Gặp những dị nhân đất Hà Thành

Quán bia GoldMalt. Ảnh:  Phạm Cách Thành.

Quán bia GoldMalt. Ảnh: Phạm Cách Thành.

Hôm thứ 4 (11-3-2015), em Ngà Voi nhắn qua FB, anh Cua tới quán beer Tiệp Gold Malt ở đầu đường Ngô Thì Nhậm, có anh Ba Tê ở đó. Tới nơi thấy một anh cười cười, nói giọng miền Nam và bảo em Cua ngồi đây, làm cốc beer.

Mình chưa gặp anh Ba Tê lần nào, nhưng nhớ vì chụp được pô ảnh người đàn ông có râu trắng dài, trông rất ấn tượng, trong đoàn người đi viếng tướng Giáp. Mình post lên blog hồi năm 2013, có nhiều người nhận ra…anh Ba Tê.

Nhưng anh này không có râu, chỉ có ria mép. Nghĩ là nhầm với ai, liền nhấc phone gọi cho Voi, em bảo, đợi chút em đang đến. Thế là đành nói chuyện với người “lạ”. Anh ý bảo, anh biết em, thỉnh thoảng có đọc… Một lúc mới biết anh là blogger Đoàn Nam Sinh từ Sài Gòn ra chơi.

Một lúc sau thấy một bác gầy gò, tóc dài lưa thưa, cười rất hiền, đi với một bác khác cũng vậy. Bác để hộp salad trên bàn và bảo, em ăn đi, anh làm lấy đó. Chẳng ai giới thiệu tên, mình không hiểu có phải là nhóm mà Voi nhắn gặp không? Nhưng trót rồi, cứ ngồi chơi cho vui. Beer vào là quen hết.

10 phút sau thêm một bác tóc dài, ria mép, gầy gò, dáng dấp nghệ sỹ thời Văn Cao, Trần Dần. Một bác hút tẩu, một bác hút thuốc lá phì phèo. Và cuối cùng là anh Ba Tê và em Voi xuất hiện. Lúc ấy mình mới biết là “đúng người đúng việc”.

Hóa ra các cụ này tụ tập hàng ngày từ 7 giờ tối tại quán beer Gold Malt, có “UV BCT” chính thức là ngày nào cũng đến, có UV dự khuyết, một tuần 4 tối có mặt. Các bác về hưu, có thời gian rảnh nên làm vài cốc beer tươi đến 9-10 giờ tối mới về nhà.

Đây là quán beer sản xuất tại gia nổi tiếng theo kiểu của Tiệp, toàn khách quen. Các bác gửi rượu ngâm thuốc, xúc xích, bò khô của Lào… trong tủ lạnh của quán này. Xem kiểu sinh hoạt và chào hỏi khách ra vào đủ biết Gold Malt beer là một phần của cuộc sống.

Anh Ba Tê. Ảnh: HM

Anh Ba Tê. Ảnh: HM

Gặp anh Ba Tê rất vui, anh hỏi han gia đình, con cái. Các anh có dự án giúp người nghèo trên phía Bắc, tháng tháng lên đó, thuộc hang cùng ngõ hẻm của miền đất này. Những món nhắm, kể cả rượu do các anh mua của người dân tộc mang về. Mình hẹn khi nào các anh đi, mình sẽ đi theo để khám phá. Anh còn bảo, em muốn ra tắm nude sông Hồng với bọn anh cũng OK.

Lúc đầu mình hơi ngại, nhưng sau thử thì ngon chưa từng thấy. Không có xúc xích nào so với món trên bàn hôm đó. Salad gồm su hào, thịt bò khô Lào, cà rốt, ngon tuyệt. Thịt lợn Mán cắp nách có vị thơm và ngon đặc biệt. Dù không uống được beer mà mình vẫn hết một cốc, thêm một cốc rượu ngâm thuốc, vì mồi ngon, người lâng lâng, không nghĩ là mình được các anh tiếp đón như người nhà.

Nhìn mỗi người một vẻ, một kiểu ăn mặc mình đã ngạc nhiên. Nhưng một lúc sau thì hai nghệ sỹ một guitar, một saxophone bất ngờ xuất hiện, cả hội hoan hô. Lúc trước chỉ hỏi chuyện, thì thầm vài câu vì hình như nhóm beer này chỉ uống mà không nói.

Nhưng khi nghệ sỹ saxophone cả hội vui, cười như chợ vỡ. Ông saxo có kiểu ăn mặc đúng kiểu dị nhân, quần bò thun, đầu tóc rất lạ, ngón tay có cái nhẫn to đùng, trên áo len có hai kim băng lủng lẳng, thêm cái đồng hồ chữ thập, cái kèn saxo thì trời ơi, vàng và bóng loáng.

Đến chưa kịp chào, nhưng thấy bàn bên cạnh có tây, anh saxo sang choảng tiếng Pháp nhanh như tiếng Việt. Một hội tây đi qua, anh bắt chuyện bằng tiếng Anh. Vài từ tiếng Anh, thỉnh thoảng chèn tiếng Việt, khi cần anh văng “mẹ, nó đéo hiểu”, có khi là tiếng Pháp, thế mà tây sướng, cười tươi.

Anh có tài văng bậy. Đang nói say sưa về âm nhạc, về sự trầm bổng của Ave Maria, bỗng ngừng và nói, thôi đéo nói nữa, rượu đã, và bảo em Cua dịch sang tiếng Anh, đéo là gì nhỉ. Nếu để anh tiếp thị du lịch, có lẽ cả ngành này nên về hưu.

Thấy mình là khách lạ, anh tự giới thiệu, hỏi có biết ai thổi saxo nhất VN không. Mình ngượng vì xa HN hơn chục năm rồi, lại không đi nghe ca nhạc bao giờ nên chịu, chỉ biết có Trần Mạnh Tuấn và Kenny G trên thế giới. Anh cười, cứ nghe anh đi, sẽ thấy thế nào là saxo của Lê Như Cương.

Anh giải thích đồ trên người. Cái bật lửa to tướng là thể hiện một nhà nước hai chế độ, bật ra đóng vào tùy thuộc vào lãnh đạo quốc gia. Đồng hồ chữ thập đó là Thiên chúa giáo. Ngực có vòng, kim cương lấp lánh, nhưng anh bảo đó là con bướm.

Thả hồn theo Hà Nội, Ảnh: HM

Thả hồn theo Hà Nội, Ảnh: HM

Bên cạnh là hai kim băng nhớ về thời bao cấp của phụ nữ ngày xưa, thời chưa có softina, phải dùng vải màn và kim băng mới không bị tuột. Mỗi thứ đeo trên người có triết lý  và cuộc sống riêng, về cuộc đời xuyên thế kỷ mà những người nghệ sỹ xứ Việt đã trải qua.

Rồi hỏi, em Cua thích bài nào để anh biểu diễn. Mình nghĩ một hồi, rồi bảo, rất nhiều người xa tổ quốc có gốc Hà Nội, di cư vào Nam năm 1954, rồi di tản tiếp sang Mỹ sau năm 1975, có người không bao giờ trở về. Hà Nội trong tim họ như một thành phố êm đềm, bao kỷ niệm. Hay là anh thổi bài “Tôi xa Hà Nội …”.

Anh sướng quá, ôi, đây là bài chỉ có anh thổi saxo hay nhất Việt Nam. Thấy cách anh nâng niu cái kèn, treo lên người, nhắm mắt… Tiếng kèn cất lên da diết “Tôi xa Hà Nội, năm tôi 16, khi vừa biết yêu, bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay trong mây chiều…” Mọi người hát theo tiếng kèn và đàn đệm guitar. Khi anh đùa chỉ thấy anh là dị nhân, nhưng hóa thân và tiếng kèn saxo, thấy anh là nghệ sỹ thực thụ.

Anh Ba Tê cho biết, nghệ sỹ saxo này từng học chuyên toán những khóa đầu tiên đầu những năm 1960, không hiểu sao chuyển sang nhạc và mê saxo từ chục năm nay.

Hôm đó cả nhóm ngồi tới 11 giờ đêm. Kết thúc là một em trong quán ra hát quan họ Bắc Ninh “Người ơi, người ở đừng về”. Một bác trong nhóm giải thích, quan họ phải có mắt lúng liếng, ngón tay phải cong lên, uốn lượn, đại loại phải đa tình một chút mới thành quan họ. Cô này có nhiều tố chất thành người “ngồi tựa mạn thuyền”

Nhờ có dịp may được gặp những nghệ sỹ mà tôi gọi vui là “Dị nhân của đất Hà Thành”. Viết mấy dòng cảm ơn anh Ba Tê, em Ngà Voi và các anh ngày hôm đó tại quán beer Tiệp Gold Malt, một buổi tối của Hà Nội xưa cổ kính.

Hẹn gặp lại một ngày nào đó.

HM. 14-3-2015

Chuyên gia salad. Ảnh: Cách Thành.

Chuyên gia salad. Ảnh: Cách Thành.

Các nghệ sỹ quán bia. Ảnh: HM

Các nghệ sỹ quán bia. Ảnh: HM

Đố các bạn biết đây là những ai. Ảnh: HM

Đố các bạn biết đây là những ai. Ảnh: HM

Tây nghe chăm chú. Ảnh: HM

Tây nghe chăm chú. Ảnh: HM

Triết lý bật lửa, một nhà nước hai chế độ. Ảnh: HM

Triết lý bật lửa, một nhà nước hai chế độ. Ảnh: HM

Anh Đoàn Nam Sinh từ SG. Ảnh: HM

Anh Đoàn Nam Sinh từ SG. Ảnh: HM

Người ơi người ở đừng về. Ảnh: HM

Người ơi người ở đừng về. Ảnh: HM

Advertisements

25 Responses to Gặp những dị nhân đất Hà Thành

  1. Ba Tê says:

    Bài này Cua viết rất hay nhưng vẫn còn nhiều điều, nhiều chuyện lắm, khai thác hheets được những chuyện của CLB náy thì còn khối thứ để viết hay hơn nhiều. Thật

  2. Le Anh says:

    Dị nhân ở Hà Nội nhiều như “quân Nguyên”. Dị nhân mà anh Cua gặp ở hàng bia Gold Malt đều là gia đình có “điều kiện”. Nhưng người viết hay chỉ có anh Cua thôi. Xin hỏi ngoài lề tóc anh Cua là natural hay đảo ngói rồi?

  3. […] trước Tổng Cua gặp dị nhân Ba Tê (3T) thế kỷ 21, chiều qua (14-3-2015) mình gặp một mỹ nhân…thế kỷ 20. Giới […]

  4. TamHmong says:

    Chào các bác Hang Cua. Chân thành chúc mừng HM và đặc biệt là Ngà Voi đã vào được một trong những nơi “Đầm rồng Hang hổ” ở Hà Nội. Chẳng là dù cho vật chuyển sao rời Thăng Long lúc nào cũng là nơi “tàng long phục hổ”.
    Để được người Hà Thành chân chính chấp nhận kết giao thực sự hơi khó, có phần khó hơn ở Sài Thành. Còn để họ “khẩu phục tâm phục” thật là thiên nan vạn nan. Trong lịch sử VN gần đây Quang Trung và Văn Ba là những người như vậy.
    Chỉ tiếc là đám con cháu và đệ tử của họ chẳng ra sao. Sự kiện Gạc Ma là minh chứng.
    Nhân kỷ niệm 27 năm sự kiện Gạc Ma tôi xin thắp một nén nhang tưởng niệm các liệt sỹ. Những người có lỗi bắt họ phải chết tức tưởi sẽ bị lịch sử phán xét.
    Để Hà Nội mất đi vẻ thanh lịch là một tội khác. Tôi không phải là người hoài cổ nhưng cũng xin post lên đây bài thơ về cảnh và người Thăng Long xưa
    Long thành cầm giả ca
    Người đẹp Long Thành
    Họ tên không được biết
    Riêng thạo đàn Nguyễn cầm
    Dân trong thành gọi nàng là cô Cầm
    Gãy khúc “Cung phụng” từ triều vua xưa
    Một khúc đàn hay tuyệt từ trời đưa xuống thế gian.
    Nhớ hồi trẻ tôi đã gặp nàng một lần
    Bên hồ Giám trong một đêm yến tiệc
    Tuổi cô cỡ hai mươi mốt
    Áo hồng ánh lên khuôn mặt đẹp như hoa
    Rượu đậm thêm nét mặt ngây thơ khả ái
    Ngón tay lướt năm cung réo rắt
    Tiếng khoan như gió thổi qua rừng thông
    Thanh trong như đôi hạc kêu nơi xa xôi
    Mạnh như sét đánh tan bia Tiến phúc
    Sầu bi như Trang Tích lúc đau ốm ngâm rên tiếng Việt
    Người nghe nàng say sưa không biết mệt
    Trong khúc nhạc đại nội Trung Hoà.
    Quan tướng nhà Tây say rượu nghiêng ngả
    Lo vui chơi suốt đêm không nghỉ
    Bên phải bên trái tranh nhau cho thưởng
    Tiền bạc coi thường có nghĩa chi.
    Vẻ hào hoa hơn bậc vương hầu
    Giới trẻ nơi Ngũ Lăng không đáng kể
    Dường như ba mươi sáu cung xuân
    Nay Tràng An đã hun đúc được một báu vật vô giá.
    Trong đầu nhớ lại đã hai mươi năm
    Tây sơn thua bại, tôi vào Nam
    Long Thành gần mà cũng chẳng được thấy
    Còn nói chi đến chuyện múa hát trong thành.
    Nay Tuyên phủ sứ bày cuộc vui đãi tôi
    Ca kỹ trẻ xinh cả một đám
    Chỉ có một kẽ tóc hoa râm ngồi cuối phòng
    Mặt xấu, sắc khô, người hơi nhỏ
    Mày phờ phạc không điểm phấn tô son
    Sao mà đoán được người này là đệ nhất danh ca một thời.
    Điệu nhạc xưa làm ta thầm nhỏ lệ
    Lắng tai nghe lòng càng đau xót
    Tự nhiên nhớ lại hai mươi năm trước
    Bên hồ Giám trong dạ tiệc ta đã thấy nàng
    Thành quách đã chuyển, người cũng đổi thay
    Nương dâu trở thành biển cả đã nhiều
    Cơ nghiệp Tây sơn cũng đà tiêu tán
    Sót lại đây còn người múa ca.
    Thấm thoắt trăm năm có là bao
    Cảm thương chuyện cũ dùng áo thấm nước mắt
    Ta từ Nam trở lại, đầu bạc trắng
    Trách làm sao được sắc đẹp cũng suy tàn.
    Hai mắt trừng lên tưởng nhớ chuyện xưa
    Thương cho đối mặt mà chẳng nhìn nhận ra nhau.
    Mong TC và Ngà Voi tiếp tục hội nhập thành công. Chúc bà con Hang Cua cuối tuần vui vẻ.

  5. Vĩnh An says:

    Ai là tác giả Nỗi lòng người đi ? Đọc bài của lão Cua nhớ ra chuyện này, Hóa ra câu chuyện rất lâm ly:

    “Ca khúc Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ hải ngoại Anh Bằng. Tuy nhiên, cách đây 2 năm có một người đứng ra nhận mình là tác giả bài hát này. Ông là Khúc Ngọc Chân – nguyên nhạc công cello Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam.Bài hát vốn được mang tên “Tôi xa Hà Nội” với chỉ vài ca từ khác nhau.

    Trả lời phỏng vấn của Khúc Ngọc Chân đăng trên Thethaovanhoa.vn ( có gọt đi cho gọn)

    * Tại sao đến tận bận bây giờ ông mới nhận Nỗi lòng người đi là của mình. Ông có bằng chứng gì thuyết phục rằng đó chính thức là ca khúc của mình không? Ông đã sáng tác ca khúc đó trong hoàn cảnh nào và liệu ông có còn nhạc bản ngày xưa hay không?

    – Bản nhạc ngày xưa sao mà giữ được.

    Ca khúc của tôi sáng tác hồi đó chính ra chỉ có 2 người biết với nhau là tôi và cô người yêu thôi. Tôi sinh năm 1936 tại phố Tô Tịch, Hà Nội. Năm 1954 tôi tròn 18 tuổi, cuộc kháng chiến chống Pháp của chúng ta sắp vào hồi kết. Bởi vậy, tôi cũng như các thanh niên Hà Nội nơm nớp sợ bị bắt lính, tống ra các chiến trường và gia đình xin tôi làm sửa chữa máy vô tuyến điện trong thành Hà Nội. Vốn yêu âm nhạc, tôi tìm đến học đàn với thầy Wiliam Chấn ở gần Hồ Tây và quen một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng, kém 2 tuổi. Chúng tôi đã có những ngày đầu yêu thương bên bờ Hồ Gươm thơ mộng.

    Tuy nhiên, vài tháng sau, gia đình người yêu bất ngờ xuống Hải Phòng chờ di cư vào Nam. Lúc đó, tôi tìm xuống Hải Phòng tiễn người yêu. Với cây đàn guitar luôn mang theo bên mình, tôi đã viết Tôi xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng diễn tả những ngày tháng xa Hà Nội, ước hẹn cùng nhau, mong người yêu hãy gắng chờ đợi, tôi sẽ tìm nàng ở Sài Gòn, bởi lúc đó nàng mới 16 tuổi, chúng tôi chưa thể cưới nhau được.

    Toàn bộ ca khúc Tôi xa Hà Nội như sau:

    Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
    Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói bay theo mây chiều
    Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
    Ai đứng trông ai ven hồ
    Khua nước chơi như ngày xưa

    Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
    Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy
    Bạn lòng ơi, thuở ấy tôi mang cây đàn
    Quen sống ca vui bên nàng
    Nàng khóc tơ duyên lìa xa

    Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
    Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
    Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời
    Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
    Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ

    Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
    Nhưng riêng một người tâm tư sầu não đi trong bùi ngùi
    Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
    Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi

    Ngay sau khi viết xong Tôi xa Hà Nội, tôi tập cho người yêu hát thuộc lòng. Khi ấy đã là cuối tháng 11/1954. Sau ngày tiễn người yêu xuống tàu há mồm di cư vào Nam tôi trở về Hà Nội. Năm 1956, tôi vào trường nhạc (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam hiện nay) học đàn cello, rồi tốt nghiệp và công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Còn nàng, vào Sài Gòn mưu sinh và đầu quân cho một quán bar. Và ca khúc của tôi thường được người yêu hát trong những đêm thương nhớ. Những năm 1960, vì gia đình thúc ép, tôi buộc lòng phải lấy vợ nhưng không đăng ký kết hôn (và chỉ đăng ký khi đã 74 tuổi).

    Ngày đất nước thống nhất, khi cùng Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, tôi đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo khi mới vào tuổi 30. Tuy nhiên, khi vào đây tôi mới thấy bài hát chính thức của tôi được đổi tên thành Nỗi lòng người đi nhạc Anh Bằng, đề là phổ thơ Nguyễn Bính…

    Nhạc bản Tôi xa Hà Nội do Khúc Ngọc Chân cung cấp…

    * Sau này rồi có ai biết có bài nào nhac nhác như thế của ông Nguyễn Bính không?

    – Không có. Gia đình Nguyễn Bính ở Nam Định cũng không còn ai, con cháu đi hết rồi. Tất cả các tuyển tập thơ Nguyễn Bính không có bài nào như thế.
    May cho tôi là khi kể chuyện này với nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha và một số người bạn, có người lên mạng đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác đề rằng Nỗi lòng người đi, nhạc Anh Bằng, thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, sau bài viết đầu tiên của Nguyễn Thụy Kha được đưa lên mạng thì đến ngay cả Thụy Kha đi tìm bản đề thơ Nguyễn Bính cũng không có nữa mà chỉ đề là tác giả Anh Bằng thôi, bỏ phần thơ đi. Nếu mà sự thực phổ thơ Nguyễn Bính thì vẫn để nguyên chứ. Giả dụ là thơ của Nguyễn Bính thật thì không sao, không thì tôi phải là Nguyễn Bính chứ không phải Anh Bằng, bởi Anh Bằng chỉ phổ nhạc thôi mà.

    * Ông nói rằng Nỗi lòng người đi không phải của Anh Bằng, vậy chỉ cần ông đưa ra bằng chứng xác đáng đó là của ông và nếu thực sự là của ông thì dù cho nhiều người chưa biết thì sẽ biết đến ca khúc này là của ông?

    – Người yêu của tôi đã mất, do vậy tôi không tranh chấp quyền tác giả. Tôi chỉ muốn nói về một số phận khác khi ca khúc được một nhạc sĩ nhận thức và xử lý và đã thành một ca khúc hay, đó là điều may mắn. Khi xưa, lúc tôi biết Anh Bằng phổ nhạc, tôi cũng không dám nói ra, bởi Tôi xa Hà Nội với những ca từ rất thực diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm của tôi lại trở thành một vệt đen thì sao?

    Bây giờ, tôi mong muốn Tôi xa Hà Nội của tôi trở về đúng lời, đúng giai điệu đẹp, đúng nội dung tâm tình của tôi bởi phải Người Hà Nội với nếp sống Hà Nội, địa dư Hà Nội, gốc tích Hà Nội mới hiểu được câu Ai đứng trông ai ven hồ/Khua nước chơi như ngày xưa. Anh Bằng sữa chữ chơi thành trong là sai, vì nước hồ Gươm hay còn gọi Lục Thủy không có khái niệm “trong” mà là nước “xanh” hẳn hoi. Còn ngồi khua nước bao giờ, ở chỗ nào? Hỏi nhiều người bây giờ khó mà tìm thấy. Xin thưa, đó là đằng sau đền Ngọc Sơn, chỗ có cây si rễ sà xuống mặt nước. Chúng tôi ngồi chơi rồi, té nước vào nhau. Những từ như thế này ngay cả Nguyễn Bính cũng không có, phải là từ của tôi, người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội.

    Khi tôi viết “Ngậm đắng nuốt cay nhiều” rồi là viết rất thực về những ngày luồn lủi, nơm nớp sợ bắt lính, sống không yên chút nào trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm. Hay câu Sài Gòn ơi mộng với tay cao hơn trời tôi viết để miêu tả dáng dấp của tượng nữ thần Tự Do, đồng thời cũng thể hiện mộng ước xa vời gặp lại người yêu. Còn câu cuối Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi là lời bài hát của Anh Bằng. Lời của tôi là Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi. Tôi cũng không đồng tình với chữ tan trong câu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều mà phải là bay, vì hai người vẫn hẹn ước gặp lại nhau, chứ không phải đoạn tuyệt. Tương tự: Nàng khóc tơ duyên lìa xa, chứ không phải lìa tan. Bài của Anh Bằng nhịp slow 4/4, bản của tôi lả lướt hơn theo nhịp 3/8, bởi tôi viết nhịp đó theo luật của lời thơ.

    * Khi nhận Nỗi lòng người đi hay Tôi xa Hà Nội là của mình, ông khẳng định không có ý tranh chấp tác quyền. Vậy ông mong muốn điều gì?

    – Đúng vậy. Tôi đã không công bố Tôi xa Hà Nội cũng như các bản tình ca khác của mình vì thời đó ở Hà Nội, những bài hát kiểu này được coi là không phù hợp. Với tôi bây giờ, tên ai không thành vấn đề, vì giai điệu của tôi được hát chỗ này chỗ kia là thích rồi. Bài này của tôi bình thường, tôi còn nhiều bài hay hơn, tiếc là chưa bài nào được vang lên!

    * Xin cảm ơn ông “

    • Vĩnh An says:

      Khiếp hồn, sao nó đen sì giống ô Nông dân thế này. Sorry

    • Hiệu Minh says:

      Sửa cho lão VA rồi. Dưng mà lão mê chuyện thế kỷ trước kinh thế, bây giờ là thế kỷ 21 mà 🙄

      Trong entry tôi cố tình viết “Tôi xa HN năm tôi 16…” vì các bác bảo viết thế là phạm luật hôn nhân, yêu người ở tuổi vị thành niên 😛

      • Vĩnh An says:

        Lão viết “… khi tôi 16…” thì thường thôi, không gây sốc cho ai cả, HN bây giờ yêu sớm lắm. Tôi thấy trong vở học của thằng cu nhà tôi hồi học lớp 6 có mẫu giấy của con bé học cùng lớp ghi “Chồng ơi chiều đi bơi nhé chỗ hôm trước nhé”. Để gây sốc lão phải sửa lại là:
        “Tôi xa Hà Nội, năm tôi 46, khi vừa biết yêu, bao nhiêu mộng đẹp, mộng mơ sương khói, bay trong mây chiều” 😛
        Cảm ơn đã sửa đen thành trắng 😀

    • NGỌ 100 ngàn USD says:

      Bái hát mang tên ai không quan trọng. Nhưng nó lại mang tâm tư, tình cảm đầy vơi của nhiều người khi xa Hà Nội, xa người yêu dấu.

    • Dân gian says:

      Tôi tin cụ Khúc Ngọc Chân. May thế khi cụ không nhận là tác giả ca khúc này sớm, nếu không cụ đã có thể bị “oánh” trong vụ Văn Nhân Giai Phẩm cũng nên. Bởi câu ca
      “Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
      Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi”
      Tuy bị sửa thành “Sài Gòn ơi!…” Nhưng phải khai thật “Mộng với tay cao hơn trời” có ý nghĩa gì cũng đủ đi tù rồi.

      • Vĩnh An says:

        Cụ Khúc Ngọc Chân quả là người khiêm nhường và cũng nhờ thế mà tránh được tai bay vạ gió.

    • LTV says:

      Lời nguyên bản rất hay!!!

    • anh ba láp says:

      Bản nhạc này tên gốc là Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác, bản in nhạc phẩm này đề rõ nhạc và lời của Anh Bằng, không có phổ thơ Nguyễn Bính gì cả.

      Anh Bằng tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1926 tại Nga Điền, Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, đến nay đã có một gia tài gần 700 ca khúc nhạc tình, nhạc dân tộc và nhạc trẻ nổi tiếng, trong đó có “Nỗi lòng người đi” ra đời ngày 15/04/1967. Và trong suốt 47 năm qua, qua trình diễn của nhiều thế hệ ca sỹ từ trong nước ra hải ngoại, không có bất cứ một ai dám “cả gan” tranh chấp chủ quyền với ông. Tại sao ? Bởi vì ông đã viết ra “Nỗi Lòng Người Đi” cho cả một thế hệ người Bắc di cư vào Nam năm 1954, trong đó có gia đình ông, sau khi Việt Nam phải chia đôi đất nước tại Hội nghị Geneve tháng 07/1954. Nội dung bài hát nói lên tâm trạng rời bỏ quê hương Hà Nội của một thanh niên đã phải bỏ lại người yêu để vào Sài Gòn vì không thể sống dưới chế độ Việt Minh thời ấy.

      Thế nhưng, tuy đã gần đến tuổi 50 kể từ ngày ra đời 1967, “Nỗi lòng người đi” vẫn không thóat khỏi một tai nạn không ai có thể ngờ tới xẩy đến năm 2012 qua “một việc làm chung” của 2 người ở Hà Nội, Nhà báo phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha và Nhạc sỹ Khúc Ngọc Chân, người tự nhận chính ông mới là “tác gỉa thật” của “Nỗi Lòng Người đi” đã được ông Anh Bằng đặt thay cho “tên nguyên thủy” là “Tôi Xa Hà Nội”.

      PHÂN TÍCH SAI LẦM CỦA NHÀ BÁO NGUYỄN THỤY KHA

      Với giọng văn tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Kha:”Ca khúc được viết xong, Khúc Ngọc Chân đã tập cho nàng hát thuộc lòng, hát đi hát lại đến chan chứa cảm xúc. Khi ấy đã là cuối tháng 11.1954.

      Ngày đưa tiễn nàng và gia đình xuống tàu há mồm di cư vào Nam, chàng và nàng cùng xuống một chiếc thuyền con ở bến Bính để đi ra nơi tàu đậu ngoài cửa biển. Thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe. Nàng thì vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền. Một cảnh tượng chia tay thật lãng mạn như trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Và rồi con tàu đã rời xa đất liền, trôi mãi vào biển cả mênh mang, mang theo nàng và mối tình đầu day dứt cùng giai điệu đượm buồn kia. Còn chàng thì quay về, rồi trở lại Hà Nội. Nhưng nỗi nhớ nàng thì cứ thắp sáng trong những đêm trường cô đơn.”

      Lối “tả chân” của Nhà văn Nguyễn Thụy Kha chất chứa đầy đủ những hoạt cảnh cần thiết cho một khúc phim tình cảm của thời bình trên chiếc du thuyền, nhưng chắc chắn không thể có “trong chuyến đò” di cư của người miền Bắc vào Nam của thời 1954. Tất nhiên vào khi ấy, không người di cư tất tưởi nào lại còn đủ bản lãnh để thư thái mà “bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe” , và nàng cũng “ung dung” , chả quan tâm gì đến bố mẹ và gia đình ngồi quanh để “vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền” !

      Về trường hợp của cô Nguyễn Thu Hằng, qua ngòi bút điêu luyện không cần có chứng minh, ông Nguyễn Thụy Kha viết: “ Còn nàng, khi vào Sài Gòn, vì mưu sinh, với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar. Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng đã được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ. Hát để nhớ chàng, hát để chia sẻ với bao người khác có tâm trạng nhớ nhung như nàng. Và đương nhiên, một ca khúc hay như thế đã lọt vào thẩm âm của nhiều nhạc sĩ lúc đó cũng đã lìa xa Hà Nội. Chắc chắn trong đó có nhạc sĩ Anh Bằng. Ca khúc đã có một số phận khác khi được nhạc sĩ nhận thức và tìm cách xử lý. Còn ở Hà Nội, Khúc Ngọc Chân đâu ngờ gia đình ông bao đời không chịu làm cho Tây đã không theo dòng người di cư mà ở lại Hà Nội vừa giải phóng. Vậy là lời hứa với nàng đành lỡ dở theo thời gian.”

      Đến đây thì “mùi sắc” chính trị “làm cho Tây” và “Hà Nội vừa giải phóng” đã được Nguyễn Thụy Kha lồng vào âm nhạc. Chả lẽ Nguyễn Thụy Kha không biết đâu phải hơn 1 triệu người bỏ miền Bắc di cư xuống Nam là vì đã “làm cho Tây” nên đã đi theo Tây vào Nam ?

      Cũng chẳng lẽ ông Kha không biết lực lượng Việt Minh đã “tiếp qủan” thành phố Hà Nội từ tay quân đội Pháp sáng ngày 10/10/1954 chứ đâu có đánh đấm gì mà bảo là “giải phóng” như Ban Tuyên giáo đảng CSVN đã viết tài liệu tuyên truyền trong dịp kỷ niệm 60 năm mới đây (10/10/1954 – 10/10/2014) ?

      Không dừng ơ đây mà Tác giả Nguyễn Thụy Kha đã cùng với Khúc Ngọc Chân đong đưa tiếp với nhiều huyền thọai:

      Nhà báo này viết: “Ở lại Hà Nội, năm 1956, ông Chân vào học đàn cello ở Trường Âm nhạc Việt Nam. Khi tốt nghiệp thì về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ngày thống nhất đất nước, khi Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, ông Chân đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo năm 1969, khi mới vào tuổi “tam thập nhi lập”. Theo người thân của người yêu, ông đã tìm đến mộ nàng và thắp hương, thầm khóc cho cuộc tình chia phôi bất hạnh. Chính vì người yêu đã mất, nên ông không sao hiểu nổi bằng cách gì mà ca khúc Tôi xa Hà Nội của ông lại lọt vào tay nhạc sĩ Anh Bằng, được ông sửa thành nhịp 4/4 theo điệu Slow và phổ biến “quá trời” tại Sài Gòn.”

      Rồi ông Kha và ông Chân kể tiếp như người chết đuối vớ được phao giữa dòng nước xoáy:”Ông Chân nói rằng đó là điều may mắn. Khi ấy, nếu ca khúc lan ra mà lại ghi tên ông là tác giả, chắc ông khó mà ngồi yên ở Dàn nhạc Giao hưởng cho đến khi về hưu. Nhưng vì ca khúc ghi là của tác giả Anh Bằng, nên những ca từ rất thực của ông diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm lại trở thành một vệt đen mang đậm nỗi ấm ức của bao người di cư ở bên kia chiến tuyến. Lại nữa, vì Anh Bằng đổi tên ca khúc thành Nỗi lòng người đi nên vệt đen kia hóa thành có thực khi đất nước bị chia cắt. Cũng chính vì thế mà cho đến nay Nỗi lòng người đi (vốn là Tôi xa Hà Nội) vẫn chưa được cho phép hát lại.”

      Nhưng làm sao mà ông Chân có thể “hát lại” được, bởi vì Trung tâm bảo vệ quyền Tác giả Âm Nhạc Việt Nam ở Hà Nội (Vietnam Center for Protection of Music Copyright ,VCPMC) đã bác lời xin bảo vệ quyền lợi cho ông vì ông “đã không chứng minh được quyền Tác giả” của mình.

      Nguyên văn điện thư của Bà Đinh Thị Thu Phương, Phó Qủan lý, đặc trách ngọai vụ của Trung Tâm gửi Nhạc sỹ Anh Bằng về tác quyền như sau:

      From: “Dinh Thu Phuong”

      Date: September 24, 2014 at 1:08:06 AM PDT

      To: ,

      Subject: Fwd: NOI LONG NGUOI DI

      Kính gửi Nhạc sĩ Anh Bằng,

      Cháu nhận được email kèm theo bản nhạc của bác đã lâu, nhưng phải chờ thẩm định, rồi lại vì bận nhiều việc quá nên hôm nay cháu mới hồi âm tới bác được, mong bác thứ lỗi.

      Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân ủy quyền cho VCPMC ca khúc Tôi xa Hà Nội từ ngày 24.4.2014, tuy nhiên sau đó phát hiện có sự song trùng với ca khúc Nỗi lòng người đi của bác. VCPMC đã yêu cầu 2 bên cung cấp chứng cứ bằng văn bản, nhưng ông Khúc Ngọc Chân không có, vì vậy VCPMC đã quyết định ngừng bảo vệ, quản lý và khai thác ca khúc Tôi xa Hà Nội. Điều đó có nghĩa VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ Anh Bằng. Cháu xin chúc mừng bác ạ.

      Đây là việc thường xuyên phải giải quyết của VCPMC, mong bác giải thích với mọi người rằng chỉ thuần túy là việc tranh chấp dân sự bình thường, ai không đủ chứng cứ là thua, có thế thôi, không phải là âm mưu chính trị gì đâu (như có bài viết ở hải ngoại phỏng đoán) vì sự việc nó quá tầm thường không đáng để suy diễn làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước Việt Nam.

      Để thực hiện khoản 1, 2 Điều 3 của Hợp đồng ủy quyền (mà cô Trương Mỹ Dung – học trò của bác ở Việt Nam đã thay mặt bác ký với VCPMC) một lần nữa cháu đề nghị bác vui lòng gửi qua email cho cháu toàn bộ ca khúc của bác mà bác đang có, nếu đã là xuất bản phẩm trước 1975 tại Sài Gòn thì bác scan cho cả mặt ngoài và mặt trong của bản nhạc khổ giấy A3, ca khúc nào chưa xuất bản hoặc viết sau 1975 chưa in thì bác gửi cho cháu bản chép tay cũng được. Cháu cảm ơn bác trước.

      Cháu xin gửi kèm theo đây 1 quyết định của Giám đốc VCPMC và 1 mẫu Hợp đồng ủy quyền để bác tham khảo.

      Trân trọng kính chào bác – người nhạc sĩ tài danh mà tác phẩm luôn hướng tới và dành cho tình yêu con người cùng quê hương đất nước Việt Nam. Chúc bác vui khỏe và dồi dào sức sáng tạo.

      Kính thư,

      –Dinh Thi Thu Phuong (Ms)

      Deputy Manager of External Relations Divison,

      Cellphone: +84 91 660 5156

      Vietnam Center for Protection of Music Copyright (VCPMC)

      66 Nguyen Van Huyen Str, Cau Giay District., Hanoi, Vietnam

      Phone: +844 3762 4718 (ext: 268) / Fax: +844 37624717

      Office hour: 8am – 5pm GMT+7, Mon-Fri

      http://www.vcpmc.org.

      Ngoài ra, Giám đốc Trung Tâm, Nhạc sỹ Phó Đức Phương cũng ra Quyết định ngày 12 tháng 09 năm 2014 có 3 điểm, nguyên văn như sau:

      Điều 1: Ngừng bảo vệ quản lý và khai thác 1 ca khúc “Tôi xa Hà Nội” của Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân.

      Điều 2: Những ca khúc khác của Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân vẫn được bảo vệ, quản lý và khai thác bình thường.

      Điều 3: Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký. Các phóng ban chức năng của Trung tâm chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

      (Phó Đức Phương-Ký tên và đóng dấu).

      TIẾP TỤC SAI LẦM

      Bài viết của Nhà báo phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha xuất hiện trong Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 804 và được Website Giai Điệu Xanh đăng lại ngày 21/12/2012 còn tiếp tục sai lầm rằng: “Tìm hiểu về nhạc sĩ Anh Bằng qua nhiều luồng thông tin, qua trang mạng Google thì thấy rằng điều ông Chân thổ lộ rất có cơ sở. Nhạc sĩ Anh Bằng tên khai sinh là Trần An Bường. Ông sinh năm 1925 tại thị trấn Bỉm Sơn thuộc Ninh Bình. Ông học trung học tại Hà Nội trước khi di cư vào Nam. Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas . Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn Trung tâm Asia Entertainment tại Houston.”

      Ngay trong đọan này, ông Kha đã “khẳng định chuyện kể của ông Chấn “rất có cơ sở”, căn cứ theo những gì ông Kha tìm được trên mạng điện tử Google, nhưng ông lại nói sai “Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas . Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn Trung tâm Asia Entertainment tại Houston”, trong khi gia đình Nhạc sỹ Anh Bằng và Trung tâm Asia chưa bao giờ sinh sống hay xây dựng sự nghiệp âm nhạc ở Houston, Texas.

      Tuy vậy, tác gỉa Nguyễn Thụy Kha cứ “đong đưa” với chữ nghĩa để tiếp tục thêu dệt rằng : “ Ngày ấy, khi vào Sài Gòn, theo thiển nghĩ của tôi, Anh Bằng chưa được biết đến như Chung Quân, Cung Tiến. Nghe được ca khúc Tôi xa Hà Nội do một thiếu nữ làm ở quán bar hát những khi chia sẻ mà lại không biết xuất xứ. Với khả năng âm nhạc của mình, Anh Bằng đã thuộc được giai điệu này. Ông thấy rất hợp tâm trạng của ít nhất là những thanh niên vừa phải xa Hà Nội di cư vào Sài Gòn. Vậy là cuộc sử dụng một giai điệu mang tâm trạng của thanh niên xa Hà Nội, nhưng để hợp thời thế, Anh Bằng đã chuyển nhịp 3/8 gốc của ca khúc Tôi xa Hà Nội thành nhịp 4/4 dùng tiết điệu Slow.”

      Tệ hại hơn, Thụy Kha còn dựa vào lời nói của người duy nhất tự nhận là Tác giả “Tôi xa Hà Nội” Khúc Ngọc Chân để bịa ra rằng : “Còn về ca từ, Anh Bằng đã khéo léo gắn vào đó tên của một nhà thơ tình nổi tiếng là Nguyễn Bính.

      Nguyễn Bính là nhà thơ đã từng tham gia chiến tranh tại Nam bộ và có bài thơ Tiểu đoàn 307 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc rất hoành tráng. Nhưng sau Hiệp định Genève, ông đã ra tập kết ở miền Bắc. Có lẽ thông tin này, Anh Bằng không biết, nên ông đã tự “vu” cho Nguyễn Bính chịu trách nhiệm ca từ này.”

      Nhưng Nhạc sỹ Anh Bằng, đã trả lời câu hỏi của tôi (Phạm Trần) về chuyện Nguyễn Bính như sau:

      “Cảm ơn Anh đã tỏ ra rất quan tâm đến ca khúc NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI của tôi đang bị cướp đọat một cách trắng trợn.

      Anh đã xem Bản nhạc được in và phát hành năm 1967 tại Sài Gòn chỉ có tên Tác gỉa là ANH BẰNG trong ca khúc NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI. Tuyệt đối không có tên Thi sĩ Nguyễn Bính in bên cạnh như kẻ gian manh, xáo quyệt, vô lương tâm, vô liêm sỉ bịa đặt.

      ANH BẰNG xin minh xác như vậy để Anh yên tâm.”

      Nhạc sỹ Lê Dinh, người bạn tâm giao của Anh Bằng trong nhóm 3 Nhạc sỹ Lê Minh Bằng (Lê Dinh-Minh Kỳ-Anh Bằng) phản ứng về chuyện này:

      “Bài viết này, của báo trong nước, tôi cũng đã đọc cách nay một tuần. Đây chỉ là một bài viết lập lại những lý luận mà họ đã lải nhải như trong nhiều bài trước, không có gì mới lạ. Nhưng họ không đá động gì tới việc cô Đinh thị Thu Phương, Vietnam Center for Protection of Music Copyright (VCPMC / thuộc Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả) đã xác nhận với Anh Bằng, qua thư đề ngày 24-09-14, rằng: “Sau khi thẩm định, VCPMC đã quyết định ngừng bảo vệ, quản lý và khai thác ca khúc Tôi xa Hà Nội (của Khúc Ngọc Chân vì không cung cấp chứng cứ bằng văn bản). Và VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ Anh Bằng”.

      Như vậy, chúng ta xem như việc này đã kết thúc qua lá thư của cô Đinh thi Thu Phương (CVPMC) gửi cho Anh Bằng ngày 24-09-14 (được trích trên đây)

      “…Việc lên tiếng của VCPMC là một tiếng chuông cảnh cáo những kẻ giả mạo để ăn cướp công lao của những nhạc sĩ sáng tác, vì không gì dễ bằng, cứ lấy một tác phẩm cũ nổi tiếng nào đó, của một nhạc sĩ nổi tiếng nào đó, chép bằng máy vi tính, sửa lại vài chữ và nói đây là bài nhạc của tôi sáng tác năm đó, năm đó… ông nhạc sĩ này lấy bài nhạc của tôi làm và nói là của ổng. Chủ nhà trở thành kẻ cướp và kẻ cướp trở thành chủ nhà, quá dễ.

      May mà có sự quyết định sáng suốt của Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả, nếu không thì sẽ có loạn trong làng âm nhạc Việt Nam, chứ chẳng không.”

      TẠI SAO ĐẾN 2012 MỚI BIẾT?

      Về chủ quyền bài hát, ông Khúc Ngọc Chân tỏ ra lúng túng khi phóng viên báo Thể thao-Văn hoá Việt Nam (Thethaovanhoa.vn) hỏi ngày 15/10/2014 rằng : “ Tại sao đến tận bận bây giờ ông mới nhận Nỗi lòng người đi là của mình. Ông có bằng chứng gì thuyết phục rằng đó chính thức là ca khúc của mình không? Ông đã sáng tác ca khúc đó trong hoàn cảnh nào và liệu ông có còn nhạc bản ngày xưa hay không?”

      Ông Chân đáp gọn: “ Bản nhạc ngày xưa sao mà giữ được.Ca khúc của tôi sáng tác hồi đó chính ra chỉ có 2 người biết với nhau là tôi và cô người yêu thôi.”

      Về chuyện bảo Anh Bằng ghi tên Nhà thơ Nguyễn Bính vào bản nhạc, ông Chân lại ú ớ khi được báo Thể thao-Văn hoá (TTVH) hỏi: “ Sau này rồi có ai biết có bài nào nhác nhác như thế của ông Nguyễn Bính không?

      Khúc Ngọc Chân: “Không có. Gia đình Nguyễn Bính ở Nam Định cũng không còn ai, con cháu đi hết rồi. Tất cả các tuyển tập thơ Nguyễn Bính không có bài nào như thế.

      May cho tôi là khi kể chuyện này với nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha và một số người bạn, có người lên mạng đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác đề rằng Nỗi lòng người đi, nhạc Anh Bằng, thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, sau bài viết đầu tiên của Nguyễn Thụy Kha được đưa lên mạng thì đến ngay cả Thụy Kha đi tìm bản đề thơ Nguyễn Bính cũng không có nữa mà chỉ đề là tác giả Anh Bằng thôi, bỏ phần thơ đi. Nếu mà sự thực phổ thơ Nguyễn Bính thì vẫn để nguyên chứ. Giả dụ là thơ của Nguyễn Bính thật thì không sao, không thì tôi phải là Nguyễn Bính chứ không phải Anh Bằng, bởi Anh Bằng chỉ phổ nhạc thôi mà.”

      Nhưng tại sao ông Khúc Ngọc Chân (KNC) không yêu cầu ông Nguyễn Thụy Kha và “một số người bạn” trưng ra bằng cớ về chuyện “đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác” có tên Nguyễn Bính trên đó ?

      Báo TTVH: “Ông nói rằng Nỗi lòng người đi không phải của Anh Bằng, vậy chỉ cần ông đưa ra bằng chứng xác đáng đó là của ông và nếu thực sự là của ông thì dù cho nhiều người chưa biết thì sẽ biết đến ca khúc này là của ông?

      KNC:” Người yêu của tôi đã mất, do vậy tôi không tranh chấp quyền tác giả. Tôi chỉ muốn nói về một số phận khác khi ca khúc được một nhạc sĩ nhận thức và xử lý và đã thành một ca khúc hay, đó là điều may mắn. Khi xưa, lúc tôi biết Anh Bằng phổ nhạc, tôi cũng không dám nói ra, bởi Tôi xa Hà Nội với những ca từ rất thực diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm của tôi lại trở thành một vệt đen thì sao?”

      CHÂN TRÁI ĐÁ CHÂN PHẢI

      Trong ki đó, Nguyễn Mạnh Hà (báo Tiến Phong, 11-10-2014) viết: “Khúc Ngọc Chân khẳng định, mãi tới năm kia (2012) ông mới biết đến sự tồn tại của Nỗi lòng người đi. Bởi ông không thích và rất ít nghe nhạc hải ngoại.

      Qua lời kể của ông Chân thì thậm chí Nguyễn Thụy Kha cũng biết đến “nghi án” Nỗi lòng người đi. Ông Chân thuật lại lời ông Kha trong cuộc gặp lần đầu tiên của hai người: “Anh có cái bài Nỗi lòng người đi bên kia người ta nói là bài của anh?!” Nhưng Nguyễn Thụy Kha lại khẳng định không hề biết đến nghi án này cho tới khi Khúc Ngọc Chân kể ra. Tuy nhiên, ông Kha vẫn cảm thông với cách trình bày hơi khó hiểu của ông Chân: “Người ta không phải người ăn nói với công chúng. Nhưng mình biết được cái lõi của vấn đề. Tôi bằng trực giác biết chắc chắn bài này của ông ấy rồi!”.

      “Phổ thơ cũng được nhưng đấy là cái sai lầm nhất của Anh Bằng. Toàn bộ gia tài Nguyễn Bính không có bài thơ nào như lời bài “Nỗi lòng người đi”. Mà lúc đấy Nguyễn Bính tập kết ra Bắc ra Hà Nội rồi, không dính dáng đến miền Nam nữa mà viết cái đó. Đấy là kẽ hở của câu chuyện.

      Thế rồi Nguyễn Mạnh Hà nhận xét: “Sự vô danh của Khúc Ngọc Chân là một điều bất lợi khi đặt cạnh Anh Bằng- tác giả của hàng trăm bài hát trong đó có Khúc thụy du, Nếu vắng anh, Anh còn nợ em, Tình là sợi tơ… Một điểm yếu nữa trong câu chuyện của Khúc Ngọc Chân mà những người đứng về phía Anh Bằng xoáy vào là có nhiều hình ảnh tư liệu cho thấy tàu há mồm đưa người vào Nam cập sát cảng Hải Phòng. Trong khi ông Chân kể, ông vẫn còn hát Tôi xa Hà Nội cùng người yêu trên thuyền từ bến Bính ra “phao số không” để tiễn nàng lên tàu há mồm. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, người gốc Hải Phòng, cho hay Thu Hằng vào Nam là đợt đầu tiên, tháng 11/1954. Lúc đó tàu há mồm chưa cập vào cảng Hải Phòng.“

      Với những gì chúng ta đọc được quanh “vụ án Nỗi Lòng Người Đi” của Nhạc sỹ Anh Bằng cho thấy đã có những thay đổi nguy hiểm trong tâm tư của cả giới làm văn nghệ ở Việt Nam trong thời đại “gian dối đã ngự trị trên, không những con người mà cả nền tảng văn hoá truyền thống lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của dân tộc làm kim chỉ nam cho đời sống hàng ngày.”

      Một nền văn hoá loạn xạ như thế phải là mối lo nhức nhối của mọi người, vì như Giáo sư Hòang Tụy đã báo động: “Giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối.” -/-

      Phạm Trần

  6. CÚN says:

    Bác Cua giải thích rõ hơn về 1 bật lửa mà 2 chế độ? Em quen, và đã được gặp 2 anh, trong hình của bác Cua chụp. Người phát hiện ra anh Cua chụp hình anh Ba Tê là em (hi hi ). Mỗi lần thấy hình anh Ba Tê trên avatar là em chỉ muốn véo von: đêm qua em mơ gặp bác Tê…

    • Hiệu Minh says:

      Bức ảnh viếng tướng Giáp của anh 3T đã giúp chúng tôi gặp nhau.

      Phải có vài bữa bia với anh Ba Tê mới viết kỹ được, nhưng mình rất ấn tượng với nhóm các nghệ sỹ này. Họ có gì đó khác thường, lẳng lặng làm từ thiện giúp trẻ nghèo miền cao mà chẳng cần trống dong cờ mở.

      • Ba Tê says:

        Bật phát đầu tiên nó cháy vù vù, khi lửa vẫn đang cháy bấm phát nữa nó lại cháy nhẹ nhàng thế cho nên mới đặt cho bật lửa cái tên: một nhà nước hai chế độ là thế. Lão này chuyên chơi các đồ to, bật lửa to có cả chục cái, nhẫn, vòng, đồng hồ và cả kim băng to nữa.

  7. CD@3n says:

    – ngày này 27 năm trước, sự kiện GẠC MA, xin được cop/past đoạn này, coi như 1 nén nhang, thắp cho hương hồn của 64 liệt sỹ đã ngã xuống 27 năm trước, máu thịt đã hòa trong nước biển Đông, cảm ơn Owner cho hie5n :

    “14/3/1988, Trung Quốc nổ súng sát hại 64 cán bộ chiến sĩ hải quân trên Đá Gạc Ma. Dù đã hàng chục năm trôi qua, nhưng ký ức về nó không phai nhòa trong các thế hệ, nhất là những người từng trực tiếp công tác trong Quân chủng Hải quân như Đại tá Phạm Tân.

    Vị thuyền trưởng tàu ngầm đầu tiên của Việt Nam cho biết, vào thời điểm xảy ra sự kiện Gạc Ma, ông là Thiếu tá, Trợ lý kế hoạch của Phòng tác chiến Quân chủng Hải quân, đang làm nhiệm vụ tại Cam Ranh.

    Trong cuộc trò chuyện với VTC News, ông không thể giấu được cảm xúc về sự căm phẫn trước hành động dã man, ngang ngược của Trung Quốc với những người đồng đội, anh em mình trên vùng biển đảo Tổ quốc cách đây 27 năm.

    Theo ông, ngày 14/3/1988, ngày xảy ra sự kiện Trung Quốc đánh chiếm bãi đá ngầm Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

    “Những ngày ấy, tôi đang làm việc tại Cam Ranh, trợ giúp các thủ trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân phối hợp tác chiến, đưa ra kế hoạch củng cố, bảo vệ chủ quyền biển đảo.

    Cuối 1987, đầu 1988 Trung Quốc ngang nhiên chiếm đảo Chữ Thập của Việt Nam. Biển đảo của Việt Nam bị đe dọa, Quân chủng Hải quân với sự cho phép của Nhà nước, thực hiện công tác củng cố và bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là quần đảo Trường Sa, sau là quần đảo Hoàng Sa.

    Khi nhắc đến Gạc Ma 1988 là nhắc đến sự ‘dã man’ của Trung Quốc. Dã man vì khi đó chúng đưa 4 tàu chiến, trong đó có các tàu hậu vệ tên lửa tuần tra và chiếm các đảo của Việt Nam.

    Khi đó, các cán bộ chiến sỹ của ta đều là những người lính nhưng đi trên những chiếc tàu dân sự không có vũ khí (tàu HQ604, HQ605) để củng cố và xây dựng đảo ở khu vực Gạc Ma, Côn Lin và Len Đao.

    Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu xuồng đổ bộ khi quân ta đang trên đảo Gạc Ma, giật cờ của Tổ quốc Việt Nam và bắn các cán bộ chiến sỹ, tạo ra sự đụng độ trên bãi ngầm Gạc Ma.

    Sau khi nổ súng, quân Trung Quốc rút ra tàu, bắn chìm các tàu vận tải quân sự 604 của Lữ đoàn 125 và sát hại chiến sỹ công binh thuộc Lữ đoàn 146 và bỏ chạy.

    Nhắc tới sự kiện Gạc Ma 14/3/1988, cá nhân tôi rất căm phẫn!

    Trung Quốc ngang nhiên dùng vũ lực đi xâm lược các khu vực thuộc chủ quyền Việt Nam dù trước đó vẫn nói 2 nước là anh em.

    Chúng dùng tàu quân sự hỏa lực mạnh để tấn công tàu vận tải không vũ trang của Việt Nam và hành động dã man sát hại các chiến sx công binh.”

    Ông Phạm Tân cũng cho rằng “Thực tình sự kiện Gạc Ma không thể gọi là trận đánh, vì nếu là trận đánh thì cả 2 phía đều phải có sự chuẩn bị.”

    Và sau đó nói về tương quan lực lượng giữa VN- TQ, ông cho rằng: “Trung Quốc có cả hạm đội tàu ngầm ở Nam Á, tuy nhiên, đặc điểm tác chiến của tàu ngầm là hoàn toàn bí mật, nhiều chưa chắc đã thắng ít.”. ( nguồn : VTC).
    ——————————————
    Xin những vị nào có chức quyền hãy gỡ bỏ từ “nhậy cảm” trong suy nghị và hành động của mình. trước những sự kiên kiểu này…VN đang tiến xích lại với US, nhưng vận đang chuẩn bị “duyệt binh” nhân ngày 30/4…Nhật Bản vẫn kỷ niêm ngày Tokyo bị Mỹ ném bom khốc liệt, và 2 nước đang chung chiến tuyến…kỷ niêm không đồng nghĩa với kích động hận thù dân tộc, đã quá xưa, cồ hủ, lú lận kiểu suy nghĩ đó rồi…!

    • Trần says:

      VN đang tiến xích lại với US, nhưng vận đang chuẩn bị “duyệt binh” nhân ngày 30/4…(CD@3n)
      ……………….
      Thời trước không có internet nên Bên Thắng Cuộc từ thấp đến cao đều không may có dịp tiếp xúc văn minh để học tập và làm theo bài học từ trận chiến đầu hàng Appomatox tháng 4 năm 1865 giữa tướng Lee và Grant kết thúc nội chiến nước Mỹ.

      Thời nay khác rồi, có internet và vả lại nhận thức là một quá trình, muộn còn hơn không, biết đâu “duyệt binh” lần này nếu có nhân ngày 30/4 sẽ có mặt những người lính VNCH trong hàng ngũ diễu binh. Thế thật thì hòa hợp hòa giải dân tộc cực kỳ đột phá, may mắn lắm thay! Và thế thật thì chắc chắn từ nay sẽ không còn cảnh anh chị em dư luận viên phải trương cờ búa liềm che mặt và gây khó cho bà con tưởng niệm các chiến sĩ đã ngã xuống vì quê hương biển đảo Tổ Quốc Việt Nam như ngày 14/3 hôm qua ở Hà Nội.

  8. CD@3n says:

    ….”tại quán beer Tiệp Gold Malt, một buổi tối của Hà Nội xưa cổ kính.” ( entry), cảm ơn “tường thuật”, ấn tượng tiếng kèn saxophone, ân tượng hơn nữa về triết lý “bât lửa : nhà nước 2 chế độ”, và trước khi có “visa theo vợ”, trở lại xứ cờ Hoa, liệu HM có buổi gập với các “Quái Nhân” của HN @ ở đủ thê loại : “phở chửi, bún mắng”, “bảo kệ vỉa hè”, nam thanh nữ tù “đi đầu vượt đèn đỏ”, dậy phố hành nghề “hút nạo thai” mà khách hàng là lứa tuổi SVHS, đội viên dân phòng, gồm ông già và thanh niên ít học, vô nghề nghiệp “công cụ hỗ trợ” cùa CA…đến những chuyên “za” cao cấp “ra chính sách trong phòng máy lạnh” và “vẽ dự án” với đủ thứ nhãn mác “giả thật” dán vào người…Ôi, HN của “chúng ta”, “tự hào” đi lên, trở thành Hà “Lội”, tắc xe, ô nhiễm kinh niên..sắp sửa có tháp truyền hình 636 m, kỷ lục cao NHẤT thế giới…!

  9. huu quan says:

    Toàn các bậc trưởng lão. May mà có em gái “Người ở đừng về” kia cho nó có chút tươi mát dịu dàng

  10. qn says:

    t’aime

%d bloggers like this: