bề thế.

Võ ban bên tả điện, nhất định phải có chỗ dành để vinh danh người anh hùng làm nên chiến thắng Điện Biên rúng động địa cầu: Võ Nguyên Giáp đại tướng. Kế đó là “Lưỡng quốc tướng quân” Nguyễn Sơn. Cũng nên cân nhắc thêm bớt nhiều vị tướng tài danh của nước ta nữa, nhất thời tôi chưa nhớ hết được, mong quý hải nội hải ngoại chư quân tử anh thư đóng góp thêm; tốt nhất là nên chừa vài chỗ trống để từ từ ta đưa thêm các danh tướng vào, như thượng tướng Phạm Quý Ngọ, đại tướng Phùng Quang Thanh chẳng hạn.

Văn ban hữu điện, người đứng đầu chắc chắn phải là Lê Duẩn tổng bí thư, Tố Hữu thi hào đỉnh cao chói lọi, Đỗ Mười bồ tát đại từ đại bi đại trí đại huệ v.v…

Chẳng xây thì thôi, đã làm thì phải làm cho tới bến, chúng ta quyết cùng nhau kiến tạo một kiểu Văn Miếu văn minh, làm mẫu mực cho thế giới noi theo, đó là đại phúc cho cả dòng giống Tiên Rồng, mà toàn thể loài người cũng được hưởng sái vậy!

Lê Vinh Huy. FB https://www.facebook.com/vinhhuy.le?pnref=story

Advertisements

62 Responses to Lê Vinh Huy: Sơ lược về Văn Miếu

  1. Trần Vân says:

    Người Trung Quốc hiện rất phấn khích vì nước nhà đang trỗi dậy như một cường quốc. Nhờ kinh tế trỗi dậy nên văn hóa cũng trỗi dậy, nhờ tung tiền khắp nơi nên “quyền lực mềm” cũng được xuất khẩu ra thế giới. Trong nước, người người đua nhau chạy theo cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng, cơn sốt theo đạo Nho. Chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) cũng khởi xướng cơn sốt đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Trong khi đó ở ngoài nước, Trung Quốc đầu tư lớn để mở hàng loạt các “Viện Khổng Tử” nhằm lan tỏa quyền lực mềm. Giấc mơ bá chủ thiên hạ của Trung Quốc bị dồn nén hơn thế kỷ nay lại có cơ tái xuất giang hồ. Đức Khổng Tử ở trong và ngoài nước bỗng kết thành một trận tuyến liên hoàn. Cơn sốt Khổng Tử quả là càng lúc càng nóng.
    Nhưng, đàng sau cơn phấn khích của đám đông kia, tôi cho rằng không phải là ước muốn khôi phục nền đạo đức cũ, mà là toan tính phục hồi truyền thống sùng bái thánh Khổng, một phần không thể thiếu trong kế hoạch của nhà nước nhằm đẩy mạnh chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
    Những năm sau biến cố Thiên An Môn [1989], nhà nước một mặt chống lại các nỗ lực đòi hỏi tự do, chống “diễn biến hòa bình”, một mặt lại thổi bùng tình cảm “yêu nước” cực đoan. Chủ nghĩa yêu nước cực đoan này, rường cột cho ý thức hệ mới của nhà cầm quyền Trung Quốc, kết hợp với chiến dịch quảng bá cho cái mà Đảng Cộng sản Trung Quốc gọi là “Thời hoàng kim thịnh vượng” đã làm làn sóng dân tộc chủ nghĩa dâng cao vô tội vạ. Không gì rõ hơn những dòng này ở cuối “Tế văn Vinh danh Khổng Tử, nhân Liên hoan Văn hóa Khổng Tử Quốc tế 2005, tại Khúc Phụ, Trung Quốc”. Tế văn viết những lời có cánh như sau: “Thời hoàng kim vừa đến, nuôi giấc mơ đại đồng; Mừng gặp thời thịnh vượng, và cường quốc vinh quang”. Thật là một bản song tấu rổn rảng điển hình khi chủ nghĩa dân tộc hòa vào ‘Phúc âm’ của “Thời hoàng kim”.
    Trong một năm qua, việc cổ xúy văn hóa truyền thống trên chương trình Bách gia Giảng đường của CCTV đã góp phần biến Khổng Tử thành một món hàng thời thượng, hoặc mượn lời của Lỗ Tấn, thành “‘Mô-đen’ Khổng Tử”. (Điều tương tự từng rộ lên cách đây vài năm khi Mao Trạch Đông cũng trở thành một thứ “mốt”.) Hiện sách vở đủ loại về Khổng Tử đang hốt bạc cho các nhà xuất bản, các lớp quốc học và cổ văn cũng mang lại món lợi lớn. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí mỗi người 26.000 nhân dân tệ, Đại học Phục Đán lấy mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí cao ngất ngưởng.
    Chương trình nói trên của CCTV cũng làm tên tuổi Vu Đan trở thành hiện tượng được cả nước biết. Vu Đan rao bán, thay vì rao giảng Khổng Tử bằng một giọng điệu khéo léo, kết hợp những câu chuyện cao đạo về người xưa với những kiến giải có độ sâu sắc chỉ ngang với ca từ nhạc sến. Những suy luận võ đoán, những lý giải nông cạn thường trực của bà về Khổng Tử có tác dụng như một thứ ma túy tinh thần giữa cơn sốt phục hưng đạo Khổng trong văn hóa đại chúng. Cuốn Luận ngữ tâm đắc của Vu Đan mang một thông điệp dễ dãi. Theo giải thích của Vu Đan thì Khổng Tử dạy rằng ai ai cũng có thể sống thoải mái với tâm thế thực dụng, dù gặp gì đi nữa cũng đừng phàn nàn, nếu biết thuận theo hoàn cảnh thì sẽ thích ứng dễ dàng và sống đời hạnh phúc.
    Trong khi cơn sốt đọc Khổng Tử do Vu Đan khởi xướng đang ăn khách, thì giáo sư Đại học Bắc Kinh, Lý Linh, xuất bản cuốn sách có tên Chó nhà tang – Tôi đọc Luận ngữ [1]. Bằng nghiên cứu của riêng mình, giáo sư Lý đã trục xuất những điều vớ vẩn được nói về Khổng Tử và trả ông về với hình ảnh nguyên thủy. Giáo sư Lý viết trong lời mở đầu:
    “Sách của tôi là thành quả những ý tưởng của riêng tôi về Khổng Tử. Tôi không lặp lại những gì người khác đã nói. Tôi cũng không quan tâm tới những gì Mạnh Tử, Vương An Thạch [2], hoặc bất cứ học giả lớn nhỏ nào đã từng nói về Khổng Tử. Nếu điều gì không có trong văn bản gốc, thì tôi sẽ gạt qua một bên… Nếu muốn biết đích thân Khổng Tử nghĩ gì, hãy tìm đọc văn bản gốc… Tôi không viết để dự phần vào cuộc tranh cãi của các trí thức, cũng không viết để thỏa mãn thị hiếu của đa số.”
    Và giáo sư Lý kết luận:
    “Sau khi đọc Luận ngữ, tôi thấy tốt nhất không nên đặt Khổng Tử lên bệ thờ, cũng không nên dìm ông xuống bùn, mà chỉ nên nói rằng ông rất giống Don Quixote.”
    Qua việc phản đối nạn sùng bái thần thánh và khát khao truy tìm sự thật với thái độ không mị dân, giáo sư Lý đã góp phần đả phá truyền thống thần thánh hóa Khổng Tử đã kéo dài suốt hơn 2000 năm nay. Ông viết:
    “Trong cuốn sách này, tôi muốn giải thích cho độc giả rằng Khổng Tử thực ra không phải là một vị thánh. Vị Khổng Tử mà các hoàng đế tôn sùng từ triều đại này qua triều đại khác không phải là Khổng Tử thật, mà là một Khổng Tử “nhân tạo”. Khổng Tử thật không phải là thánh, cũng chẳng phải vua, cũng không là “nội thánh ngoại vương” [trong thánh, ngoài vua] gì cả… Khổng Tử chỉ là người, một người xuất thân bình dân, luôn tin rằng kẻ sĩ cổ đại (những “quân tử” đúng nghĩa) đã định ra chuẩn mực mà mọi người nên noi theo để đối nhân xử thế; một người yêu chuộng những gì cổ xưa, học hành chăm chỉ, không nản chí; một người thầy tận tụy, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa người xưa và khích lệ học trò học tập kinh sách cũ; một người không có chức, cũng không có quyền – chỉ có học vấn về đạo đức – nhưng dám can ngăn kẻ cầm quyền; một người đi tứ xứ du thuyết, lao tâm thay cho kẻ cai trị, liều mình khuyến dụ người cải tà quy chính; một người nhiệt tình, ước mơ khôi phục đường lối nhà Chu để thiên hạ thái bình; một người luôn bị giằng xé, hoang mang, nay đây mai đó, giống hành trạng của một con chó vô chủ, lang bạt, không có nhà để về. Đó là Khổng Tử thật.”
    Trong cách nghiên cứu và lý giải Luận ngữ của mình, rõ ràng giáo sư Lý đã bỏ rất xa Vu Đan nông cạn và bất cẩn. Quan trọng hơn, ông đồng cảm được với Khổng Tử, người trí thức hơn 2000 năm trước. Ông cho biết chính Khổng Tử cũng tự nhận mình là con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Ông viết:
    “Khổng Tử tuyệt vọng với quê hương mình, cùng các môn sinh ông đi khắp nơi, làm việc với chư hầu, nhưng cũng chẳng được gì. Cuối đời ông trở về quê hương, sống những năm cuối đời với tâm trạng buồn bã. Trước khi ông qua đời, con trai và hai học trò yêu của ông, Nhan Hồi và Tử Lộ (Trọng Do) cũng mất, ông khóc thương họ cạn nước mắt. Tuy ông mất trong nhà mình, nhưng cũng có thể nói ông không hề có nhà. Những giáo huấn của ông có thể đúng hoặc sai, nhưng dù đúng hay sai, đời ông cũng phản ánh số phận của người trí thức Trung Quốc tiêu biểu.”
    Việc giáo sư Lý Linh đưa ra lời bình luận về con chó mất chủ giữa lúc cơn sốt Khổng Tử và văn hóa truyền thống đang lên cao trào, giống như ném một tảng đá to xuống nước: Nó tạo nên những làn sóng phản đối dữ dội từ những tín đồ mới của đạo Khổng. Giáo sư Lý bị đả kích cay độc, bị nguyền rủa, những kẻ bị xúc phạm đã biến bức xúc của mình thành giận dữ. Giáo sư Lý bị tố là phao tin đồn nhảm, và là một “phẫn thanh” [đọc trại sẽ thành ‘thằng ăn cứt”], những người chưa đọc sách của giáo sư Lý tự cho mình cái quyền gọi nó là “rác rưởi”. Tất cả những eo xèo này chỉ vì ông dám gọi Khổng Tử là chó nhà tang vô chủ. Điều đó cho thấy lòng sùng kính Khổng Tử của những nhà Nho mới đưa đã đưa Thánh Khổng lên vị trí bất khả xâm phạm, không ai được đụng tới. May mắn là số nhà Nho mới này không có quyền lực chính trị là bao. Nếu có quyền lực, chúng ta chắc đã phải trở về thời đại mà (như Lâm Bưu nói về Mao Trạch Đông) “mỗi lời của ngài đều là chân lý, mỗi chữ của ngài quý hơn ngàn vạn chữ của kẻ khác.”
    Giáo sư Lý Linh là một nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm túc. Ông viết: “Tôi xem Luận ngữ là một chủ đề nghiên cứu lịch sử, chứ không phải sách thánh.” Khi ông gọi Khổng Tử là chó nhà tang, ông nhắc ta nhớ rằng ở Trung Quốc thời Xuân Thu (770-476 trước CN) tầng lớp trí thức đã phải sống trong bất an, cả trong sợ hãi, tài năng của họ thường không được trọng dụng, và trong hoàn cảnh đó, một “kẻ có lý tưởng nhưng không tìm được quê hương tinh thần của mình” thì chẳng khác gì con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Nhưng, theo tôi, giáo sư Lý nói rằng Khổng Tử thiếu “quê hương tinh thần” là đã cho ông hơi nhiều điểm. Sự thật là ông đi khắp đó đây không phải để tìm quê hương tinh thần của mình, mà là tìm một chỗ để làm quan. Mục tiêu lớn của ông là trở thành quân sư, nhưng ông đã thất bại. Ông là con chó nhà tang không chủ, nhưng nếu được kẻ cầm quyền nào tin dùng, thì chú chó không chủ kia đã trở thành chó gác cửa.
    Cũng nên biết là giáo sư Lý Linh không phải người đầu tiên gọi Khổng Tử là chó nhà tang. Người xưa đã từng đánh giá ông như thế. Truyện Khổng Tử trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên (145?-86 trước CN) viết rằng, vào năm 40 tuổi, khi không đạt được gì, Khổng Tử đã than rằng “Ta cùng đường rồi!” và rằng “Chẳng chỗ nào trong thiên hạ dung được ta!” Cũng theo Sử ký, dân chúng thời Khổng Tử đã tả rằng nhìn ông “băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang”. Khi đệ tử kể lại cho Khổng Tử nghe lời nhận xét này về mình, ông đã bảo rằng nói như thế là đúng làm sao, đúng làm sao![4] Ngày nay, những kẻ “bảo vệ Đạo lý đích thực” thì cho rằng những lời nói kia của Khổng Tử là những lời tinh tế có ý nghĩa lớn lao về thuật trị quốc và dạy người. Họ bảo Lý Linh gọi Khổng Tử là chó nhà tang như vậy là phạm thượng, phản bội, vô đạo và cuốn sách đó chỉ đáng vứt vào sọt rác. Có bạn ‘phẫn Nho’ còn cho rằng giáo sư Lý “mắc bệnh thần kinh!”
    Người tôn thờ Khổng Tử có thể nguyền rủa sách của giáo sư Lý đủ kiểu, nhưng thực ra những gì ông viết về Khổng Tử, nhất là trong lời mở đầu rất thẳng thắn và thu hút, đã vượt xa những gì mà Tương Khánh và những “nhà tư tưởng mới” về Khổng Tử rêu rao. Rất nhiều học giả nổi tiếng đã đánh giá cao cuốn Chó nhà tang của giáo sư Lý.
    Trong bài viết có tên “Tính khả thi của Nhân, Nghĩa – Điểm sách Chó nhà tang của Lý Linh”, sử gia Ngô Tư viết: “Giáo sư Lý đã làm rất tốt. Các dự án văn hóa sau này cũng phải được xây dựng trên những văn bản gốc cốt lõi. Theo tôi, những phát hiện của Lý Linh trong cuốn sách nói về Luận ngữ của ông còn hay hơn những gì Chu Hy (1130-1200) nói về Khổng Tử.”
    Trong một bài điểm sách tương tự, giáo sư Tiên Lý Quần của Khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh viết: “Cách giáo sư Lý Linh đọc Luận ngữ cho thấy một điểm rất lớn đó là sự đồng cảm chân thật, ‘từ trái tim đến trái tim’ với Khổng Tử, sự đồng cảm của một trí thức với một trí thức. Sự đồng cảm này giúp ông nhìn thấy vấn đề được gói ghém trong hình tượng ‘chó nhà tang’ kia là gì. Khi tôi đọc cụm từ ‘chó nhà tang’ tôi cũng thấy có ít nhiều nhạo báng, nhưng quan trọng hơn, tôi cảm được sự trăn trở và nỗi buồn đau của Khổng Tử.”
    Trong một cuộc phỏng vấn, ông Lưu Mộng Khê, giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Trung Quốc, thuộc Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc, đã khen ngợi công phu nghiên cứu văn bản rất có trách nhiệm và cách làm việc nghiêm túc của giáo sư Lý Linh, góp phần giải độc những huyền thoại về Khổng Tử.
    Giáo sư Tần Hy tại Đại học Thanh Hoa, trong bài “Làm thế nào Luận ngữ trở thành kinh điển?” đã viết rằng: “Hiện có những kẻ tìm cách nângLuận ngữ lên thành một thứ Thánh Kinh của đạo Khổng, điều này cũng y như trước đây có kẻ muốn nâng cuốn sách nhỏ mỏng tang có tênMao tuyển lên thành ‘đỉnh cao’ của chủ nghĩa Mác. Thử hỏi sự phấn khích với Mao tuyển đã làm phong phú chủ nghĩa Mác hay đã phá thối nó? Cũng vậy, sự phấn khích dành cho Luận ngữ hôm nay sẽ tôn vinh đạo Khổng hay chỉ làm hỏng nó?”
    Trung Quốc vốn có truyền thống sùng thánh lâu đời, và trong mắt những người sùng bái thánh hiền xưa hoặc nay thì Khổng Tử nằm ngoài tầm tra vấn; ông là một vị vua không ngai đáng kính, là người nắm giữ chân lý, là quân sư của các thời đại, ông được tặng danh hiệu “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” (“Vị vua và vị thánh tuyệt hảo của văn hóa”, danh hiệu được gán cho ông vào thế kỷ thứ 14) và với danh hiệu ấy, các vị hoàng đế đứng trước ông cũng phải cúi đầu. Đối với Khang Hữu Vy (1858-1927) và Hội Khổng học của mình, Khổng Tử là giáo chủ của một tôn giáo và cũng là một vị thánh; còn đối với những nhà Khổng học ngày nay thì ông là biểu tượng cho văn hóa Trung Quốc. Với họ, mỗi câu trong Luận ngữ đều là những lời giáo huấn thấu tình đạt lý về nghệ thuật trị quốc và tu thân. Nếu thời xưa, lời xưng tụng to tát nhất dành cho Luận ngữ là câu “Chỉ dùng nửa bộ Luận ngữ cũng có thể trị cả thiên hạ”, thì câu tán dương thời nay lại là câu “Giáo huấn của Khổng Tử đã quản thiên hạ 5000 năm trước, nay sẵn sàng để quản thiên hạ 5000 năm sau.” Có kẻ còn nói “Không đọc Khổng Tử không phải là người!” Ngày nay, có những “tín đồ đạo Khổng mới” lại còn ngụy tạo ra những tin tức giật gân, chẳng hạn như chuyện râm ran gần đây, rằng vào năm 1988, 75 người đoạt giải Nobel toàn thế giới đã họp nhau tại Paris để bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người! [5]
    Trước cơn ‘tẩu hỏa nhập ma’ vì sùng bái thánh nhân này, tôi xin hỏi các nhà Nho tân thời một câu tầm phào sau: “Trong con mắt các vị thì Khổng Tử đương nhiên là thánh rồi, thế nhưng, ngài cũng chỉ là người, vậy ngài có đánh rắm phun hương không?!”
    Sự sùng bái kia khiến người ta mất khả năng phân biệt đâu là người đâu là thánh, đâu là lời nói đời thường đâu là lời phán của trời. Họ gán cho những lời dạy thông thường trong Luận ngữ những ý nghĩa thâm thúy, cao siêu. Chẳng hạn như hai câu mở đầu của Luận ngữ “Học nhi thời tập chi, bất diệc thuyết hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” (Học mà mỗi buổi mỗi tập, chẳng cũng thích ư? Có bạn ở xa nghe tiếng mà tìm lại, chằng cũng vui ư?)[6] Thử hỏi sự thâm thúy cao siêu trong câu này nằm ở đâu mà thiên hạ phải khổ công chú giải suốt suốt 2000 năm qua cho đến tận bây giờ?
    Chu Tố Nhân (1885-1967) trong cuốn Luận ngữ tiểu ký đã nói đúng: “Luận ngữ chỉ cách tu tập để thành người tốt và cách ứng xử với đời… Đó có thể là một cẩm nang hữu ích cho hậu thế, nhưng dứt khoát không được xem đó là những chân lý không bao giờ thay đổi hoặc những chuẩn mực đạo đức. Càng không nên nghĩ rằng nó chứa đựng những triết lý chính trị sâu sắc có thể trị quốc và mang lại hòa bình cho thiên hạ.” Ngay G.W.F. Hegel, triết gia lớn của Đức, cũng chỉ xem Luận ngữ như một cuốn sách ghi chép những đạo lý thường thức, không hơn không kém.
    Chính Hán Vũ Đế (156-87 trước CN) người ra quyết định “độc tôn Nho thuật” đã hóa phép cho Khổng Khâu trở thành đức Khổng Phu Tử. Con chó nhà tang chết còn bộ xương, nay bộ xương bỗng chốc phục sinh và trở thành con chó gác cửa cho các triều đại quân chủ chuyên chế Trung Hoa.
    Vì đạo Nho tỏ ra có ích cho quyền thống trị của vua chúa chuyên chế, nên địa vị của con chó giữ cửa được chăm sóc, củng cố, một khi ngồi vào chỗ rồi là nó cứ ngồi đó suốt hai ngàn năm. Và khi thần tượng của giới có học được triều đình thổi lên đến tận trời xanh, thậm chí biến thành tượng thờ giát vàng trong tổ miếu hoàng gia, thì đó là lúc trí thức Trung Hoa có tư tưởng tiến bộ bị đầy xuống địa ngục, biến thành nữ tì phục vụ quyền lực. Một trường hợp điển hình là Tư Mã Đàm (165-110 trước CN) cha của Tư Mã Thiên. Hai cha con đều phục vụ triều đình nhà Hán trong tư cách những thái sử. Khi Tư Mã Thiên vì dám can ngăn Hán Vũ Đế mà bị xử thiến, ông đã bi phẫn than rằng:
    Cha ta cũng chẳng đạt được gì đáng ghi tên vào sổ sách triều đình. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn coi thường.”[7]
    Đến thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi các cường quốc Tây phương ép Trung Quốc mở cửa cho thế giới thì hệ thống quyền lực và ý thức hệ cũ lập tức suy vong nhanh chóng. Năm 1911, khi Cách mạng Tân Hợi kết liễu đế chế truyền thống thì Đạo Khổng, hệ ý thức của vua chúa độc tài, cũng mất hẳn chỗ dựa. Một lần nữa, “chó giữ cửa” lại trở thành “chó nhà tang” lang thang xó chợ. Mặc dù Viên Thế Khải (1859-1916) đã xoay sở để trở thành hoàng đế vào tháng 1 năm 1916 và cố phục hồi nghi lễ Đạo Khổng, nhưng cũng chẳng được bao lâu. Chỉ sáu tháng sau, Viên Thế Khải chết. Sự sụp đổ toàn diện của những định chế truyền thống và ý thức hệ cũ đã diễn ra, không thể nào tránh khỏi.
    Theo tôi, khi các nhà Nho truyền thống mất chỗ dựa quyền lực thì đó là nỗi bất hạnh của họ, con chó gác cửa cung đình lại trở thành con chó lang bạt. Nhưng, nếu nhìn cách khác thì đây lại là một vận may lớn, là cơ hội để giới có học ở Trung Quốc có thể trở thành người trí thức hiện đại, có thể vứt bỏ những bệ đỡ của quyền lực độc tài mà họ vẫn dựa vào, có thể nuôi dưỡng và phát huy tinh thần phê phán độc lập. Cơ hội đã đến dù họ muốn hay không.
    Nhưng rủi thay, thời kỳ “chó lang” bất đắc dĩ này chỉ kéo dài khoảng 50 năm. Khi Cộng sản Trung Quốc thiết lập chế độ cực quyền trên toàn quốc thì người trí thức cũng chẳng còn được thoải mái làm chó hoang nữa. Phần lớn bị đàn áp, truy đánh, dập dụa như “bầy chó mắc mưa”, một số gặp thời biến thành “chó giữ cửa” cho chính quyền Mao Trạch Đông. Quách Mạt Nhược (1892-1978) là một ví dụ điển hình, trong thời kỳ dân quốc ông còn dám mắng cả Tưởng Giới Thạch, nhưng sau năm 1949 thì ông chẳng khác nào con sâu nhũn gọi dạ bảo vâng trong tay Mao Trạch Đông.
    Số phận của Khổng Tử trong thế kỷ 20 có lẽ sẽ khiến chính Khổng Tử choáng váng. Hai lần ông trở thành mục tiêu của những cuộc vận động chính trị chống lại mình. Lần đầu là trong phong trào Ngũ Tứ Vận động khởi đầu năm 1919, và lần kế tiếp là trong phong trào “phê Lâm [Bưu], phê Khổng [Tử]” do Mao Trạch Đông phát động năm 1974. Những năm sau vụ Thiên An Môn [1989], giới trí thức có khuynh hướng chống lại những gì được cho là cấp tiến, và họ xem cả hai phong trào Ngũ Tứ Vận động lẫn Phê Lâm Phê Khổng của Mao Trạch Đông là như nhau và bác bỏ cả hai. Nhưng làm như thế là họ không thấy hai cuộc vận động đánh đổ nhà Khổng này thực ra hoàn toàn khác nhau.
    Trước hết, hai cuộc vận động có điểm xuất phát khác nhau. Ngũ Tứ là cuộc vận động văn hóa tự phát từ dưới lên. Người tham gia chủ yếu là những trí thức đô thị đã hấp thu tư tưởng mới, giá trị mới, và phương pháp mới du nhập từ phương Tây, và họ dùng những chuẩn mực phương Tây để hiểu vì sao Trung Quốc lạc hậu. Họ bất mãn với quan điểm vào cuối thế kỷ 19 cho rằng việc bắt kịp phương Tây chỉ là vấn đề kỹ thuật, hay thay đổi hình thức chế độ. Họ đi đến kết luận rằng thay đổi cốt lõi phải là thay đổi văn hóa. Ngược lại, phong trào “phê Lâm, phê Khổng” vào năm 1974 là một màn vận động chính trị từ trên xuống của Mao Trạch Đông, kẻ có quyền lực tuyệt đối và muốn đưa Tư tưởng Mao lên vị trí độc tôn và không tư tưởng nào khác trong hay ngoài nước được phép có mặt.
    Thứ hai, tính chất của hai cuộc vận động này cũng khác hẳn nhau. Đối tượng mà các trí thức cách tân của Ngũ Tứ Vận động chống đối không phải là Khổng Tử thời Tiên Tần, lúc trăm nhà đua tiếng vào thế kỷ thứ năm trước CN, mà là Đức Thánh Khổng của Hán Vũ Đế, người đã đưa đạo Khổng lên vị trí độc tôn. Họ muốn đánh đổ sự độc quyền tư tưởng của đạo Khổng, của con “chó gác cửa”. Ngược lại, chiến dịch của Mao Trạch Đông chống lại Khổng Tử không liên quan gì đến nỗ lực cải tổ văn hóa, và cũng chẳng liên quan gì đến Khổng Tử. Cuộc vận động chỉ là công cụ giúp Mao cạnh tranh quyền lực với nhóm chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mục tiêu cuối cùng của Mao là hạ bệ Lâm Bưu và cảnh cáo nhà “đại nho” Chu Ân Lai.
    Nói cách khác, hai cuộc vận động chống Khổng Tử có bản chất khác nhau. Một bên là những nhà trí thức không quyền lực một bên là kẻ nắm quyền lực tuyệt đối chẳng khác gì một Tần Thủy Hoàng kiểu mới. Một bên là cuộc cách mạng văn hóa tự phát từ dưới lên, một bên là cuộc vận động chính trị từ trên xuống. Một bên cố tìm lối thoát cho văn hóa Trung Quốc, một bên chỉ mong củng cố quyền lực độc tôn.
    Đó là lý do đến nay tôi vẫn tán đồng nỗ lực chống ảnh hưởng của Đạo Khổng như Ngũ Tứ Vận động chủ trương, và tiếp tục chống đối cuộc vận động chống Đạo Khổng của thời kỳ Cách mạng Văn hóa.
    Trong luận văn viết năm 1935 “Khổng Phu Tử của Trung Quốc hiện đại”, khi Lỗ Tấn gọi Khổng Tử là thánh nhân “mô-đen” là ông có ý phê phán truyền thống tôn sùng thánh nhân của chế độ chuyên chế Trung Quốc. Ông viết: “Những kẻ đặt Khổng Tử lên bàn thờ, thánh hóa ông chính là những kẻ cầm quyền, hoặc những kẻ muốn nắm quyền. Việc này hoàn toàn không phải là việc của dân chúng bình thường.”
    Theo tôi thì tệ sùng bái thánh nhân ở Trung Quốc là một công trình văn hóa giả tạo cực lớn do các đời vua chúa cùng bọn văn nhân cung đình phối hợp tạo nên. Vị Khổng Tử mà các vua chúa và quần thần “phong thánh” đã đánh mất hoàn toàn mọi mối liên quan với vị Khổng Tử đích thực, và đáng được xem như một món hàng giả vô cùng nguy hiểm.
    Thực ra, nếu đọc kỹ các triết gia Tiên Tần, sẽ không khó nhận ra rằng tư tưởng của Khổng Tử cũng chỉ là những lời thuyết giáo đạo đức bình thường. So với Trang Tử (369-286 trước CN), Khổng Tử không có cái siêu thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, cũng không có trí tưởng tưởng đẹp đẽ kỳ vĩ, hoặc ngôn ngữ trôi chảy bất tận, cũng không có khả năng hòa quyện tri thức triết học với vẻ đẹp văn học thoát tục, hoặc tỉnh táo mà nhìn thấu đáo bi kịch của con người. So với Mạnh Tử (372-289 trước CN), Khổng Tử không có được cái khí phách của một trang nam tử, hoặc tầm nhìn rộng lớn, đó là chưa kể đến khả năng đối diện với quyền lực với thái độ đầy tự trọng, hoặc sự quan tâm thật lòng tới dân đen. Chính Mạnh Tử là người đã nói “dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. So với Hàn Phi Tử (281-233 trước CN), Khổng Tử còn có vẻ hư ngụy, giả dối, không thẳng thắn, thiếu sắc bén, cũng không có khả năng châm biếm tài hoa. So với Mặc Tử (470-391 trước CN) Khổng Tử không lấy bình đẳng làm lý tưởng và tính thiện tự nhiên, đạo đức tự giác làm nền tảng cho một chủ nghĩa mới như chủ nghĩa kiêm ái, cũng không có một hệ thống lý luận cụ thể rõ ràng nào.
    Ngược lại, những lời giáo huấn của Khổng Tử chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí tuệ lớn. Những chỉ dạy ấy cực kỳ thực dụng, khôn khéo, nhưng không có tính thẩm mĩ hoặc triết lí thâm thúy. Ông cũng không có nhân cách cao quý hoặc tầm nhìn khoáng đạt. Ban đầu ông lang bạt tứ xứ muốn được làm quan, sau thất bại bèn trở thành thầy dạy đạo đức. Danh hiệu vị thầy chăm chỉ, và “dạy người không mệt mỏi” dành cho ông thực ra cũng chỉ phản ảnh ước muốn viển vông xuất phát từ một nhân cách nông cạn. Nguyên tắc nổi danh của ông “thịnh thế tắc nhập, loạn thế tắc ẩn” (thời thịnh trị thì dấn thân, thời loạn lạc thì ở ẩn), nếu nhìn kĩ sẽ thấy đó chính là cái đạo xử thế khôn lanh, thể hiện tính vô trách nhiệm và cơ hội chủ nghĩa. Thật hoài phí và tổn hại cho dân tộc Trung Hoa biết bao khi chính nhà tư tưởng này, nhà tư tưởng thực dụng hết mực, khôn lanh hết mực, và đời thường hết mực này, đức Khổng Tử, kẻ tránh né trách nhiệm xã hội và không biết cảm thông với đồng bào thọ nạn này, đã trở thành vị thánh và là mẫu mực cho họ noi theo. Dân tộc nào thì thánh nhân nấy, và thánh nhân nào thì dân tộc nấy. Tôi e rằng toàn bộ tính nô lệ trong lòng người dân Trung Quốc bắt nguồn từ đây, một thứ siêu di truyền văn hóa kéo dài từ xưa và tiếp tục đến ngày nay.
    Ngoài việc truy tìm ý nghĩa đích thực của Luận ngữ, giáo sư Lý Linh còn muốn nhắm tới chủ nghĩa dân tộc cực đoan hiện nay của Trung Quốc. Giáo sư Lý thách thức những trào lưu thời thượng như cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng Tử, và gián tiếp đặt vấn đề về sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc. Việc Lý Linh ám chỉ Khổng Tử như con chó lang thang “không một quê hương tinh thần” cũng là để phê phán các nhà Nho mới đang ra sức cổ vũ cho Khổng Tử như vị cứu tinh của thế giới. Giáo sư Lý cho rằng: “Tôi chẳng hứng thú gì khi người ta cắm ngọn cờ Khổng Tử trên toàn thế giới. Khổng Tử không thể cứu Trung Quốc, cũng chẳng thể cứu thế giới.”
    Mục tiêu thứ hai mà Lý Linh nhắm tới là truyền thống phò quyền lực của giới trí thức Trung Quốc. Lời chỉ trích này rất thức thời vì giới Nho gia mới hiện đang tranh thủ lấy lòng giới cầm quyền. Họ độc tôn đạo Khổng, hô hào cho đạo Khổng, không phải vì muốn dùng đạo Khổng phục hồi đạo đức nước nhà, mà là họ chú trọng đến công năng chính trị “tu, tề, trị, bình” của đạo Khổng, họ muốn thống nhất chính trị và tôn giáo. Họ muốn Khổng Tử trở thành “quân sư” hoặc giữ địa vị “quốc sư”. Họ muốn Nho giáo trở thành “quốc giáo”, và họ muốn nhà cầm quyền luật hóa các mục tiêu này. Khi làm việc này, rõ ràng những nhà Nho mới đang cho thấy tham vọng trở thành “quân sư” cho các đế vương hiện đại – hoặc trở thành một dạng “vua triết gia” theo kiểu Plato, thực sự nắm quyền lực trong tay. Khi tân trang hình ảnh cho Khổng Tử, họ thực ra đưa Trung Quốc ngược trở lại với thời Hán Vũ Đế. Họ muốn tái lập thời đại mà trong đó tư tưởng đa dạng của cả trăm nhà đều bị bãi bỏ, để độc tôn duy nhất đạo Khổng, họ muốn phục hồi tệ sùng bái “thần thánh” truyền thống.
    Giáo sư Lý Linh nhận ra rằng trong lịch sử Trung Quốc, giới trí thức, vốn mang trong đầu rất nhiều điều không tưởng, chỉ thực sự hữu dụng khi nằm ngoài quyền lực và giữ vai trò phê phán nhà cầm quyền. Khi có quyền lực trong tay họ sẽ trở nên nguy hiểm, thậm chí thảm họa, cho quốc gia. Giáo sư Lý viết: “Giới trí thức, với mắt bén, đầu sáng, có thể trở nên độc tài hơn bất cứ ai. Đặt gươm đao phủ vào tay họ, thì kẻ đầu tiên mất mạng sẽ chính là những trí thức khác.” Điều này xảy ra vì thói quen của giới trí thức Trung Quốc tự cho rằng mình có trí tuệ tối ưu, đạo đức tối ưu, lí tưởng tối ưu, và sự hiểu biết tối ưu, cao hơn bất cứ ai. Họ tự cho mình cái quyền “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”, và tin rằng họ còn có thế cứu vớt mọi người thoát vòng tai ương và kiến tạo thiên đường trên mặt đất. Trương Tải (1020-1077 trước CN) đời nhà Tống tóm tắt mục tiêu của người trí thức Trung Quốc trong bốn câu sau đây: “Vì trời đất lập đạo, vì dân sinh lập mệnh, vì thánh nhân xưa mà truyền thụ giáo huấn, vì muôn đời mà mang lại thái bình.” Ngày nay nhiều trí thức Trung Quốc vẫn mang não trạng này, cho thấy truyền thống tự mãn và cuồng vọng của trí thức Trung Quốc đã trở nên thâm căn cố đế, khó thay đổi.
    Giáo sư Lý Linh muốn kêu gọi giới trí thức Trung Quốc hôm nay học lại bài học lịch sử, biết giữ khoảng cách với nhà cầm quyền, từ bỏ mộng trở thành quân sư, chấm dứt việc biến kinh sách truyền thống thành công cụ chính trị, phải giữ tính độc lập trong tri thức, tư tưởng, học thuật, phát huy tinh thần sáng tạo của người trí thức. Ở đoạn cuối lời giới thiệu sách, giáo sư Lý viết:
    “Hãy bình tâm mà đọc Luận ngữ, đừng chính trị hóa, đạo đức hóa, giáo phái hóa Luận ngữ. Mục tiêu duy nhất là tìm cho được con người Khổng Tử thật, giữa một thời đại mà, mượn chính lời Khổng Tử, lễ nhạc đã suy đồi.”
    Nếu giới trí thức Trung Quốc bỏ qua lời khuyên này, số mệnh của họ sẽ chẳng khác gì những kẻ đi trước, sẽ chỉ là những con chó chạy quẩn quanh phục vụ kẻ khác, đến khi không được ai công nhận thì trở thành chó nhà tang lang thang xó chợ đầu đường, gặp vận may được cưng chiều thì làm chó gác cửa.
    Theo tôi, đại bi kịch của lịch sử văn hóa Trung Quốc không phải là việc Tần Thủy Hoàng (259-210 trước CN) “đốt sách chôn nho”, mà chính là việc Hán Vũ Đế “bãi truất trăm nhà, độc tôn đạo Nho”. Từ chủ trương này, Đổng Trọng Thư (175-105 trước CN) đã sửa đổi học thuyết của Khổng Tử, biến những đế chế vốn dĩ được thiết lập dựa trên bạo lực trở thành biểu hiện của đạo trời. Nguyên lý của Đổng Trọng Thư, ghi trong cuốn Lịch sử Tiền Hán, cho rằng “trời không đổi gì thì không gì phải đổi” (“thiên bất biến đạo diệc bất biến”) là căn cứ để khẳng định tính hợp pháp của chế độ, rằng sự trường tồn của các triều đại là việc đã được vũ trụ an bài. Lập luận này khoác lên mình chế độ bạo lực toàn trị một lớp áo nhân trị êm ái. Đương nhiên các đế vương thấy ngay tác dụng của lớp áo ngoài này, nên đã tiếp tục lập đạo Khổng thành một ý thức hệ chính thống độc tôn và trở thành con đường chính thức để kẻ có học lập thân, có nghĩa là trở thành “đầy tớ ngoan ngoãn” cho kẻ cầm quyền. Chính Mao Trạch Đông cũng định vị thân phận của giới trí thức rất rõ ràng khi dùng câu nói “da [kẻ cầm quyền] không còn, thì lông [trí thức] bám vào đâu?”
    Trách nhiệm lớn nhất của giới trí thức Trung Quốc hôm nay không phải là bảo vệ truyền thống sùng thánh mà quyền lực độc tài chủ xướng, mà là thoát khỏi sự lệ thuộc và vị thế phục dịch cho quyền lực độc tài kia. Chúng ta cần kế thừa và phát huy truyền thống Ngũ Tứ, mà giáo sư Trần Dần Khác (1899-1969) đã tóm tắt bằng câu “tư tưởng tự do, nhân cách độc lập”.

  2. Mười tạ says:

    Đúng là đề tài xốt xành xạch, mình trèo tường vào … bỏ nhỏ, đến nơi thì đã muộn 🙂

    (vnpt vào HC được, Viettel thì ko ==> ai bảo bảo người ta mặt váy chi, hihi)

    • TC Bình says:

      Xài trình duyệt Mozilla Firefox, vào add-ons để cài đặt ZenMate. Trong ZenMate, chọn đc HongKong là OK hết.

  3. VKND says:

    Sao chả ai nói đến thờ đồng chí bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc? Không có đồng chí ta thì làm đếch gì có miếu để bàn với chả luận.

  4. TamHmong says:

    Chào TC và các bác HC. Tôi vừa gửi TC một bài top qua MAIL.

  5. Thái A says:

    Thời xưa các triều đại PK V.N sùng Nho, nhờ học theo TQ xây dựng nhà nước PK tập
    quyền, dùng học thuyết của họ để chống lại họ, giữ yên được bờ cõi giang sơn, nên xây
    Văn Miếu để tôn thờ cụ tổ Nho học thì còn có lí . Ngày nay Đảng đã làm cách mạng, lật
    đổ chế độ vua chúa xây dựng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Công Hòa rồi lại ”tiến nhanh
    tiến mạnh tiến vững trắc lên XHCN”, theo học thuyết tiến bộ Mác Lê …Mà lại xây văn miếu
    mới để tôn thờ ông tổ tư tưởng PK thì không phải việc làm trái ngược ”vô tiền khoáng hậu”
    hay sao ?! Mà nên tiếp thu ý kiến của GS Còm SĨ Lê Vinh Huy phát biểu ở Hoàng Cung cua đây mới chính xác. Hoặc giả có thể việc thờ cụ trùm Nho này cũng có ý ”chính danh” cho
    bộ máy công quyền và không khí xh V.N ta hiện nay còn đậm chất PK ! Quan lại hành chính
    thì hành xử như cha mẹ dân . Bộ máy chóp bu thì như cựu Chủ Tịch QH Nguyễn Văn An nói:
    “Đó là một tập đoàn vua” . Nền giáo dục vẫn đào tạo ra một lớp người công cụ như thời
    PK, Chỉ khác là không được làm quan tất cả những người đã đỗ đạt , còn lại làm việc khác
    cũng phải tuân theo sự chỉ đạo của quan trên …Nhưng nếu chỉ thờ mình cụ Khổng là chưa
    đủ . Phải thờ thêm 2 ông trùm Hán Nho là Lục Giả và Đổng Trọng Thư nữa mới chính xác.
    Vì từ đời Hán trở về sau Nho mới được thực hành trên vũ đài chính trị . Nhưng hai vị Hán
    Nho này đâu có làm theo tư tưởng của cụ Khổng mà đã ”sáng tạo” thêm những ”nguyên lí”
    mới như “Dương Nho âm Pháp” (Lục Giả -thời Hán Cao Tổ),Đặc biệt Đổng Trọng Thư(thời Vũ
    Đế)

    đã tổng hợp đủ thứ hổ lốn khác như “Tam Cương ngũ Thường”,”Tam tòng tứ đức” , ”Thiên nhân
    tương dữ”, rồi chộn thêm cả thuyết “âm dương ngũ hành “vào nữa . Tư tưởng KT đã bị xuyên
    tạc bóp méo đi rất nhiều không còn nguyên trạng nữa để thích hợp với mục đích bảo vệ bộ
    máy chuyên chế PK. Ngay cả việc học cũng khác xa thời cụ Khổng . Thời đó KT dạy hoàn
    toàn còn tự do theo ý mình . Từ Hán về sau được quy định phải dùng “Tứ thư ngũ Kinh “,”Văn
    Sử, Tử Tập “,để dạy , có thi cử để tuyển chọn người đỗ đạt ra làm quan (Thời KT theo cách “Cử hiền”-tức là các quan lại tiến cử người tài cho vua). Nói theo cách hiện đại là từ đây áp dụng
    đường lối “Chính trị hóa GD” (GD của các nước XHCN làm đúng theo kiểu này ) nghĩa là đào
    tạo ra con người công cụ . Các triều đại về sau cứ việc dập khuôn theo đường lối của Hán
    Nho và về sau đến Đường Tống còn bổ sung thêm phần duy tâm siêu hình vào nữa… Như vậy
    Nho gia từ Hán về sau có còn chân tướng của KT nữa đâu ? Vì thế việc thờ KT đúnglà chỉ
    còn cái bóng tượng gỗ biểu trưng cho hình hài (cũng méo mó nốt) của KT mà thôi. Sang đến
    V.N nó lại “Việt hóa” đi nữa…Thời Mao bài Khổng thật lực . Mà đả cũng phải vì Mao hoàn toàn
    ứng dụng đường lối “Dương Nho âm Pháp ”của Hán Nho (Bề ngoài nói nhân trị , ngầm hành
    động bạo lực hà khắc theo pháp trị hay ngoài nói dân chủ bình đẳng , hành động ngầm dùng
    bạo lực đàn áp thủ tiêu..). Ngày nay ĐCS TQ vẫn hoàn toàn áp dụng đường lối này chỉ thay bằng những từ mĩ miều mới để dễ lừa bịp mà thôi . Cho nên không lạ gì TQ cho thành lập các viện
    KT trên khắp thế giới với mục đich trong nước thì kích động tinh thần dân tộc, ngoài nước để
    tuyên truyền cho văn hóa và ĐCSTQ…Nước mình cũng làm theo …Đúng là” khỉ đội mũ”như
    lời Tư Mã Thiên nhận định về Hạng Vũ và người nước SỞ (phương Nam).

  6. Trần says:

    Nghe nói xem xong bài này các iem ở Vĩnh Phúc cười rất tươi và có phản hồi:

    Kính thưa bác Bác Lê Vinh Huy, để khỏi mang tiếng gần Hà Lội nhiễm tính khách sáo của người Hà Lội, chúng iem nói ngay. Chúng iem thờ ai cũng được chả quan trọng quái gì miễn có xây là chúng iem mừng bác ạ.

    Chúng iem đây cũng rất tiếp nhận vui vẻ ý kiến đề xuất của bác. Chỉ xin bác chớ vô tình hay cố ý bỏ sót hai cụ Sít-đờ-ca và Mao-chổi-sể. Chớ tin bọn phản động dựng chuyện ông cụ mình, “tinh hoa dân tộc bốn ngàn năm kết tụ” như lời bác nói, bị ủn vào tay 2 cụ này mà quên uống nước nhớ nguồn. Chúng iem xin nói có sánh mách có chứng, trích lại đây lời ông cụ mình ở Đại Hội 2 của nước mình trong Nội san Học tập số 35 của đảng bộ liên khu 4, tháng 4 năm 1951, để bác Huy xem xét:

    ……….. “Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều tiến đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).
    Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:
    (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ:Marx, Engels, Lénine)
    (Đại hội vỗ tay vang dậy)
    Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tổng tư lệnh là ông kia kìa.
    (Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí:STALINE)
    (Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)
    (Đồng chí Staline muôn năm!)
    Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở cách xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều-tiên, của Mã-lai và cuộc đấu tranh của các nước Đông-nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay dài)
    Chúng ta lại nhờ có ông anh này:
    (Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: MAO-TRẠCH-ĐÔNG) –
    (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao-Trạch-Đông muôn năm!)
    Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…
    (Đại hội có tiếng tấm tắc)
    … Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Mên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn.
    (Hồ Chủ-tịch bước xuống diễn đàn. Đại hội đứng dậy vỗ tay vang dậy và hô lớn nhiều lần: Hồ Chí Minh Muôn năm! Muôn năm!)”
    (Hết trích.)

    Nói thực với bác Huy chúng iem tam thánh cũng được mà càng thất bát thánh càng vui. Càng nhiều càng lộc. Thà nhầm hơn sót, bác Huy ợ! Riêng chuyện này, chúng iem tự nhiên như người Hà Lội, à quên, như ruồi.

  7. honghacuulong says:

    Dạ thưa các cụ các bác, nhà cháu xin kể một chuyện thật 100% của thằng bạn đồng nghiệp cháu thế này, các cụ các bác ngẫm xem “ngã tư thế sự” thế nào nhé. Chuyện xảy ra trong một công tác của nó tại một nông thôn nọ, chuyện này nó đặt tiêu đề là: “Cả làng nói đéo”, cụ thể thế này
    Tôi đi công tác xa,
    Về qua một thôn nọ,
    Gặp cậu bé đang chơi,
    Hỏi:
    – Ông chủ tịch nhà đâu?
    Cậu nhìn tôi lắc đầu,
    Rồi đáp tôi: Đéo biết!
    Tôi lại lần đi tiếp,
    Gặp một bà đang quyét,
    Bà cũng đáp nhanh nhanh:
    – Đéo ai biết nhà ấy!
    Tôi vào sâu tìm mãi,
    Cuối cùng cũng lần ra,
    Ông chủ tịch có nhà,
    Tiếp đón tôi niềm nở,
    Nhân đây, tôi cũng kể:
    Chuyện nói tục vừa qua.
    Ông chủ tịch cười khà,
    Đây chúng tôi rất bực,
    Đã dầy công giáo dục,
    Mà họ vẫn đéo nghe!
    !!!!!!!????

  8. Vĩnh An says:

    Khổng Tử vốn là thầy cúng tế , nhờ cơ duyên có được các sách cổ (của tộc Việt?) và sáng dạ nên đã tự học trở thành 1 người thông thái. Họ Khổng có chí lớn chỉ vì tài năng có hạn, “Thời vận không thông, mưu cầu vô ích”, nên sự nghiệp có thể nói là không thành lúc sinh thời.
    Tư tưởng của Khổng thực ra rất đơn giản, mô tả, định nghĩa cho 1 xã hội phong kiến đang hình thành còn sơ khai, kiểu như Marx định nghĩa về Tư Bản. Có phần phản tiến bộ, coi thường tầng lớp lao động “Tiểu Nhân”, nâng bi tầng lớp trên “Quân tử”, hạ thấp vai trò của phụ nữ “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Tư tưởng của KT có thể nói là làm cho xã hội TQ trì trệ trong 1 thời gian rất dài
    Đời sau gán vào Khổng Tử nhiều câu mà lúc sinh thời chắc ông chưa nói bao giờ, nâng ô lên tầm 1 vị thánh vì mục đích vụ lợi chính trị. Cũng giống như nhiều bài thơ kiểu HXH hay Bút Tre mà không phải của HXH hay Bút Tre.
    Cùng thời và sau Khổng có nhiều triết gia có tư tưởng tiến bộ hơn nhiều, như Lão Tử, Mạnh tử, Trang Tử …
    Trong Sử ký TMT có đoạn: “Khi Khổng Tử cáo từ ra về, Lão Tử tiễn Khổng Tử và nói :
    – Tôi nghe nói “người giàu sang lấy tiền bạc để tiễn nhau, người nhân đức dùng lời nói để tiễn nhau”. Tôi không thể làm người giàu sang nhưng trộm lấy tiếng là người nhân đức, xin có lời này tiễn ông: “Kẻ thông minh và sâu sắc là gần cái chết vì họ khen chê người ta một cách đúng đắn. Kẻ giỏi biện luận, đầu óc sâu rộng làm nguy đến thân mình vì họ nêu lên cái xấu của người khác. Kẻ làm con không có cách gì để giữ mình. Kẻ làm tôi không có cách gì để giữ mình”
    Lão Tử chống lại trí, trung và hiếu là những nguyên lý của Khổng Tử. Có trí khôn thì dễ nguy, nếu cứ theo trung và hiếu thì cứ hoàn toàn bị lệ thuộc vào cha vào vua, khó lòng sống”
    KT có lúc được Tề Cảnh Công trọng dụng. Đại thần Án Ánh can gián:
    “Bọn nhà nho chỉ là kẻ ba hoa mà không thể noi gương theo họ được. Họ kiêu ngạo, tự cho mình là phải, nên không thể để cho họ làm tôi. Họ chú trọng việc chôn cất, thương xót, làm mất nhiều gia sản để chôn cất cho được đầy đủ, không thể cho điều đó thành phong tục. Họ đi du thuyết hết nơi này đến nơi khác để kiếm ăn, không thể cho họ trị nước được… Nay Khổng Tử bày ra nhiều điều hình thức bên ngoài, ông ta làm cho cái lễ đi lên đi xuống, thành phiền phức, bày chuyện đi rảo bước và đi giơ tay, cứ như thế thì học mấy cũng không biết được lễ. Nếu nhà vua dùng ông ta để thay đổi phong tục nước Tề thì đó không phải là điều lo lắng trước tiên đến dân ư.” (Sử ký TMT)
    Chính KT đã khởi xướng cho việc chôn cất, tế lễ, cúng bái trở thành phong tục phiền hà, tốn kém như hiện nay. Nhiều vùng nhất là ở nông thôn, các họ ganh đua vay tiền xây miếu thờ, mộ chí còn hoành tráng hơn cả ngôi nhà họ đang ở. Việc cúng bái không còn là để vọng tưởng người quá cố mà chỉ để cầu tài cầu lộc. Nghe nói vị được cho là tân tổng bí tương lai cũng mê cúng bái nặng.
    Có cô bạn quen là đại gia buôn đất, mua xây bán, rồi lại mua xây bán, quay vòng đến chóng mặt cụ Hồ, cụ Franklin. Nàng có hẳn 1 nhà sư trẻ đẹp trai chuyên phụ trách khâu cúng vái, lễ lạt thường hay tháp tùng nàng trong các dịp, may mà nàng không có chồng chứ không hắn sẽ chết vì ghen.
    Chẳng hiểu có phải do tốt lễ hay không mà nàng phất lên trông thấy. Còn ở tầm quốc gia mà trông cậy vào chuyện lễ lạt, miếu thờ thì thật là … thế mà còn không cho dân quyền im lặng.

    • Hoàng cương says:

      …Theo sử ký Tư Mã Thiên thì ,khi Khổng Tử lên ba tuổi cha mất ,được mẹ nuôi dạy chu đáo . Tục truyền bà đã phải chuyển chỗ ở đến ba lần để tránh phải ở gần kẻ xấu ,kiếm tìm nơi có hàng xóm tốt . Khổng Tử sớm nổi tiếng là người có văn hóa cao . Năm 19 tuổi lập gia đình và ra làm chức “Ủy lại ” trông coi việc gạt thóc ở kho địa phương .

      Năm 33 tuổi Ngài cùng học trò là Nam Cung Quát được vua Lỗ mến tài ,ban cho xe ngựa và tiền bạc đến kinh đô nhà Chu để học thêm và khảo cứu các thư tịch cổ cũng như các phép tắc lễ nghi của nhà Chu . Sau đó Ngài trở về nước Lỗ trở thành một trí thức lớn ,Ngài đi bôn ba qua nhiều nước chư hầu ,yến kiến các bật vua chúa để mong đem học vấn và tài năng của mình ra ổn định lại thời cuộc …nhưng Ngài lại không được họ tin dùng .

      Khi đã già Ngài trở về quê hương nước Lỗ ,mở trường dạy học và viết sách . Học trò đến thụ giáo có đến ba ngàn người ,trong số đó có 72 người tài ,nổi danh rất sớm như Nhan Hồi ,Tăng Tử .
      Trong thời gian dài đi du thuyết hàng chục nước chư hầu ,về già Ngài tổng kết ” Ta , lúc trẻ mười lăm tuổi chỉ chăm chú vào việc học ,ba mươi tuổi lập thân,bốn mươi tuổi không ai lừa dối được ,năm mươi tuổi biết mệnh trời ,sáu mươi tuổi đọc gì hiểu ngay và không làm điều gì thái quá ,bảy mươi tuổi chỉ làm theo cái tâm của mình mà không ra ngoài khuôn phép ”

      Xin mời các bác …xơi 🙂

      • khochoinhat says:

        Bác Hoàng Cương xem lại chút! Hình như chuyển nhà 3 lần là bà mẹ thầy Mạnh Tử chứ ạ!

        • Hoàng cương says:

          …rất dễ bị tẩu hỏa nhập ma trong kho tàng văn hóa Trung Hoa , ta hãy nhận diện nó với mọi góc nhìn . Xin phép Tổng Cua tôi dẫn đường Lin này :
          http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/chuyn-ha-chi-ngai-vng.html

        • Vĩnh An says:

          Rất phải, sử TQ được xào xáo rất nhiều, mỗi đời xáo 1 lần, thật giả lẫn lộn. Không tỉnh đọc là bị tẩu hỏa thấy bà cố nội. Dễ nhận thấy nhất là đọc thời nhà Chu và thời nhà Thanh thấy chẳng khác nhau là mấy ngoài cốt truyện.

        • Hoàng cương says:

          @khochoinhat !
          Đoạn này mình trích trong cuốn : Kinh dịch và hệ nhị phân ( Tác giả Hoàng Tuấn ) Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin – xuất bản 2002 ( trang 05)

      • Trần says:

        Phụ họa đoạn cuối bác HCg:

        Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học
        Tam thập nhi lập
        Tứ thập bất hoặc
        Ngũ thập tri thiên mệnh
        Lục thập nhi nhĩ thuận
        Thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du cù

        Có người diễn dịch gần như ý bác:

        Mười lăm tuổi biết tu chí học hành
        Ba mươi tuổi biết lập thân
        Bốn mươi tuổi không còn ngộ nhận
        Năm mươi tuổi biết mệnh trời
        Sáu mươi tuổi thấu hiểu thế thái nhân tình
        Bảy mươi tuổi biết xử sự theo điều mình muốn.

        Ảnh hưởng Khổng Nho kéo suốt mấy ngàn năm đối với Trung Hoa và vài nước lân cận đông phương nhưng thiển nghĩ không sánh được với tư tưởng “Tự do- Bình đẳng- Bác ái”.

  9. Không ngờ không chỉ mỗi Việt Nam mình mới có Văn Miếu. Khi đọc được thì đúng là mình được mở tầm mắt ra rất nhiều. Ngoài Văn Miếu còn có Võ Miếu, khỗng những thế còn có trên nhiều đất nước mà trong đó có Việt Nam mình. 1000 năm thuộc địa có lẽ đã hòa trộn nặng nề văn hóa của Trung Quốc vào chúng ta rồi

  10. TC Bình says:

    TÀO LAO THƯ GIÃN
    Trước nói, sau khi Cu Ly Đại công tử, tức Lê Vinh Huy tức Lý Vĩnh Huê tức Vĩnh Hê Luy có bài góp ý chân thành và cực kỳ sâu sắc về Văn miếu, Hang Cua bỗng nhiên…sôi lên xình xịch.
    Lão chủ blog, vốn ăn mòn răng khoai tây, cà rốt, cần tây…nơi đất khách quê người nhưng túi quần vẫn lấp ló cọng…rau muống tức thì là mà vẫn còn rơi rớt tàn dư chế độ phong kiến trong bộ gien di truyền. Lão thầm nghĩ, đèo mẹ, nước ta giáo sư tiến sĩ nhiều như rơm như rạ. Hang Cua ta dù sao cũng có tiếng trên giang hồ, nhẽ không có vài ba chục tiến sĩ để được tạc tên vào bảng vàng bia đá thờ trong Văn miếu hòng mai hậu con cháu có cái mà…soi gương (thực ra, ý lão là học tập và noi gương cơ, lỗi này thuộc về thằng thần kinh…tư duy). Hổng làm tốt công tác này, anh em trong Hang Cua có khi tâm tư…mà chết.
    Nói là làm, lão ta triệu tập khẩn cấp Ban thường vụ…Hang Cua để họp kín. Kết quả thế nào chửa rõ nhưng theo Thông tấn xã lá ngón cho biết, mỗi ngày họp tốn sơ sơ một tỉ VN đồng không dưới. Còn theo Đài phát thanh vô tuyến truyền mồm tiết lộ, danh sách sơ bộ các đc được cơ cấu để tấn phong tiến sĩ đợt này như sau:
    -Đc Lê Vinh Huy, tiến sỹ Đông phương học, chuyên ngành…Đá đểu.
    -Đc Xang Tất Hứng, tiến sĩ Văn hóa ẩu truyền, chuyên ngành…”Tục” ngữ.
    -Đc Hồ Nỏ Thơm, tiến sĩ Tiếu lâm học, chuyên ngành…Xách mé.
    -Đc Phàm Trần Dung, tiến sĩ Rỉ tai học, chuyên ngành…Bơm thổi.
    -Đc Dân Thậm Gian, tiến sĩ Xúi bẩy học, chuyên ngành…Ném đá giấu tay.
    -Đc Nông Ly Dân, tiến sĩ Bần cố học, chuyên ngành…Ăn xó mó niêu.
    -Đc Hoàng Thường Cương, tiến sĩ Thi bất vận học, chuyên ngành…Mơ mộng.
    -Đc Cao Dao A Công, tiến sĩ Sưu tầm học, chuyên ngành…Hái lượm.
    -Đc Nguyễn Ngả Vội, tiến sĩ Kiú tế học, chuyên ngành…Mỡ treo mèo nhịn đói.
    -Đc Thách Không Ôm, tiến sĩ Nhí nhảnh học, chuyên ngành…Lí lắc…cà rem.
    -Đc Hăm Toàn Mông, tiến sĩ Chạy chợ học, chuyên ngành Cân điêu.
    -Đc Phi Như Sóc, tiến sĩ Kiêng khem học, chuyên ngành Ăn liều tiêu bậy.
    -Đc Tạ Như Tấn, tiến sĩ Xiên lình học, chuyên ngành Bỏ nhỏ.
    -Đc Lu Hũ Bình, tiến sĩ Lang băm học, chuyên ngành Dương suy kích âm.
    Cuộc họp cũng đã dự kiến phong hàm Dáo xư cho tiến sĩ Dáng Cong Thế, hàm Xiêu Dáo xư cho Dáo xư tiến sĩ Over Dose, ngành Hải dương…dật, chuyên ngành Rươi nước cống.
    Cuộc họp vẫn đang tiếp diễn. Danh sách tiến sĩ còn dài dài…

    Lang Bình, truyền khẩu theo Đài phát thanh vô tuyến truyền mồm. Đc nào có thắc mắc khiếu nại xin thì thào cho biết.
    🙂 🙂 🙂

    • Mike says:

      Nào là “văn hoá ẩu truyền”, nào là “chuyên ngành Cân điêu”, cười không chịu nỗi.
      Rồi TS Over Dose .. ngành Ruơi nước cống. Cụ nghĩ đâu ra lắm tên hay ngành độc đáo.

    • ngavoi77 says:

      “Mỡ treo mèo nhịn đói”??? ý lão xỏ xiên đ/c ấy ế lòi mắt?! 😉

      • TC Bình says:

        Ai dám nói ế lòi mắt 🙂
        Quá lắm, nghĩ thầm là ế trương ế chảy là cùng 🙂

  11. HỒ THƠM1 says:

    Chỉ với 300.000.000.000VND ( Bọn bần lông đánh vần cả ngày rồi đọc trệu trạo là…Ba trăm tỷ đồng!) các Cụ lớn ở Tổng Vĩnh Phúc đã xây dựng được cái Văn Miếu to nhứt nước. Thế mới hoành!
    Công trình này nghe nói các Cụ lớn Vĩnh Phúc vừa ấp vừa ủ đã 18 năm tròn đăng đẳng.
    Thế mới biết các cụ í đã quan tâm đến Đạo học dư lào! Hoan hô các cụ phát trước khi nói tiếp! Hi hi…!!
    Nhưng hỡi ôi, các Cụ mần cái Văn Miếu xứ Vĩnh xong thì loay hoay như gà ăn phải bọ xít , cụ nọ ngó ông kia, bà kia dòm ông nọ, chưa biết phải thờ Ông nào (!?) Nhiều sử da thì chắc như đinh đóng chuối rằng Văn Miếu thì phải thờ đồng chí Khổng Tử, Cụ Dương Trung Quốc thì nhấm nhẳn …Đã “Văn Miếu” thì phải thờ Cụ Khổng, không thờ đồng chí Khổng thì sẽ thành …Văn Mếu, hu hu…!!!
    Cụ Quốc cũng kêu gọi bây giờ việc đã rồi, gạo đã thành bánh đúc rùi, không nên chỉ “chích” các Cụ lớn ở Tổng Vĩnh Phúc nữa làm các cụ í giận, mà phải thật bình tĩnh, tỉnh táo, khôn ngoan, sáng suốt, biện trứng…phải dùng con mắt chiến lược để xem thử nên sửa tên thành gì và thờ cụ củ nào!
    Tui là công dân nước Việt, trước sự việc đã rồi xin hiến kế cho Vĩnh Phúc như ri:

    Đổi tên là Văn Mếu Vĩnh Phúc, đương nhiên không thờ đồng chí Khổng Tử mà vẫn phải đạo và hợp Hiếp Pháp!
    Bàn thờ cao nhất thờ Đức Các Mác Thái Tổ. Bàn thờ dưới tí thờ Đức Lê Nin Thái Tôn ( Theo gợi ý của cụ Levinh Huy). Bàn thờ giữa thờ Văn Ba Thánh Tổ. Tả phù thờ Đức Thánh Võ Đại tướng quân, Hữu bậc thờ Nhân thần Tổng bí Duẩn Lê!

    Ngoài hành lang thờ tổng cộng 111 vị thần văn võ sáng rực trời Nam ( Cụ nào chết rồi thì có bài vị, cụ nào chưa chết thì đặt cục gạch để đó thờ sau 🙂 ) Gồm các đại thần văn võ lẫn lộn: Tố Hữu, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười, Nguyễn Phú Trọng…

    Ngoài sân đặt cục gạch chờ…thờ các văn thần hiển hách: Thần Thi Hoàng Quang Thuận, Văn Thần Hữu Thỉnh Thị…
    Ngoài sảnh đường lập một nhà bia Tiến Sĩ (Nhà bia Tiến Sĩ ở QTG vẫn để nguyên không được dời vào đây). Văn Bi (bia) Tiến Sĩ thời @ không để Rùa đội bia nữa mà là tượng của chính Tiến Sĩ đó ngồi trên …hai hòn bi, nên gọi là Văn Bi Tiến Sĩ! :mrgreen:

    GSTS Hoàng Chí Bảo đặt cục gạch vào Văn Bi trước! 🙂

  12. Vĩnh An says:

    Không có bằng chứng nào cho thấy nền văn hóa Khổng Tử có thể kiềm chế sự hung hăng của Trung Quốc. Từ xưa đến nay văn hóa triết lý của họ đều sùng bạo lực, khi mạnh họ ưa thích sử dụng vũ lực để bành trướng như con hổ đói. Khi yếu họ là những con cừu cho kẻ mạnh hơn vặt lông.
    Học giả Mỹ phán : Khổng Tử cũng không ngăn nổi Trung Quốc dùng vũ lực ở Biển Đông

    chân dung Khổng Tử
    TQ dựng lên xác ướp Khổng tử, gán vào miệng ông tạp phí lù các câu răn dạy triết lý, thành 1 thứ quyền lực mềm đối trọng với dân chủ Hoa Kỳ. Cụ Khổng mà sống lại chắc sẽ ngạc nhiên lắm bảo: Điêu, tao có nói thế đâu.
    Nhiều tư tưởng của Khổng tỏ ra nguy hiểm, kiểu như:
    “Mao xử Khổng tử, Khổng bất tử bất trung”
    “Tập xử Chu tử, Chu bất tử bất trung” ( Chu=Chu Vĩnh Khang)
    “X xử Cù tử, Cù bất tử bất trung” ; “Dân rủa X tử, X bất tử bất trung”
    Hôm nào khánh thành Văn miếu Vĩnh Phúc nhất định phải có màn múa ấn tượng như dân Taiwan đã làm trước đền thờ họ Khổng

    • ngavoi77 says:

      Cái hình cụ Khổng nhìn mắc cười quá à, anh Vĩnh An 😀
      Em Voi chẳng biết tướng số gì đâu, chỉ là thường nghe các cụ bảo, “răng thưa nói dóc.” Căn cứ lời tiền nhân từ đó suy ra cụ Khổng nhà bạn vàng là người nói dóc thành thần. Chuẩn luôn rồi!!! 😛

      • Vĩnh An says:

        Chào Voi, VA cũng không chắc họa gia này vẽ KT có chuẩn không nhưng căn cứ vào những gì được coi là của KT thì bức họa này lột tả rất chuẩn 😀
        Trước báo orgonok LX có mở cuộc thi ảnh chân dung người TQ đặc trưng nhất. Giải nhất là bức ảnh 1 binh nhì mắt híp mặt nhọn, môi mỏng mím chặt trong bộ quân phục với 2 miếng tiết đỏ lòm trên vai áo. Để VA thử tìm lại xem. Hay Hang Cua ta mở cuộc thi nhỉ: Khuôn mặt bành trướng đặc trưng.
        Vị ptt gốc tàu có 1 bức ảnh trên báo giấy Thanh niên online trong tư thế hơi cúi xuống bên bàn làm việc, mắt lại nhìn ngược lên sau cặp kính trên khuôn mặt múp míp trông rất đặc trưng, rất ấn tượng, rất lột tả, rất rất… Chỉ tiếc là VA không kịp scan lại. Sau có tìm trên mạng nhưng không thấy. Tay phó nhòm này quả thật đáng nể, có ai làm ở báo TN tìm hộ với

      • Hiệu Minh says:

        Mình cũng quen vài cô răng thưa, có người phải dùng đũa xỉa răng, nhưng không hề nói dóc như Vĩnh An 😛

  13. Dove says:

    Hôm nay ông Phó trưởng Ban tổ chức quận ủy Cầu Giấy bị đưa ra tòa xử với tội danh giết người.

    Ảnh VNnet.

    Ko thây các cụ Phạm Văn Nghị và Tô Huy Rứa tham dự với tư cách đại diện hợp pháp của các pháp nhân liên đới.

    Mặc dù đã cố gắng, nhưn Dove ko thể đoán ra ông Phó Ban trong số 3 bị can. Căn cứ tinh thần lạc quan, có lẽ đo hẳn là quý ông ở bìa phải. Nhưng ko dam chắc, mong được trợ giúp.

    • ngavoi77 says:

      Cụ Nghị và Rứa có thương thằng em cũng không dám đến dự bởi lý do như sau:
      Sau khi thằng em phạm tội, gần như ngay sau đó thằng em đã bị cắt hết mọi chức vụ và khai trừ khỏi đảng, tống cổ nó về làm thằng dân. Điều tra xét xử là điều tra xét xử thằng dân nhé, ứ phải xét xử đồng chí Phó trưởng Ban tổ chức quận ủy Cầu Giấy nhé! Do đó, làm gì có chuyện cán bộ, đảng viên phạm tội mà sếp đi dự. Chỉ là thằng dân phạm tội thôi ạ!
      Có câu rằng:
      Bổng lộc vinh quang thời đảng hưởng
      Nghèo khó suy đồi ấy thằng dân 😉

      • Dove says:

        Cái nghĩa đồng chí ngày xưa nó thiêng liêng ghê gớm lám Ngà Voi à:

        Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
        Kiếm nguồn tươi sáng

        Nay doongf chí lâm nguy cụ Nghị và cụ Rứa ko đến, Dove bỗng cảm thấy nhân tình thế thái chơi vơi.

        • ngavoi77 says:

          Nghĩa đồng chí còn vương còn nặng ở lứa các cụ cao tuổi và không địa vị thôi anh ạ. Nhưng cũng tùy người.
          Cái thời võ tướng chấp nhận im lặng cố giữ mạng mình để mặc cho lính của mình bị tùng xẻo có xa lắm đâu. Tấm gương còn sờ sờ ra đó, anh Dove. Người vậy được tôn sùng, vinh danh thì đừng trách sao hậu thế sống cạn tàu ráo máng với nhau và sự tử tế, trọng nghĩa dần mất dấu.
          Biết anh đau. Nhưng anh cần chấp nhận thực tế là đảng cộng sản bằng cách trực tiếp hay gián tiếp đã dạy con người ta ra như thế.

  14. Hoàng cương says:

    Họ Lê toàn dân giỏi Lê Duẩn ,Lê Văn Tám ,Lê Vinh Huy … quá tài 🙂

  15. Dove says:

    Sự thực mà LVH ko biết .đó là ở VN số người thờ Văn Ba hơn hẳn số người thờ Khổng tử hoặc chúa Giesu. ngoái vô số bàn thờ và miếu mạo thì lăng Văn Ba ở quảng trường Ba Đình về cơ bản hơn hẳn Văn Miếu mới xây, người đên viếng thăm ko bao giờ ngớt:

    “Ngày dòng người…đi trong thương nhớ…
    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín…mùa xuân
    Bác nằm trong lăng, giấc ngủ bình yên
    Như một vầng trăng sáng trong dịu hiền ”

    Vậy cái Văn miéu mới xây theo kiểu TQ thì Văn Ba ắt nhường cho người khác.

    Dove đã đinh ninh như vậy bèn đi khắp nơi chọn đất. Bỗng một hôm chợt nhận ra về mặt phong thủy, Học viện Hành Chính Quốc gia rất ko hoàn chỉnh vì thiếu hẳn một khu miếu mạo đền thờ. Như ta biết, đây là một cơ sở giảng dạy lý luận Mao và Sít lâu năm, có bài bài vào loại top 10 thế giới.nay bắt đầu mở rộng sang kinh tế thị trường, vậy có đề nghị như sau:

    1) Chọn khu đất rộng ở gần cổng chính quy hoạch thành 3 thửa gọi là khu Tam Miếu: ở trung tâm là Mỹ miếu thờ ông H. Truman – người có công đầu trong việc ủn Văn Ba vào tay Mao và Sít, bên tả là Hoa Miếu thờ Mao Trạch Đông, còn bên hữu là Xô miếu thờ I. Stalin.

    2) Cử 3 phái đoàn đến tận quê các vị tổ sư rước đất từ chính ngôi nhà các vị đã sinh ra đủ để đổ nền móng cho từng ngôi miếu.

    3) Thể theo cái tình VN Trung hoa núi liền núi sông liền sông, cử ngay “thần đèn” di văn miếu mới xây về lập Hoa miếu trước. Những việc liên quan đến Mỹ miếu và Xô miếu thì cứ tuần tự mà làm.

    Mong cả làng xem xét và cho ý kiến trước khi Dove trình lên cụ Tô Huy Rứa để ra quyết dịnh.

    • huu quan says:

      ủa hộ pác Dove có ý tuyệt vời như thế. Nhưng bên cạnh Tam Miếu nên xây thêm khu sám hối. để cho những ai lỡ rơi vào cảnh bị Tam Miếu kìm kẹp hay là ép thiên hạ chui vô vòng cương toả có thể đi qua mà sám hối, ân hận.

      • Dove says:

        Khu sám hối nên đặt liên thông với bảo tàng Hỏa Lò. như vậy gọi là tránh vỏ dưa đụng vỏ dừa. Kiểu gì cũng đau.

    • HỒ THƠM1 says:

      Lão Đốp!
      Là Cháu ngoan của Bác Hồ, lão có trách nhiệm “giải trình” những câu thơ tối nghĩa này cho quần chúng bần nông được rõ ( Nếu không giải trình được thì phải đòi ông nhà thơ này giải thích cho rõ:
      Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
      Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
      Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
      Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

      Như ông nhà thơ này nói, thế thì có một “mặt trời đi qua trên lăng” là rõ ràng rồi, chúng sinh ai cũng thấy cả, vậy còn một mặt trời nào trong lăng mà “rất đỏ” nữa, hả!?

      Xong rồi:

      Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
      Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

      Thế trong lăng sao vừa có cả Mặt trời, vừa có cả Mặt trăng chen chúc nhau thế? Nhật thực à!??
      May mà ông nhà thơ ni chưa viết …”Bác là Sao Kim tỏa sáng thâu đêm” nếu không thì trong lăng vừa có cả mặt trời, mặt trăng, sao kim, lúc đó…”con ở Miền Nam ra thăm lăng Bác” cũng quáng cả gà, không biết đâu mà lần! 😯

      • Vĩnh An says:

        Nhà thơ này rất có kiến thức về thiên văn, “mặt trời đỏ” là mặt trời đã tắt.
        Về lý thuyết thì sau 4 đến 5 tỷ năm nữa MT sẽ tắt, lúc đầu nó sẽ chuyển sang màu đỏ, tối dần rồi sang màu trắng, còn gọi là sao lùn trắng ( nếu gọi là “vầng trăng dịu hiền” cũng không sai) nó cứ sáng thế vài trăm triệu năm nữa. Các phân tử MT mất hết các nguyên tử sẽ biến thành 1 hố đen, tức là 1 khối vật chất bé tý nhưng khối lượng rất lớn, hút hết mọi thứ vào đó.
        Đoạn này thì chắc là thơ không dám nói 😀
        Vậy lão Thơm đừng bẻ hành bẻ tỏi lão Dove nữa nhé

      • Thanh Tam says:

        Cụ Hồ Thơm 1 phải nghe ” Đại cục ” của bài hát , Cụ cứ vặn vẹo các Nhà thơ, Nhạc sĩ làm cho các cháu đến mùa thi mà đụng chạm đến các chủ đề này thì không biết đâu mà bình ! Một số Nhạc sĩ tên tuổi và ca khúc làm chúng ta mê tít từ hồi tuổi trẻ đến nay đầu bạc mà mấy đứa cháu đòi Ông giải thích , Ông cũng xin chịu : Như bài Tình Ca của Cố nhạc sĩ Hoàng Việt chẳng hạn :
        “…. Em có nghe tiếng ca chứa đựng hận thù sâu xa
        Đã biến tình đôi ta thành những cánh sao toả sáng
        Vượt băng băng qua đêm tối tìm hương hoa …”
        Cháu tôi hỏi sao các cụ ngày xưa lại vượt băng băng qua đêm tối đi tìm hương hoa hả Ông?
        Lại Bài Người đi xây hồ Kẻ gỗ của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nữa : ” Nay da em nâu tươi màu suy nghĩ ….” Da em nâu tươi màu suy nghĩ là gì nhỉ ?
        Thôi Các Cụ ạ, các nhà Văn nhà thơ, nghệ sĩ có ví von khó hiểu thì cố mà hiểu , Thường thì ngợi ca Lãnh tụ người ta hay ví với mặt trời mà, Hồi Cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc người ta in đầy trước tác của Mao Trạch Đông và chỗ nào cũng có huy hiệu Mao đỏ chót với mătj trời , mang sang cả nước ta phát đầy, cho không ! Đến khi các Lãnh đạo , Nguyên Soái gần mặt trời Mao đều bị ” Mặt trời ” thiêu ra tro như Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ , Bành Đức Hoài … Thì thấy rằng các cụ nhà ta nói cũng không sai : Gần lửa thì rát mặt ! có thể bị thiêu luôn .
        Chỉ có Ông Nhà thơ , Nguyên ủy viên Bộ CT là dám ví von mặt trời với bé con thôi nè :
        ” Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
        Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng . ” ( Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ “

      • Dove says:

        Lão Hồ Thơm nên theo đuổi một môn khoa học thuần lý nào đó vì não trạng và tâm thức ko phù hợp cho nghệ thuật, đặc biệt là thi ca..

        Dove tôn thờ Văn Ba nên thấy bất cứ cài gì đẹp đều gán cho cụ: một chút mặt trời, một chút vầng trăng, một chút cốt cách tiên phật… Tâm hồn của Dove là một cánh đồng mênh mông, rộng mở cho “hư cấu” thanh cao và vì vậy ko còn đất cho khoa học thuần lý trần tục của Hồ Thơm.

  16. huu quan says:

    lâu lăm mới gặp pác Huy, dân Biên Hoà- Đồng Nai như pác mà bàn về Văn Miếu thì có lẽ chỉ thua mấy anh ở Quốc tử giám bàn thui. Và nhớ nhắc pác Tổng Cua khi mời pác Huy uống nhớ kêu iem, iem uống phụ cho. Dân “mở cõi” như tụi em thì thấy gựu be là mắt sáng lên liền à!

  17. HỒ THƠM1 says:

    Lão Levinhhuy mà bình loạn zìa chuyện Tàu thì thôi rồi, nhất là zìa đồng chí Khổng Tử 🙂 .
    Chiều zìa đọc tiếp rùi tính sau! 😛

    • Trung Hieu says:

      Tụi trẻ như bọn em gọi những người nhue cụ Levinhhuy là thâm nho nhọ …. não

  18. Thanh Tam says:

    Tôi thì cho rằng Cụ lên Vinh Huy có thâm ý , các Cụ nghiên cứu câu này thì rõ : ” Văn ban hữu điện, người đứng đầu chắc chắn phải là Lê Duẩn tổng bí thư, Tố Hữu thi hào đỉnh cao chói lọi, Đỗ Mười bồ tát đại từ đại bi đại trí đại huệ v.v…” Với ý tưởng này , có thể Tỉnh Vĩnh Phúc sẽ bổ xung thêm kinh phí để Văn miếu này hoành tráng hơn Văn miếu thờ Khổng Tử ở Khúc phụ, Sơn Đông Trung Quốc ! Có thể bổ xung những Tiến sĩ , thượng tọa Đại bồ tát ,Đại biểu Quốc hội Thích Thanh Quyết với những câu nói nổi tiếng : ” Việt Nam cần xây dựng quân đội hùng mạnh như quân đội Băc Triều tiên”
    ” Phật có nghìn tay nghìn mắt mà vẫn sử oan sai cho Thị Kính ….. Vua Lê sử Oan sai cho Nguyễn Trãi trong vụ án Lệ Chi Viên ….” ! Cụ Vũ Khiêu, Cụ Nông Đức Mạnh….

  19. ngavoi77 says:

    Trong cuộc họp giao ban của các bộ ngành về việc tiếp thu ý kiến đóng góp của quờn chúng nhơn dân, người chủ trì cuộc họp hắng giọng, “Á há…các đồng chí phải xem lại. Dạo gần đây dư luận nổi lên luồng ý kiến cho rằng chúng ta không biết lắng nghe ý kiến nhân dân. Các thế lực thù địch lợi dụng chuyện này vẽ tranh châm biếm, viết truyện cười, chửi bới khắp nơi hòng làm cho quần chúng nhân dân mất tin tưởng vào sự lãnh đạo tuyệt đối, sáng suốt của ta và đó là diễn biến hết sức phức tạp, suy thoái đạo đức, lý tưởng cách mạng. Chúng ta phải lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, tiếp thu, nghiên cứu một cách hết sức cụ thể và bằng-mọi-cách phải làm cho được 100% quần chúng nhân dân đồng thuận. Có thế thì ta mới tiến nhanh tiến mạnh và tiến thẳng đến thiên đường xã hội chủ nghĩa..”

    Hội trường im thít. Văng vẳng tiếng con ruồi đập cánh, vo ve. Bỗng một giọng nói rụt rè cất lên, “Dạ, kính thưa: đồng chí chủ tịch hội nghị, đồng kính thưa đồng chí kính thưa… Nhằm đập tan âm mưu diễn biến và tự diễn biến trong quần chúng nhân dân về việc đòi tự do, dân chủ, các quyền vớ vẩn như quyền im lặng, quyền mở miệng, quyền phản đối, quyền lập hội, biểu tình..vân vân và vân vân..thì chúng ta đã cho xây một văn miếu hoành tráng để tôn thờ các giá trị, triết lý xưa cũ mượn từ bạn của chúng ta. Văn miếu lập ra để bảo tồn và phát huy truyền thống trung ương tập quyền “Tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức” mà theo mặt trái của hội nhập đang dần dà bị mai một. Cũng vì việc này mà các thế lực thù địch điên cuồng chống phá. Chúng đòi ta phải lắng nghe ý kiến của dân-những người có tri thức thấp-và đòi phải minh bạch tài chính-việc mà ta không-thể-làm-được vì làm thì…anh em sẽ rất tâm tư. Tôi có một đề nghị rằng chúng ta phải học tập tiền nhân lùi một bước để tiến chục bước, đi tắt đón đầu bằng cách lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân một lần. Và đây, tôi vừa đọc được ý kiến đóng góp xây dựng về việc thờ phụng trong văn miếu mới của công dân Lê Vinh Huy. Quả là một sáng kiến tuyệt vời, trung kiên, sâu sắc, thể hiện được tấm lòng son sắc. Một công đôi việc, chúng ta sẽ được tiếng là lắng nghe và thực hiện ý kiến của quần chúng nhân dân và đồng thời đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch…”

    Ý kiến của công dân LVH được cấp tốc in ra, phát cho hội nghị. Sau giây phút sững sờ, sụt sùi, mọi cảm xúc vỡ òa giải thoát với những giọng bắc trung nam đủ cả cùng đồng thanh: “Chân cmn lý đây rồi!”

    Một năm sau, vị đại biểu phát biểu năm ngoái trở thành bộ trưởng bộ văn hóa, các văn miếu thờ “Tam vị nhất thể” Mác-Lê-Hồ mọc lên khắp nơi. Nhà nhà, người người thờ phụng khói nhang thành khẩn. Các thế lực thù địch phản động tự động giãy chết. Và….anh Lê Vinh Huy vẫn ngày ngày chăn vịt!

    • PV-Nhân says:

      * Nữ còm sĩ Voi, viết còm vừa sâu vừa…sắc. Rất đáng hoan nghênh. Riêng cựu, nguyên còm sĩ Huy tỏ ra thấu đạt, chuyên cần học tập…tư tưởng. Chủ tịch Cua lại cho đăng bài này,,,Rất đáng tự hào trí tuệ đỉnh cao. Hang Cua sẽ sống, sẽ sống mãi…trong sự nghiệp của các còm sĩ…
      Tiện sĩ từ nơi xa xăm, góp chút luận bàn với Còm sĩ Huy:
      – Văn Miếu đầu tiên do vua Lý lập ở Thăng Long cuối thế kỷ 11. Miếu thờ Phu Tử, Chu Công…cùng là 72 hiền nhân, gọi là Thất Thập Nhị Hiền. Đáng tiếc toàn là người Trung Hoa. Nào là Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử…cùng là các môn đệ Khổng Tử như Nhan Hồi, Tử Lõ, Tăng Sâm…
      – Hàng trăm năm sau, thời Trần. Người Việt duy nhất được thờ ở Văn Miếu là Chu Văn An. Ông người Thăng Long, đỗ đại khoa nhưng không màng danh lợi. Mở trường dậy học. Học trò toàn đỗ đại khoa, chức tước ngang hàng bộ trưởng bây giờ. Trò đến tạ thầy phải khoanh tay đứng chờ. Kẻ nào thuộc loại tham quan, mặt béo bụng phệ…Thầy đuổi, không tiếp!!!
      – Vua Trần mến trọng, mời CVAn về Văn Miếu dậy học. Thái Tử Hạo ( tức Dụ Tôn sau này) ham chơi biếng học. CV-An buồn, về quê.
      – Dụ Tôn lên ngôi chỉ mới 6 tuổi. Vua chẳng biết gì. Lớn lên ở tuổi đôi mươi, vua sống giữa cung tần mỹ nữ, bắt đầu biết thèm hương thơm từ da thịt đàn bà…nhưng trên bảo dưới không nghe…Vua buồn như chấu cắn…
      -Có danh y cho vua uống thuốc, lại nói nên gian dâm với kẻ gần gũi…Vua tin và ứng nghiệm. Vua gian dâm toán loạn…Vua hài lòng…
      -Đã thế, vua thích rượu chè…Zô 100%. Kẻ nịnh thần bày trò thi uống rượu. Kẻ nào càng uống rượu nhiều, có khi được phong chức tước…
      – Hiền sĩ Chu Văn An bức xúc vận nước, dâng sớ xin vua Chém bảy quyền thần. Gọi là Thất Trảm Sớ. Vua không nghe…Cuối cùng sự nghiệp nhà Trần tiêu tan…
      -Lịch sử thường lập lại…

      • Ha says:

        Sao toàn thờ “Tử” thế này, nào là Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử…Chắc sắp tới sẽ thờ Tự Tử, hihi.

      • ngavoi77 says:

        Dạ, con Voi đu càng ăn theo anh Ly thôi ạ 🙂
        Cụ PV Nhân thấy Voi với cụ Ly mần dư luận viên cao cấp có được không? Kiểu này ban VHTTTW phải trả lương 20 triệu tiền đồng ông cụ/tháng mới xứng, cụ nhỉ! 😛

    • trungle118 says:

      càng ngày thấy từ ngữ bác Ngà Voi càng tự diễn biến đấy nhé. 🙂

  20. Dân gian says:

    Đề nghị kết nạp ngay đồng chí Lê Vinh Huy vào đảng CSVN, điều về ban xây dựng đảng, trợ lý cho TBT, tiến sĩ xây dựng đảng Nguyễn Phú Trọng.

    Một ngôi sao sáng trong phong trào CS mà sao lại để lọt đến tận bây giờ? VN đâu thiếu nhân tài?

  21. TC Bình says:

    Chả biết Cu Ly Đại công tử bỏ Hang ta đi luyện Tịch Tà Kiếm Phổ thế nào mà nay “yêu” Mác-Lê còn hơn cả…Dove mới tài!
    Lão Dove đâu rồi, cho một tràng pháo tay nào.
    Lão Ngọ100.000usd phen này tha hồ “lên mặt xuống chân” nhá! 🙂

    • HỒ THƠM1 says:

      Lão Levinhhuy đã luyện thành công Tịch Tà Kiếm Phổ và đã tái xuất giang hồ! Chúc mừng lão Ly tái chui Hang!
      Lão Đốp lâu nay ít chui Hang nhỉ? Có lẽ lão bận đi dự Đại Hội cháu ngoan Bác Hồ lần thứ mấy! Lão cũng đang luyện Quỳ Hoa Bảo điển! :mrgreen:

  22. Khan says:

    Tem. Chào cả hang

%d bloggers like this: