Café sáng với Osin ở Hà Nội

Osin đợi xôi 29 Hàng Hành. Ảnh: HM

Osin đợi xôi 29 Hàng Hành. Ảnh: HM

Nghe tin mình về HN tuần trước, Huy Đức nhắn qua FB, anh ra  thủ đô có chút việc, nhân thể muốn gặp Tổng Cua. Hang Cua cũng uy tín phết. Tuần trước là anh Lông, cô Voi, nay là Osin.

Sáng nay (10-3-2015), hẹn ở quán xôi 29 Hàng Hành. Taxi vừa đỗ thì bà cụ ở nhà đối diện ra mắng té tát lái xe, sao lại đỗ gần mép đường nhà bà, vỡ hết nắp cống, dù xe vẫn dưới lòng đường. Mình hơi bực, lần đầu tiên can thiệp. Thưa cụ, xe không đỗ ở lòng đường thì đỗ đâu. Đây là nhà tôi nhé, không được đỗ trước cửa. Full Stop.

Ah, hóa ra sông nào Hà Bá đó. Thế thì con chịu rồi. Bà nhìn mình như từ hành tinh khác đến, vì cụ cho rằng, cụ đã nói là đúng trở lên, làm gì có chuyện cụ sai. Độc tài từ cái lòng đường. Trông dáng vẻ cụ ăn mặc và nhà cửa thì cũng là dân Hà Nội gốc cỡ vài đời. Hà Nội cổ mai một đến đáng thương.

Mình lên gặp Osin đang đợi, kể lại. Anh cười, Cua Times chưa thể tái hòa nhập hoàn toàn khi còn thấy bất bình những chuyện vặt. Anh ăn xôi gì hay là bún thang, có nhiều thang thuốc chữa bách bệnh.

Mỗi anh làm 1 đĩa xôi gà đồi, nhưng rồi thấy ít lại gọi thêm 1 đĩa chia đôi. Người Hà Nội ăn quà vừa đủ thèm, nhưng hai cha này ăn sáng phải no.

Quán này trông nhếch nhác, cầu thang lên tầng 2 trơn tuột, chỗ rửa bát cũng ghê ghê, nhưng xôi thì ngon tuyệt. Ngồi bên cạnh có một nhóm trông giống Việt kiều từ xa về, một anh giống hệt Chế Linh.

Osin vẫn từ tốn như mọi khi, có vẻ quen Hà Nội vì biết ngõ ngách thế này là dân sành điệu. Phố Bảo Khánh, Hàng Hành ngay cạnh bờ Hồ,  yên tĩnh, khu phố cổ đầy tiềm năng du lịch cho khách tây.

Hỏi dạo này Osin làm ăn ra sao. Vẫn ổn, đang theo dự án “Hợp tác truyền thông góp phần cải thiện chính sách kinh tế” của Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông Phát triển (RED – Center for Research on Development Communication). Dự án do Canada tài trợ, Bộ Ngoại giao, và VUSTA cùng tham gia. Thứ 5 là lễ khởi động tại khách sạn Hòa Bình, Osin đưa giấy mời TBT Cua tới dự và đưa tin. Oách phết.

Vừa ngồi nói chuyện, tay bố cứ nhoay nhoáy với cái smart phone đời cổ. Hóa ra đang lo đấu giá bức tranh “Tình cát” của Đỗ Trung Quân tặng Nguyễn Quang Lập. Ông Lập vừa ra trại, dù thiếu tiền vẫn tặng lại Nhịp cầu Hoàng Sa. Từ giá khởi động 9 triệu, trong vài tiếng, thời điểm mà Osin và tôi vừa làm xong 2 đĩa xôi gà, giá đã lên 32 triệu. Nhìn thấy tiền hoa mắt, hắn quên luôn người đang ngồi trước mặt.

Nhà văn NQ Lập và bức tranh Tình Cát của Đỗ Trung Quân. Ảnh: FB Huy Đức

Nhà văn NQ Lập và bức tranh Tình Cát của ĐT Quân. Ảnh: FB Huy Đức

Hình như không có các em, cả Osin lẫn Cua đều nói rất ít, không sôi nổi và cười như mọi khi. Khi đó là 10 giờ sáng, các quán vắng tanh, có vài ông vô công rồi nghề như chúng tôi làm ấm trà, ngồi nhìn mưa xuân mờ mịt phố phường.

Tôi bảo Osin, lẽ ra giờ này anh phải làm ở đâu đó như IDS think tank đã từng hoạt động được mấy năm, kiểu như viện Brookings hay Carnegie bên Mỹ. Quốc gia phát triển đều có những think tank cố vấn cho chính phủ, thậm chí tầm toàn cầu. Ngồi ở cái ngõ Bảo Khánh đợi café phin nhỏ giọt, pha phí chất xám biết bao.

Anh thở dài, quãng đường dài lắm. Tôi nghĩ, tới lúc đó cả hai có khi đã già như cụ thân sinh của anh đã qua 100 tuổi, chẳng còn hy vọng vần cái ghế đá cho khách ngồi. Thủ đô này để lâu, trì trệ, dần dần mai một, mất đi vẻ sang trọng của Thăng Long, một bà già có thể tuyên bố chiếm vỉa hè công cộng thành của riêng.

Nhắn vài em ra cho đỡ tẻ, nhưng em nào cũng bận. Cuối cùng đến giờ Osin hẹn ai đó, chúng tôi chia tay nhau. Có hẹn gặp nhau ở Sài Gòn hay xa hơn là bên DC với các em WB chắc vui hơn. Hình như lần nào tôi hẹn cũng thành công.

Trong số độc giả của Cua Times, tay Osin này chiếm nhiều thời lượng trên sóng nhất, nhưng lần này cuộc gặp chẳng để lại ấn tượng gì, ngoài một lão tóc hoa râm, nụ cười thường trực trên môi, tay mân mê cái smart phone kiểu teen.

Hình như Osin buồn cái gì đó, hay cô nào đã bắt mất hồn, hoặc đơn giản đang lo bán tranh của anh Đỗ Trung Quân lấy tiền hàn gắn vết thương chiến tranh, chịu không thể đoán ra.

Giơ máy chụp cái ảnh, thành lan can nhà 29 Hàng Hành vướng vào vai Osin, trông như hắn gánh vác…sơn hà :). Bà con xem tạm.

HM. 10-3-2015

Bạn đọc nào quan tâm đến đầu giá bức tranh có thể vào Huy Đức FB để xem.

Cafe Hàng Hành. Ảnh: HM

Cafe Hàng Hành. Ảnh: HM

Phố cổ trước quán. Ảnh: HM

Phố cổ trước quán. Ảnh: HM

Advertisements

109 Responses to Café sáng với Osin ở Hà Nội

  1. Đất Sét says:

    Ý kiến của bác Một, bác Dove hay của Sét mỗ cũng chỉ là một ý kiến. Nhận xét một cuốn sách, không riêng sách bác Huy Đức, khen chê là việc bình thường. Chưa xét đến nội dung sách hay/dở, đúng/sai, xu hướng chính trị thế nào, thì cái tầm của người nhận xét là vấn đề dễ thẩm định hơn, qua những comment trước đó. Có những vị chuyên Gúc Gồ nên râu ông nọ cứ cắm cằm bà kia, vài hôm lại sorry lộn thì ý kiến ý cò gì.

    Nói về nội dung BTC thì Sét mỗ không dám, nhưng Sét mỗ khẳng định bác Huy Đức là người can đảm có thừa, khác với những kẻ phù thịnh nhưng làm con đà điểu rúc đầu xuống cát, mặt mũi chẳng ai biết.
    ………………………………………………..

    Chuyện về một nhà văn rất nổi tiếng, có lần một trong những tác phẩm của ông phát hành, những kẻ ghen ăn tức ở đã bảo thẳng với ông rằng nó không đáng đọc. Nhà văn điềm tĩnh trả lời: Tôi đã nhìn thấy có những bạn trẻ nam nữ đón đọc nó. Vâng, còn những bác chê BTC thì thấy sao, khi không chỉ các bạn trẻ đã đọc, mà có vô số người VN đã đón đọc BTC (Sét mỗ không bịa, nhưng bác nào là chuyên gia Gúc Gồ tìm thử xem nhà văn đó tên gì, hy vọng sẽ bó….tay).

  2. nguyenvan says:

    Có những quyển sách vừa mới ra lò đã được tung hô nhiệt liệt vì phù hợp với tiêu chí của giới cầm quyền , theo thời gian , nó đi về “cõi chết”. Ngược lại , có những tác phẩm có giá trị nhưng tức thời . người đời chưa đủ khả năng để cảm nhận; điều này không có gì lạ. “Bên thắng cuộc” thuộc dạng này. ” Bên thắng cuộc ” sẽ thắng cuộc khi không còn CNXH ở VN.

  3. TamHmong says:
    Chào các bác HC. Nhân câu chuyện về Huy Đức và “Bên thắng cuộc” đang sôi nổi. Tôi xin phép giới thiệu với bà con HC hai nhà báo nổi tiếng một thời và số phận những quyển sách-bài phóng sự nổi tiếng của họ. Thứ nhất là ông “John Reed (1887 – 1920) là nhà văn, nhà báo người Mỹ và là người đã sáng lập ra Đảng Công nhân cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ vào năm 1918. Ông là tác giả của một tác phẩm nổi tiếng viết về Cách mạng tháng Mười Nga mang tên Ten days that shook the world (Mười ngày rung chuyển thế giới) Năm 1920, ông tham dự đại hội công nhân phương Đông. Tại đây, ông bị bệnh cúm nặng và mất vào ngày 17 tháng 10 1920. John Reed được mai táng gần chân tường Điện Kremli tại Moskva cùng với nhiều chiến sĩ cách mạng Nga khác” (Wiki tiếng VN). Một vinh dự hết sức lớn chỉ dành cho các công thần hạng hai của nhà nước Xô Viết. Позднее он написал книгу об этих событиях в России — «Десять дней, которые потрясли мир», о которой В. И. Ленин отозвался следующим образом: Прочитав с громаднейшим интересом и неослабевающим вниманием книгу Джона Рида: «Десять дней, которые потрясли весь мир», я от всей души рекомендую это сочинение рабочим всех стран. Эту книгу я желал бы видеть распространённой в миллионах экземпляров и перевёденной на все языки, так как она даёт правдивое и необыкновенно живо написанное изложение событий, столь важных для понимания того, что такое пролетарская революция, что такое диктатура пролетариата (Wiki tiếng Nga). Lược dịch: về sau ông (John Reed) đã viết một quyển sách-phóng sự về các sự kiện ở nước Nga với tên gọi “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Vladimir Lenin lãnh tụ cách mạng Nga đã nhận định về quyển sách này như sau: Với một sự chăm chú xuyên suốt tôi đã vô cùng hứng thú đọc quyển sách “Mười ngày rung chuyển thế giới” của John Reed. Tôi toàn tâm giới thiệu quyển sách này với bà con công nhân trên khắp thế giới. Tôi muốn thấy quyển sách này được in thành hàng triệu bản và dịch ra tiếng tất cả các nước. Bởi vì quyển sách này đã mô tả một cách xác thực những sự kiện xảy ra ở Nga. Ngôn ngữ sống động của quyển sách cho phép người đọc hiểu đúng được thế nào là cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản (dịch từ Wiki tiếng Nga). Hiện nay mộ ông John Reed vẫn còn ở chân tường thành Điên Cremlin. Rất tiếc là hiện còn rất ít người Nga nhớ về quyển sách này của ông. Thứ hai là ông Trương Vĩnh Ký (hay còn gọi là Petrus Ký). Một học giả-nhà báo VN nổi tiếng không chỉ ở VN. Pétrus Trương Vĩnh Ký (張永記, 1837 – 1898), tên hồi nhỏ là Trương Chánh Ký, sau này đổi tên đệm thành Trương Vĩnh Ký, hiệu Sĩ Tải (士載); là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục học, và khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Ông có tri thức uyên bác, am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên đương thời ông được giới học thuật Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới. Ngoài ra, vì biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, nên ông trở thành nhà bác học biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam, và đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới. Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật,… Riêng đối với nền báo chí Quốc ngữ Việt Nam, ông được coi là “ông tổ nghề báo Việt Nam”, người đặt nền móng, bởi ông chính là người sáng lập, là Tổng biên tập tờ báo quốc ngữ đầu tiên: Gia Định báo (Wiki). Xin phép giới thiệu tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) qua lời bình của Nguyễn Phong Nam trên Web vanhocviet.org Trong sự nghiệp trứơc tác của Trương Vĩnh Ký, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876)[4] là tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt hơn cả. Cuốn sách này được ông xuất bản vào năm 1881, sau chuyến ra Bắc trước đó 5 năm; một chuyến đi gây nhiều hệ lụy cho (thanh danh) họ Trương và làm hao tổn không biết bao nhiêu giấy mực của giới nghiên cứu. Trong khối sách đồ sộ của ông, gồm đủ chủng loại (sáng tác, biên khảo, dịch thuật…) bằng nhiều ngôn ngữ (Việt, Hán, Bồ, Pháp…), quy mô tác phẩm này rất khiêm tốn, chỉ hơn ba chục trang in; những nhân vật, sự việc được nhắc đến trong sách cũng rất rõ ràng; đại để nội dung nói chuyện thăm viếng thường tình… Ấy thế mà nó lại là điểm xuất phát (và cũng là bằng cứ) cho những cuộc tranh cãi bất phân thắng bại kéo dài từ đầu thế kỷ XX cho đến tận ngày nay. Có một thực tế là lâu nay, khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký, giới nghiên cứu luôn gặp phải tình cảnh trớ trêu mà như có người nói, là bị một thứ “sương mù” bao phủ lên, làm nhòe mờ đi. Ông luôn bị người đời nhìn nhận bằng một thái độ nghi ngại, dè dặt. Thư tịch, tài liệu nghiên cứu về ông không hiếm, thế nhưng sự thật trong đó thường không mấy đảm bảo; khá nhiều thông tin liên quan đến Trương Vĩnh Ký bị khúc xạ theo một hướng nào đó. Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) là một trường hợp như thế. Tác phẩm này, thậm chí còn được trưng dẫn để chứng minh cho hành vi làm “Việt gian” của họ Trương. Vấn đề đặt ra ở đây là, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) cần được hiểu như thế nào? Giá trị đích thực của tác phẩm này là gì? Theo dõi những cuộc tranh luận về Trương Vĩnh Ký lâu nay, dễ dàng nhận ra một điều: ảnh hưởng của các loại thiên kiến (thậm chí là định kiến), đã chi phối rất nhiều đến nhận thức của nhà nghiên cứu về đối tượng. Mà điều này lại liên quan mật thiết đến cái gọi là “điểm nhìn” (point of view) của nhà khoa học. Rút cuộc, điểm mấu chốt trong sự khác biệt giữa các loại ý kiến khi đánh giá về danh nhân Trương Vĩnh Ký nói chung, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) nói riêng, lại xuất phát từ quan điểm tiếp cận. Khi tìm hiểu các công trình, bài viết liên quan đến Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), chúng tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy hầu như chưa bao giờ người ta coi đó là một tác phẩm văn học đúng nghĩa; trong khi nó lại là một cột mốc thực sự của lịch sử văn học, xét trên phương diện thể tài. Đây chính là đóng góp quan trọng nhất, thể hiện vị thế của một nhà văn lớn trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi – báo chí quốc ngữ. *** Trước tiên, hãy nói về thể tài du ký với tư cách thuật ngữ nghiên cứu văn học. Trong lịch sử văn học – báo chí Việt Nam từ đầu thế kỷ XX trở về trước, những tác phẩm được gọi đích danh là du ký vốn rất hiếm hoi. Có vẻ như Nguyễn Bá Trác [2] là người đầu tiên đã dùng nó một cách tự giác, với dụng ý nhấn mạnh đặc điểm của chủ đề, lối văn trong một tác phẩm được gọi là Hạn mạn du ký. Nguyễn Bá Trác, trong vai một nhà báo, đã thuật lại những gì mình trải nghiệm được từ những chuyến du lịch đến nhiều xứ sở. Thiên bút ký trường thiên này được đăng trên Nam phong tạp chí từ tháng 8 năm 1920 đến tháng 1 năm 1921 với 6 kỳ liên tục. Từ du ký (游 記), theo nghĩa từ nguyên, là ghi chép về “sự đi”, sự xê dịch, thưởng ngoạn cảnh quan xứ lạ. Thế nhưng nội hàm của khái niệm du ký – một thể tài văn học – thì lại khá phức tạp. Chứng cớ là ngoại trừ bài của Nguyễn Bá Trác ra thì lại có nhiều tác phẩm dù không được gọi du ký nhưng xét về bản chất chúng rất gần gũi nhau. Chẳng hạn, những tập văn xuôi chữ Hán như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác[5]; Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh[3]; Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn Phức[3]… hoặc những tập văn xuôi quốc ngữ như Sách sổ sang chép các việc của Philipphê Bỉnh[1]; Pháp du hành trình nhật ký, Thuật truyện du lịch Paris, Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh[2] …Thậm chí, ngay cả đối với Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) thì Trương Vĩnh Ký cũng gọi tác phẩm của mình là “truyện” (trang bìa sách tác giả đề Tự thuật vãng Bắc Kỳ truyện – 自 述 往 北 圻 傳). Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận ra điểm chung rất quan trọng giữa chúng: lối văn ghi chép từ những chuyến đi. Nếu đối chiếu với văn học Phương Tây, thì thấy rằng trên đại thể, chúng cũng chẳng khác mấy so với lối bút ký lữ hành (travelling notes) một thể văn xuôi tự sự rất thông dụng ở nhiều nước. Nhưng nói thế không có nghĩa mọi tác phẩm viết về lữ hành đều giống hệt nhau. Nếu xét kỹ về phương thức thể hiện thì lại thấy trong cái khối chung này, có nhiều nhóm, loại với những nét đặc thù. Chẳng hạn, đều là “hành trình ký sự” song hình thức lại rất khác nhau; có những văn bản ghi chép tỉ mỉ bằng lối văn xuôi nhật dụng về chuyến đi theo một lịch trình cụ thể (được gọi là “nhật ký”, “nhật trình”); lại cũng có khi tác phẩm được thể hiện dưới dạng thơ trường thiên (Như Tây nhật trình của Trương Minh Ký là một “câu chuyện” dài tới 2000 câu thơ); có trường hợp ghi chép chuyến đi qua hồi ức, một dạng “hồi ký” (Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh); lại có cuốn được thể hiện dưới dạng “du khảo” – thiên về giới thiệu “kiến văn” (Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn Phức, Giá Viên biệt lục của Phạm Phú Thứ)[3] … . Nói cách khác, ngay trong bản thân cái gọi là du ký cũng rất đa dạng, không hề thuần nhất chút nào. Như vậy, du ký với tư cách một thể tài văn học, bao hàm trong đó những kiểu dạng tác phẩm có hình thái rất khác nhau. Nét đặc thù của những tác phẩm thuộc thể tài du ký chính là nhận thức của bản thân người viết qua các cuộc viễn du, là sự trải nghiệm lữ hành. Khác với văn học nhiều nước Phương Tây, thể tài du ký ở ta xuất hiện muộn và cũng ít được chú ý. Có nhiều lý do liên quan đến hiện tượng này, nhưng chung quy có lẽ là bởi người Việt vốn e ngại sự di chuyển, chỉ lên đường khi chẳng đặng đừng. Trong quá khứ, không kể hạng người bình dân, ngay đối với các bậc phong lưu cũng thế. Người nông dân phải nhọc nhằn vật lộn mưu sinh, bị ràng níu bởi trăm thứ hữu hình, vô hình, nên không thể có điều kiện để du ngọan đã đành; cả đến văn nhân cũng ít có điều kiện (kể cả nhu cầu) để du ngoạn đúng nghĩa. Cho đến đầu thế kỷ XX mà những người “mê” đi, “có gan” đi như Tản Đà, Nguyễn Tuân… chỉ là hạn hữu. Mà đã ít người đi, ít kẻ dám dấn bước phiêu lãng thì mạch văn chương du ký hạn hẹp, thưa thớt cũng là chuyện dễ hiểu. Trong bối cảnh đó, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) có giá trị vượt hẳn tính chất của một tác phẩm du ký thông thường; nó đánh dấu cho quá trình hiện đại hóa một thể tài, góp phần làm nên bước tiến mạnh mẽ của văn học dân tộc nói chung trên con đường hiện đại hóa chặng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. *** Tính hiện đại của Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) thể hiện qua hai điểm cốt yếu: cảm hứng lữ hành của tác giả và lối văn xuôi rất mới mẻ trong tác phẩm. Với thiên ký sự này, lần đầu tiên trong mạch văn chương quốc ngữ xuất hiện một tác phẩm thuộc thể tài du ký đúng nghĩa. Nói như vậy là muốn nhấn mạnh đến tính chất của tác phẩm chứ không thuần xét về thời điểm xuất hiện. Bởi nếu so ra thì tác phẩm của Trương Vĩnh Ký không phải sớm nhất; Sách sổ sang chép các việc của Philipphê Bỉnh còn xuất hiện trước đó rất lâu (từ năm 1822). Nhưng dù vậy, dù ra đời sớm hơn nửa thế kỷ, tôi cho rằng cuốn của Philipphe Bỉnh chưa phải là một thiên du ký theo nghĩa hiện đại bởi tính chất du hý, thưởng lãm chưa trở thành ý vị chính yếu của sự đi; nó vẫn thiên về kê biên (sang chép) tư liệu; cái “tôi” lữ khách chưa thực sự nổi bật. Trong khi du ký hiện đại chủ yếu phải là những cái được “sáng tạo” (compose), là câu chuyện của chính du khách (họ là nhân vật chính, nhân vật trung tâm của cuốn sách). Mặc dù so với truyền thống tự sự trong văn chương Việt, cách mở đầu tác phẩm của Philipphe Bỉnh đáng được ghi nhận là một biệt lệ. Ông viết: “Tôi là thầy cả Philip Bỉnh…” – một lối nhập đề rất mới lạ, có thay đổi so với các tác giả trung đại, song bóng dáng của người du khách vẫn rất mờ nhạt, bị khuất hẳn đi sau tư liệu (các việc). Bởi ở đây, “Tôi” cũng không phải “nhân vật” chính, “chuyến đi” cũng không phải đối tượng chính; cái chính ở đây là “việc”. Trương Vĩnh Ký bắt đầu thiên du ký một cách thật giản dị: “Năm Ất Hợi (1876), bái trưởng tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đã lâu; nên xin với quan trên, nhơn dịp chiếc tàu Duchaffaud đi mà đi. Về sắm hòm rương áo quần. Rủ thầy Ba Hớn với ông Sáu Thìn, nguyên một người ở tỉnh Bắc Ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam Kỳ đã lâu, đi theo trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán.”. Cái lý do của chuyến đi đơn giản và rõ ràng hết sức: đi cho biết Bắc Kỳ. Mục đích đi để khám phá, tìm hiểu “xứ lạ” của chủ thể ở đây rất khác so với trạng thái bị động của phần đa kẻ lữ hành trong các thiên hành trình ký sự trước đó. Một lối khởi hành mang tính chất lãng tử, tài tử khác hẳn với những chuyến đăng trình rềnh rang nghi thức, tâm trạng ngổn ngang. Cần nhớ chuyến đi được khởi hành vào mùng mười tám tháng Chạp, là lúc đã “năm cùng tháng tận”, sắp cận kề một cái Tết cổ truyền. Thế mà vẫn háo hức lên đường. Sức hút của chuyến đi lấn át hết những vướng bận thường nhật khác. Cái tâm thế phiêu lưu này được bộc lộ rất rõ vào thời điểm tác giả đã hoàn tất chuyến đi theo dự kiến, xuống Hải Phòng để đáp tàu vào Gia Định. Rủi là bị trễ chuyến: “Lỡ dịp đi, buồn bực quá. Nhưng mà cũng chẳng qua là bởi đâu xây khiến cho được biết đất Bắc rõ hơn. (…) Vì vậy qua mồng 3 tháng 2, mới tính ở mà đợi lóng nhóng đó cũng mất công vô ích; chi bằng hồi ngữ về ngã Hương Cảng đi, để chờ dịp tàu sau về ngay Nam Kỳ. Mà bởi không biết chắc ngày nào tàu ra, mới tính đi rông ít ngày qua Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hưng Yên cho biết xứ ”. Rõ ràng qua đây, cái gọi là “cảm hứng lữ hành” ở họ Trương rất nổi bật; nó được đưa vào trong tác phẩm một cách nguyên vẹn. Cần đặc biệt lưu ý tới cái tâm thế, cảm hứng lữ hành hiện đại này bởi nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cái gọi là “nhãn quan nghệ thuật” trong tác phẩm. Cái cách nhìn, lối cảm nhận về thế giới thực tại của lữ khách phụ thuộc rất nhiều vào tâm trạng, tâm lý cũng như cái đích nhắm đến của chuyến đi. Bởi vì cảm quan ngoại giới của một du khách sẽ rất khác với cách cảm nhận của một kẻ bộ hành với mục đích mưu sinh, hay một hành nhân tị nạn, hoặc của một kẻ bị lưu đày… Nói khác đi, tâm thế này sẽ ảnh hưởng đến việc lữ khách nhìn thấy cái gì (?), cảm thấy điều gì (?), thu nhận được ý nghĩa gì từ chuyến đi. Đối với Trương Vĩnh Ký, mục đích chuyến du hành này là để thỏa ý thích được đi; và chính đó là tâm thế của “kẻ lữ hành hiện đại”. Thích được trải nghiệm thông qua cảm giác xê dịch là một trong những đặc điểm tâm lý của chủ nghĩa cá nhân (individualism). Bởi đối với con người cá nhân cá thể hiện đại, đi là để nhận biết và để khẳng định. Câu nói trứ danh của Paul Morand: “Ta muốn sau khi ta chết đi, có người thuộc da ta làm chiếc va li” không chỉ là tuyên ngôn của tín đồ thuộc “giáo phái xê dịch”, mà còn là một nét tâm thức thời đại. Với tâm thế chủ động của kẻ lên đường vì chính “sự đi”, Trương Vĩnh Ký đã thu nhận được nhiều điều lý thú và đưa vào trong thiên du ký. Trong đó, ông đặc biệt chú ý tiếp cận và ký chép kỹ càng về những cuộc tiếp xúc với các nhân vật ở địa phương, các phong tục tập quán và các danh lam thắng tích… đã được tận mắt chứng kiến. Dường như đây cũng chính là những dạng du lịch phổ biến nhất của lữ hành đương đại; được khái quát thành các thuật ngữ có tính chất chuyên ngành như tham quan học tập (study tour), du lịch văn hóa (cultural travel), du lịch sinh thái (ecology travel). Cách tiếp cận đối tượng, cách hành xử trong từng tình huống cụ thể của họ Trương gợi ý cho ta nhiều điều thú vị. *** Trương Vĩnh Ký kể lại trong Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) một cách ngắn gọn song khá đầy đủ về những cuộc tiếp xúc với rất nhiều nhân vật ở Bắc Kỳ. Mật độ các cuộc thù tiếp dày đặc. Đối tượng rất phong phú, thuộc nhiều “tip” người khác nhau, sang hèn đủ kiểu dạng. Trong số này, có 3 nhóm người được ông thuật lại khá tỉ mỉ: giới chức người Pháp, quan lại Nam triều, chức sắc nhà thờ. Điều oái oăm là, chính những cuộc tiếp xúc này đã dẫn đến những rắc rối cho ông; dư luận phán xét về hành vi này của ông khá nặng nề; nhiều nghi vấn về mục đích thực sự của chuyến đi Bắc Kỳ được đặt ra. Những đồn đoán về hành tích họ Trương kéo dài dai dẳng lâu nay một phần cũng từ đây mà ra. Nhiều ý kiến cho rằng chuyến ra Bắc của ông, du lịch chỉ là cái cớ, cái vỏ che đậy một sứ mạng chính trị quan trọng. Sứ mạng đó là gì thì chưa ai chứng minh được; thế nhưng người ta cho rằng với những cuộc tiếp kiến bất kể ngày đêm diễn ra liên tục trong suốt thời gian ông ở Bắc Kỳ, và nhất là với hầu hết những nhân vật quan yếu của chính quyền lẫn nhà thờ thì hẳn nhiên nó phải bất thường. Tất nhiên, bàn luận thị phi là quyền của dư luận. Song có một thực tế là cho đến bây giờ, cái điều bí mật được che đậy từ chuyến ra Bắc của Trương Vĩnh Ký là gì vẫn là một câu hỏi. Phải chăng dư luận đã quá khắt khe với ông? Và con người này có đáng bị trùm cho một cái nghi án mơ hồ như thế không? Thực ra, cái sự khác thường ở đây nếu có chăng, chỉ là chỗ các nhân vật mà họ Trương tiếp xúc đều thuộc diện “kẻ sang”; và quả thực, có gì đó như là một sự hâm mộ, trọng thị (đôi khi hơi quá đáng) mà người xứ Bắc dành cho ông. Nhưng nếu ngẫm kỹ, cũng chả có gì đáng gọi là bất thường ở đây. Trương Vĩnh Ký vốn là người tiếng tăm lừng lẫy, quảng giao, lại từng trải ở những vị thế đặc biệt (giám đốc trường thông ngôn, chủ bút Gia Định báo…); uy danh của ông đâu chỉ vang dội trong xứ Annam(!). Vậy thì việc họ Trương – một danh sĩ đến từ Xứ Nam Kỳ vào dịp tống cựu nghênh tân này rất đáng được coi là sự kiện lớn; rộn ràng thù tạc cũng chả có gì khác thường cả. Vả chăng, nhìn vào lịch trình thăm viếng của ông kể cũng khó chỉ ra chỗ ám muội. Ngoại trừ hai cuộc viếng thăm lãnh sự Pháp ở Hải Phòng, Hà Nội (tác giả dùng chữ “thăm”, không rõ có liên quan gì đến bổn phận của một công dân khác xứ không), còn lại đều là những cuộc tiếp kiến đầy ngẫu hứng, không hẹn trước. Và Trương Vĩnh Ký tỏ ra rất hứng thú với những cuộc hàn huyên, đàm đạo này. Ngay cuộc tiếp kiến các đức thầy, cha cố, chức dịch nhà thờ… cũng là những cuộc gặp ngẫu nhiên của một du khách ưa giao du, muốn học hỏi. *** Phần chủ yếu trong cuốn sách, Trương Vĩnh Ký dành để ghi chép về những điều trải nghiệm được từ thực tế. Danh sách những thắng tích, cảnh quan Bắc Hà ở đây thật phong phú: Chùa Nguyễn Đăng Giai, Hồ Hoàn Gươm, Đền Kính Thiên, Cột cờ, Đền Công, Ông Thánh Đồng Đen, Chùa Một Cột, Hồ Tây, Văn Thánh Miếu… Có điều lý thú là với thói quen cố hữu của một nhà khoa học, ông tiếp cận cảnh vật theo cách riêng của mình; quan sát và ghi chép như một nhà khảo cứu đang tiếp cận tư liệu hơn là một du khách. Những con số, lời bình, chú giải về địa danh, địa bạ, lịch sử… của họ Trương rõ là thao tác của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Đây là một đọan ghi chép về Thổ sản đất Hà Nội: “Lúa: lúa dê (duy), lúa thông, lúa dự, lúa lem bông, lúa trĩ, lúa hương, lúa thầy đường, lúa bạch canh. Nếp: nếp bông vàng, nếp răng ngựa, nếp ruồng, nếp cau, nếp trái vải, nếp đuôi chồn, nếp ngọc thục… Tơ, bông cán, hàng đoạn bông (phường Thọ Xương, kiên liên dệt), trừu bông (Từ Liêm), hàng lượt, lãnh bóng, lượt bùng, the rây, lụa bông, lụa trắng, thao, vải trắng, the làn, xuyến, láng gốc… Cây hội (giấy viết sắc), các thứ giấy, quạt trúc, nón nan; ngói gạch, nồi đất (đồ gốm); trà, muối diêm, mật ui, đường hạ; vôi đá, bánh phục linh, trôi nước, xôi bông đường, bánh mì khoai, rượu trắng; khoai lang mộng, khoai sáp, khoai mài, khoai tím, khoai ngọt; củ sắn, củ đậu ,củ nần, củ huỳnh tinh, xoài, mít, nhãn, hồng thơm, hồng đỏ….” Quả là không dễ để có thể kê biên một cách chi li từng giống lúa khoai, loại lụa là, thức dùng… với hàng chục tên gọi khác nhau như thế nếu không có con mắt và cái trí của nhà bác học, ham hiểu biết, rất lịch lãm. Trong cái cách kể lể, liệt kê này, ta dễ nhận thấy trạng thái háo hức, mê đắm, tập trung của Trương Vĩnh Ký. Một cái nhìn hờ hững, một sự phân tâm của chủ thể không bao giờ tạo tác được những trang tư liệu về phong thổ như vậy. Một đoạn ghi chép về phong tục xứ Bắc chứng tỏ cái nhìn hết sức tỉ mỉ, từng trải của tác giả: “Trong tứ dân đều có chuyên nghề cả, mà nông thì hội hơn. Chốn Thiềng Thị thì công thương tụ, có lộn Ngỏ Khách. Đàn ông còn trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm. Đàn ông ăn mặc cũng thường, diêu áo vấn tới đầu gối, đầu hay đội nón ngựa, bịt khăn đen. Đàn bà mặc áo có thắt lưng làm bìu (bọc), yếm đỏ, không gài nút nịt, nút vai thả không ra mà thôi, đầu đội nón giàu (ba tầm), lớn gần bàng cái nia, hai bên có hai quai tụi vấn toòng teng, đầu vấn ngang, lấy lượt nhiễu vấn tóc mà khoanh vấn theo đầu. (có một làng Kẻ Lòi có đàn bà bới tóc); Dưới mặc váy, chân đi dép sơn; nước da mịn màng trắng trẻo, má hồng, da ửng, gót son, phốp pháp người; răng nhuộm đen cánh gián. Thói trật áo thắt lưng là nhơn bởi trời đông thiên rét lạnh; đàn bà có con, cho bú một lần phải mở nhiều áo khó lòng, nên để luôn như vầy. Còn thắt lưng thì cũng là vì lạnh; con gái thấy vậy cũng bắt chước làm theo, mùa nào mùa nấy cũng để luôn như vậy mà thành tục.” Điều thú vị trong phần nói về phong tục không chỉ ở những thông tin mà còn ở lời nhận xét, bình luận. Quan sát, ghi nhận và bình phẩm, giải thích về các phong tục tập quán một cách tinh tế nhưng cũng rất hóm hỉnh là một đặc điểm nổi trội trong thiên du ký này. *** Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) được xuất bản vào năm 1881, thời điểm văn xuôi quốc ngữ đang ở chặng thử nghiệm, thế mà lạ thay, nó lại mang một dáng vẻ hiện đại đến khó tin. Chả cần phải đối sánh với những truyện thơ Nôm, văn xuôi chữ Hán cùng thời, hãy cứ so với phần lớn những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ ra đời mấy chục năm sau nữa nhưng vẫn chưa thoát khỏi giọng biền ngẫu, đăng đối cổ kính… sẽ thấy văn Trương Vĩnh Ký hiện đại thế nào. Dưới đây là đọan kể chuyến du ngọan Động Từ Thức ở Thanh Hóa, đọan văn có lẽ là hay nhất trong toàn bộ tác phẩm: “Hang Từ Thức ở tại xã Trị Nội, tổng Kiều Vịnh, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung. Đi đến đó phải đi qua cái đèo, rồi đi vòng lại bên tả mới tới miệng hang. Chỗ ấy kêu là Từ Thức động hay là Bích Đào động. Ở ngoài có cái miễu nhỏ nhỏ, nơi cửa động có chữ đề khắc vô đá. Vào trong phải có đuốc, vô trong nó rung rinh, có chỗ có đường như cột đá; dưới chân, chỗ thì có đá viên tròn vo bằng viên đạn cũng nhiều, nhỏ hơn nữa cũng nhiều, có chỗ thì đầy những đá đen cục hòn mà thành hình như trái mảng cầu khô; còn có chỗ lại có đá ra hình bàn ghế, mòn trơn có vân có hoa như chạm trổ vậy. Trên đầu ngó lên thấy thạch nhũ như là màn treo có thể bỏ xuống, trong đá coi nhấp nháng sáng ngời như kim sa. Hết bùng binh nầy tới bùng binh khác. Sau hết xuống tới cổ kiềng là cái miệng xuống hang dưới nữa, nó như miệng giếng, phải nghiêng mình lận theo thì xuống mới đặng; dưới đáy hết thì có cái như cái ao bèo cám lênh láng. Đi hồi giờ thứ 6 đến giờ thứ 8 rưỡi mới tới nơi.” Đoạn văn trần thuật rất sinh động; lời dẫn rất tự nhiên, nhưng không dễ dãi mà chừng mực; đủ để bao quát hết được các hành vi. Khả năng làm chủ ngôn từ của họ Trương rất đáng nể. Các từ dùng mô tả rất chính xác, gợi liên tưởng. Đây đúng là lối văn “như lời nói thường”, bằng thứ tiếng “Annam ròng” mà họ Trương từng ao ước; một lối văn thoát ra khỏi cái trường ước lệ của thi ca, cái khuôn sáo của văn chức năng, nhật dụng. Có rất nhiều đọan, người đọc bị cuốn hút không chỉ vì được đồng hành, dõi theo quá trình thưởng lãm các cảnh trí, mà còn lây cái hóm hỉnh, vui nhộn trong cách diễn đạt của tác giả. Đây là đọan ở Ninh Bình : “Đến đó xuống cáng để đi chân mà coi chơi cho biết, cho cáng đi không. Qua khỏi Tam Điệp rồi tới quán Cháo, ra tới quán Gành vừa tối, nên ở lại quán ngủ đó một đêm. Giờ thứ tư sáng ở quán Gành cất ra đi, khỏi quán Sanh, Ba Vuông rồi mới tới tỉnh Ninh Bình. Dọc đường đi ngó thấy tại đất bàng có nhiều cái hòn núi nhỏ riêng nhau ra từng cái, dường như núi cảnh, như non bộ đất vậy. Đi riết giờ thứ 8 rưỡi tới tỉnh vào trọ nhà bà Phó Vàng là người có đạo ở gần tỉnh. Nghỉ ngơi, cơm nước đó một lát, kế lấy trong tỉnh quan tuần phủ tên là Đặng Xuân Toán cho ông lãnh binh ra mời vô thành chơi, (giờ thứ 41). Xách dù đi có đem ông Kỳ đi theo vào thành, thiên hạ nghe tiếng người Gia định rùng rùng kéo nhau đi coi, lớp kia lớp nọ đông nức. Vào thành rồi, nó còn làm hỗn leo trèo mà coi, thì quan lãnh binh phải đóng cửa thành lại. Thăm ông tuần rồi, có quan án đó (Đồng Sĩ Vịnh) lại mời luôn về dinh. Khi từ giã ra về, người có đem tiễn chân 2 bình trà với 20 quan tiền.” Đúng thật là lối ngao du tùy hứng; không câu nệ, chả cần lịch trình; gặp gỡ, nghỉ ngơi theo ý thích. Và ngẫm ra kiểu đi “phượt”, “du lịch bụi” ngày nay của giới trẻ, cũng như cái dòng mạch văn chương du khảo đang phát triển rầm rộ trong văn học Việt thời gian gần đây không phải là không thừa hưởng được chút gì từ chuyến đi năm ấy của Trương Vĩnh Ký. *** Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký là cuốn sách có nhiều giá trị. Nó không chỉ là một tài liệu quý báu trong lĩnh vực nghiên cứu quốc học, tìm hiểu về đất nước, con người, văn hóa Việt mà còn chứa đựng những thông tin đáng tin cậy để nghiên cứu về chính cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng chính trị và học thuật của Trương Vĩnh Ký, một danh nhân văn hóa tầm cỡ thế giới. Xét trên bình diện văn học, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) cũng là một tác phẩm rất đáng chú ý của Trương Vĩnh Ký. Tính chất hiện đại, mới mẻ được bộc lộ rất rõ ràng thông qua cảm quan, giọng điệu, ngôn từ, cấu trúc của tác phẩm. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của thể tài du ký hiện đại trong văn học Việt Nam. Thiên du ký này là bằng chứng cụ thể về những đóng góp hữu ích của ông cho quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Hy vọng là nhà báo HM sẽ có tác phẩm để đời và không phải chờ sự công nhận lâu như Trương Vĩnh Ký. Xin lỗi vì chiếm nhiều không gian diễn đàn HC. shook the world (Mười ngày rung chuyển thế giới) Năm 1920, ông tham dự đại hội công nhân phương Đông. Tại đây, ông bị bệnh cúm nặng và mất vào ngày 17 tháng 10 1920. John Reed được mai táng gần chân tường Điện Kremli tại Moskva cùng với nhiều chiến sĩ cách mạng khác” (Wiki tiếng VN). Một vinh dự hết sức lớn chỉ dành cho các công thần hạng hai của nhà nước Xô Viết. Позднее он написал книгу об этих событиях в России — «Десять дней, которые потрясли мир», о которой В. И. Ленин отозвался следующим образом: Прочитав с громаднейшим интересом и неослабевающим вниманием книгу Джона Рида: «Десять дней, которые потрясли весь мир», я от всей души рекомендую это сочинение рабочим всех стран. Эту книгу я желал бы видеть распространённой в миллионах экземпляров и перевёденной на все языки, так как она даёт правдивое и необыкновенно живо написанное изложение событий, столь важных для понимания того, что такое пролетарская революция, что такое диктатура пролетариата (Wiki tiếng Nga). Lược dịch: về sau ông (John Reed) đã viết một quyển sách-phóng sự về các sự kiện ở nước Nga với tên gọi “Mười ngày rung chuyển thế giới”. Vladimir Lenin lãnh tụ cách mạng Nga đã nhận định về quyển sách này như sau: Với một sự chăm chú xuyên suốt tôi đã vô cùng hứng thú đọc quyển sách “Mười ngày rung chuyển thế giới” của John Reed. Tôi toàn tâm giới thiệu quyển sách này với bà con công nhân trên khắp thế giới. Tôi muốn thấy quyển sách này được in thành hàng triệu bản và dịch ra tiếng tất cả các nước. Bởi vì quyển sách này đã mô tả một cách xác thực những sự kiện xảy ra ở Nga. Ngôn ngữ sống động của quyển sách cho phép người đọc hiểu đúng được thế nào là cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản (dịch từ Wiki tiếng Nga). Hiện nay mộ ông John Reed vẫn còn ở chân tường thành Điên Cremlin. Rất tiếc là hiện còn rất ít người Nga nhớ về quyển sách này của ông. Thứ hai là ông Trương Vĩnh Ký (hay còn gọi là Petrus Ký). Một học giả-nhà báo VN nổi tiếng không chỉ ở VN. Pétrus Trương Vĩnh Ký (張永記, 1837 – 1898), tên hồi nhỏ là Trương Chánh Ký, sau này đổi tên đệm thành Trương Vĩnh Ký, hiệu Sĩ Tải (士載); là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục học, và khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Ông có tri thức uyên bác, am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên đương thời ông được giới học thuật Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới. Ngoài ra, vì biết và sử dụng thông thạo 27 ngoại ngữ, nên ông trở thành nhà bác học biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam, và đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới. Ông để lại hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật,… Riêng đối với nền báo chí Quốc ngữ Việt Nam, ông được coi là “ông tổ nghề báo Việt Nam”, người đặt nền móng, bởi ông chính là người sáng lập, là Tổng biên tập tờ báo quốc ngữ đầu tiên: Gia Định báo (Wiki). Xin phép giới thiệu tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) qua lời bình của Nguyễn Phong Nam trên Web vanhocviet.org Trong sự nghiệp trứơc tác của Trương Vĩnh Ký, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876)[4] là tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt hơn cả. Cuốn sách này được ông xuất bản vào năm 1881, sau chuyến ra Bắc trước đó 5 năm; một chuyến đi gây nhiều hệ lụy cho (thanh danh) họ Trương và làm hao tổn không biết bao nhiêu giấy mực của giới nghiên cứu. Trong khối sách đồ sộ của ông, gồm đủ chủng loại (sáng tác, biên khảo, dịch thuật…) bằng nhiều ngôn ngữ (Việt, Hán, Bồ, Pháp…), quy mô tác phẩm này rất khiêm tốn, chỉ hơn ba chục trang in; những nhân vật, sự việc được nhắc đến trong sách cũng rất rõ ràng; đại để nội dung nói chuyện thăm viếng thường tình… Ấy thế mà nó lại là điểm xuất phát (và cũng là bằng cứ) cho những cuộc tranh cãi bất phân thắng bại kéo dài từ đầu thế kỷ XX cho đến tận ngày nay. Có một thực tế là lâu nay, khi tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký, giới nghiên cứu luôn gặp phải tình cảnh trớ trêu mà như có người nói, là bị một thứ “sương mù” bao phủ lên, làm nhòe mờ đi. Ông luôn bị người đời nhìn nhận bằng một thái độ nghi ngại, dè dặt. Thư tịch, tài liệu nghiên cứu về ông không hiếm, thế nhưng sự thật trong đó thường không mấy đảm bảo; khá nhiều thông tin liên quan đến Trương Vĩnh Ký bị khúc xạ theo một hướng nào đó. Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) là một trường hợp như thế. Tác phẩm này, thậm chí còn được trưng dẫn để chứng minh cho hành vi làm “Việt gian” của họ Trương. Vấn đề đặt ra ở đây là, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) cần được hiểu như thế nào? Giá trị đích thực của tác phẩm này là gì? Theo dõi những cuộc tranh luận về Trương Vĩnh Ký lâu nay, dễ dàng nhận ra một điều: ảnh hưởng của các loại thiên kiến (thậm chí là định kiến), đã chi phối rất nhiều đến nhận thức của nhà nghiên cứu về đối tượng. Mà điều này lại liên quan mật thiết đến cái gọi là “điểm nhìn” (point of view) của nhà khoa học. Rút cuộc, điểm mấu chốt trong sự khác biệt giữa các loại ý kiến khi đánh giá về danh nhân Trương Vĩnh Ký nói chung, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) nói riêng, lại xuất phát từ quan điểm tiếp cận. Khi tìm hiểu các công trình, bài viết liên quan đến Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), chúng tôi rất ngạc nhiên khi nhận thấy hầu như chưa bao giờ người ta coi đó là một tác phẩm văn học đúng nghĩa; trong khi nó lại là một cột mốc thực sự của lịch sử văn học, xét trên phương diện thể tài. Đây chính là đóng góp quan trọng nhất, thể hiện vị thế của một nhà văn lớn trong quá trình hiện đại hóa văn xuôi – báo chí quốc ngữ. *** Trước tiên, hãy nói về thể tài du ký với tư cách thuật ngữ nghiên cứu văn học. Trong lịch sử văn học – báo chí Việt Nam từ đầu thế kỷ XX trở về trước, những tác phẩm được gọi đích danh là du ký vốn rất hiếm hoi. Có vẻ như Nguyễn Bá Trác [2] là người đầu tiên đã dùng nó một cách tự giác, với dụng ý nhấn mạnh đặc điểm của chủ đề, lối văn trong một tác phẩm được gọi là Hạn mạn du ký. Nguyễn Bá Trác, trong vai một nhà báo, đã thuật lại những gì mình trải nghiệm được từ những chuyến du lịch đến nhiều xứ sở. Thiên bút ký trường thiên này được đăng trên Nam phong tạp chí từ tháng 8 năm 1920 đến tháng 1 năm 1921 với 6 kỳ liên tục. Từ du ký (游 記), theo nghĩa từ nguyên, là ghi chép về “sự đi”, sự xê dịch, thưởng ngoạn cảnh quan xứ lạ. Thế nhưng nội hàm của khái niệm du ký – một thể tài văn học – thì lại khá phức tạp. Chứng cớ là ngoại trừ bài của Nguyễn Bá Trác ra thì lại có nhiều tác phẩm dù không được gọi du ký nhưng xét về bản chất chúng rất gần gũi nhau. Chẳng hạn, những tập văn xuôi chữ Hán như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác[5]; Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh[3]; Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn Phức[3]… hoặc những tập văn xuôi quốc ngữ như Sách sổ sang chép các việc của Philipphê Bỉnh[1]; Pháp du hành trình nhật ký, Thuật truyện du lịch Paris, Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh[2] …Thậm chí, ngay cả đối với Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) thì Trương Vĩnh Ký cũng gọi tác phẩm của mình là “truyện” (trang bìa sách tác giả đề Tự thuật vãng Bắc Kỳ truyện – 自 述 往 北 圻 傳). Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận ra điểm chung rất quan trọng giữa chúng: lối văn ghi chép từ những chuyến đi. Nếu đối chiếu với văn học Phương Tây, thì thấy rằng trên đại thể, chúng cũng chẳng khác mấy so với lối bút ký lữ hành (travelling notes) một thể văn xuôi tự sự rất thông dụng ở nhiều nước. Nhưng nói thế không có nghĩa mọi tác phẩm viết về lữ hành đều giống hệt nhau. Nếu xét kỹ về phương thức thể hiện thì lại thấy trong cái khối chung này, có nhiều nhóm, loại với những nét đặc thù. Chẳng hạn, đều là “hành trình ký sự” song hình thức lại rất khác nhau; có những văn bản ghi chép tỉ mỉ bằng lối văn xuôi nhật dụng về chuyến đi theo một lịch trình cụ thể (được gọi là “nhật ký”, “nhật trình”); lại cũng có khi tác phẩm được thể hiện dưới dạng thơ trường thiên (Như Tây nhật trình của Trương Minh Ký là một “câu chuyện” dài tới 2000 câu thơ); có trường hợp ghi chép chuyến đi qua hồi ức, một dạng “hồi ký” (Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh); lại có cuốn được thể hiện dưới dạng “du khảo” – thiên về giới thiệu “kiến văn” (Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn Phức, Giá Viên biệt lục của Phạm Phú Thứ)[3] … . Nói cách khác, ngay trong bản thân cái gọi là du ký cũng rất đa dạng, không hề thuần nhất chút nào. Như vậy, du ký với tư cách một thể tài văn học, bao hàm trong đó những kiểu dạng tác phẩm có hình thái rất khác nhau. Nét đặc thù của những tác phẩm thuộc thể tài du ký chính là nhận thức của bản thân người viết qua các cuộc viễn du, là sự trải nghiệm lữ hành. Khác với văn học nhiều nước Phương Tây, thể tài du ký ở ta xuất hiện muộn và cũng ít được chú ý. Có nhiều lý do liên quan đến hiện tượng này, nhưng chung quy có lẽ là bởi người Việt vốn e ngại sự di chuyển, chỉ lên đường khi chẳng đặng đừng. Trong quá khứ, không kể hạng người bình dân, ngay đối với các bậc phong lưu cũng thế. Người nông dân phải nhọc nhằn vật lộn mưu sinh, bị ràng níu bởi trăm thứ hữu hình, vô hình, nên không thể có điều kiện để du ngọan đã đành; cả đến văn nhân cũng ít có điều kiện (kể cả nhu cầu) để du ngoạn đúng nghĩa. Cho đến đầu thế kỷ XX mà những người “mê” đi, “có gan” đi như Tản Đà, Nguyễn Tuân… chỉ là hạn hữu. Mà đã ít người đi, ít kẻ dám dấn bước phiêu lãng thì mạch văn chương du ký hạn hẹp, thưa thớt cũng là chuyện dễ hiểu. Trong bối cảnh đó, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) có giá trị vượt hẳn tính chất của một tác phẩm du ký thông thường; nó đánh dấu cho quá trình hiện đại hóa một thể tài, góp phần làm nên bước tiến mạnh mẽ của văn học dân tộc nói chung trên con đường hiện đại hóa chặng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. *** Tính hiện đại của Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) thể hiện qua hai điểm cốt yếu: cảm hứng lữ hành của tác giả và lối văn xuôi rất mới mẻ trong tác phẩm. Với thiên ký sự này, lần đầu tiên trong mạch văn chương quốc ngữ xuất hiện một tác phẩm thuộc thể tài du ký đúng nghĩa. Nói như vậy là muốn nhấn mạnh đến tính chất của tác phẩm chứ không thuần xét về thời điểm xuất hiện. Bởi nếu so ra thì tác phẩm của Trương Vĩnh Ký không phải sớm nhất; Sách sổ sang chép các việc của Philipphê Bỉnh còn xuất hiện trước đó rất lâu (từ năm 1822). Nhưng dù vậy, dù ra đời sớm hơn nửa thế kỷ, tôi cho rằng cuốn của Philipphe Bỉnh chưa phải là một thiên du ký theo nghĩa hiện đại bởi tính chất du hý, thưởng lãm chưa trở thành ý vị chính yếu của sự đi; nó vẫn thiên về kê biên (sang chép) tư liệu; cái “tôi” lữ khách chưa thực sự nổi bật. Trong khi du ký hiện đại chủ yếu phải là những cái được “sáng tạo” (compose), là câu chuyện của chính du khách (họ là nhân vật chính, nhân vật trung tâm của cuốn sách). Mặc dù so với truyền thống tự sự trong văn chương Việt, cách mở đầu tác phẩm của Philipphe Bỉnh đáng được ghi nhận là một biệt lệ. Ông viết: “Tôi là thầy cả Philip Bỉnh…” – một lối nhập đề rất mới lạ, có thay đổi so với các tác giả trung đại, song bóng dáng của người du khách vẫn rất mờ nhạt, bị khuất hẳn đi sau tư liệu (các việc). Bởi ở đây, “Tôi” cũng không phải “nhân vật” chính, “chuyến đi” cũng không phải đối tượng chính; cái chính ở đây là “việc”. Trương Vĩnh Ký bắt đầu thiên du ký một cách thật giản dị: “Năm Ất Hợi (1876), bái trưởng tham biện vừa xong, vùng tính đi ra Bắc chơi một chuyến cho biết. Trong bụng muốn cũng đã lâu; nên xin với quan trên, nhơn dịp chiếc tàu Duchaffaud đi mà đi. Về sắm hòm rương áo quần. Rủ thầy Ba Hớn với ông Sáu Thìn, nguyên một người ở tỉnh Bắc Ninh, một người ở Sơn Tây mà vào trong Nam Kỳ đã lâu, đi theo trước là cho có bạn, sau nữa là cho họ về thăm quê quán.”. Cái lý do của chuyến đi đơn giản và rõ ràng hết sức: đi cho biết Bắc Kỳ. Mục đích đi để khám phá, tìm hiểu “xứ lạ” của chủ thể ở đây rất khác so với trạng thái bị động của phần đa kẻ lữ hành trong các thiên hành trình ký sự trước đó. Một lối khởi hành mang tính chất lãng tử, tài tử khác hẳn với những chuyến đăng trình rềnh rang nghi thức, tâm trạng ngổn ngang. Cần nhớ chuyến đi được khởi hành vào mùng mười tám tháng Chạp, là lúc đã “năm cùng tháng tận”, sắp cận kề một cái Tết cổ truyền. Thế mà vẫn háo hức lên đường. Sức hút của chuyến đi lấn át hết những vướng bận thường nhật khác. Cái tâm thế phiêu lưu này được bộc lộ rất rõ vào thời điểm tác giả đã hoàn tất chuyến đi theo dự kiến, xuống Hải Phòng để đáp tàu vào Gia Định. Rủi là bị trễ chuyến: “Lỡ dịp đi, buồn bực quá. Nhưng mà cũng chẳng qua là bởi đâu xây khiến cho được biết đất Bắc rõ hơn. (…) Vì vậy qua mồng 3 tháng 2, mới tính ở mà đợi lóng nhóng đó cũng mất công vô ích; chi bằng hồi ngữ về ngã Hương Cảng đi, để chờ dịp tàu sau về ngay Nam Kỳ. Mà bởi không biết chắc ngày nào tàu ra, mới tính đi rông ít ngày qua Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Hưng Yên cho biết xứ ”. Rõ ràng qua đây, cái gọi là “cảm hứng lữ hành” ở họ Trương rất nổi bật; nó được đưa vào trong tác phẩm một cách nguyên vẹn. Cần đặc biệt lưu ý tới cái tâm thế, cảm hứng lữ hành hiện đại này bởi nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cái gọi là “nhãn quan nghệ thuật” trong tác phẩm. Cái cách nhìn, lối cảm nhận về thế giới thực tại của lữ khách phụ thuộc rất nhiều vào tâm trạng, tâm lý cũng như cái đích nhắm đến của chuyến đi. Bởi vì cảm quan ngoại giới của một du khách sẽ rất khác với cách cảm nhận của một kẻ bộ hành với mục đích mưu sinh, hay một hành nhân tị nạn, hoặc của một kẻ bị lưu đày… Nói khác đi, tâm thế này sẽ ảnh hưởng đến việc lữ khách nhìn thấy cái gì (?), cảm thấy điều gì (?), thu nhận được ý nghĩa gì từ chuyến đi. Đối với Trương Vĩnh Ký, mục đích chuyến du hành này là để thỏa ý thích được đi; và chính đó là tâm thế của “kẻ lữ hành hiện đại”. Thích được trải nghiệm thông qua cảm giác xê dịch là một trong những đặc điểm tâm lý của chủ nghĩa cá nhân (individualism). Bởi đối với con người cá nhân cá thể hiện đại, đi là để nhận biết và để khẳng định. Câu nói trứ danh của Paul Morand: “Ta muốn sau khi ta chết đi, có người thuộc da ta làm chiếc va li” không chỉ là tuyên ngôn của tín đồ thuộc “giáo phái xê dịch”, mà còn là một nét tâm thức thời đại. Với tâm thế chủ động của kẻ lên đường vì chính “sự đi”, Trương Vĩnh Ký đã thu nhận được nhiều điều lý thú và đưa vào trong thiên du ký. Trong đó, ông đặc biệt chú ý tiếp cận và ký chép kỹ càng về những cuộc tiếp xúc với các nhân vật ở địa phương, các phong tục tập quán và các danh lam thắng tích… đã được tận mắt chứng kiến. Dường như đây cũng chính là những dạng du lịch phổ biến nhất của lữ hành đương đại; được khái quát thành các thuật ngữ có tính chất chuyên ngành như tham quan học tập (study tour), du lịch văn hóa (cultural travel), du lịch sinh thái (ecology travel). Cách tiếp cận đối tượng, cách hành xử trong từng tình huống cụ thể của họ Trương gợi ý cho ta nhiều điều thú vị. *** Trương Vĩnh Ký kể lại trong Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) một cách ngắn gọn song khá đầy đủ về những cuộc tiếp xúc với rất nhiều nhân vật ở Bắc Kỳ. Mật độ các cuộc thù tiếp dày đặc. Đối tượng rất phong phú, thuộc nhiều “tip” người khác nhau, sang hèn đủ kiểu dạng. Trong số này, có 3 nhóm người được ông thuật lại khá tỉ mỉ: giới chức người Pháp, quan lại Nam triều, chức sắc nhà thờ. Điều oái oăm là, chính những cuộc tiếp xúc này đã dẫn đến những rắc rối cho ông; dư luận phán xét về hành vi này của ông khá nặng nề; nhiều nghi vấn về mục đích thực sự của chuyến đi Bắc Kỳ được đặt ra. Những đồn đoán về hành tích họ Trương kéo dài dai dẳng lâu nay một phần cũng từ đây mà ra. Nhiều ý kiến cho rằng chuyến ra Bắc của ông, du lịch chỉ là cái cớ, cái vỏ che đậy một sứ mạng chính trị quan trọng. Sứ mạng đó là gì thì chưa ai chứng minh được; thế nhưng người ta cho rằng với những cuộc tiếp kiến bất kể ngày đêm diễn ra liên tục trong suốt thời gian ông ở Bắc Kỳ, và nhất là với hầu hết những nhân vật quan yếu của chính quyền lẫn nhà thờ thì hẳn nhiên nó phải bất thường. Tất nhiên, bàn luận thị phi là quyền của dư luận. Song có một thực tế là cho đến bây giờ, cái điều bí mật được che đậy từ chuyến ra Bắc của Trương Vĩnh Ký là gì vẫn là một câu hỏi. Phải chăng dư luận đã quá khắt khe với ông? Và con người này có đáng bị trùm cho một cái nghi án mơ hồ như thế không? Thực ra, cái sự khác thường ở đây nếu có chăng, chỉ là chỗ các nhân vật mà họ Trương tiếp xúc đều thuộc diện “kẻ sang”; và quả thực, có gì đó như là một sự hâm mộ, trọng thị (đôi khi hơi quá đáng) mà người xứ Bắc dành cho ông. Nhưng nếu ngẫm kỹ, cũng chả có gì đáng gọi là bất thường ở đây. Trương Vĩnh Ký vốn là người tiếng tăm lừng lẫy, quảng giao, lại từng trải ở những vị thế đặc biệt (giám đốc trường thông ngôn, chủ bút Gia Định báo…); uy danh của ông đâu chỉ vang dội trong xứ Annam(!). Vậy thì việc họ Trương – một danh sĩ đến từ Xứ Nam Kỳ vào dịp tống cựu nghênh tân này rất đáng được coi là sự kiện lớn; rộn ràng thù tạc cũng chả có gì khác thường cả. Vả chăng, nhìn vào lịch trình thăm viếng của ông kể cũng khó chỉ ra chỗ ám muội. Ngoại trừ hai cuộc viếng thăm lãnh sự Pháp ở Hải Phòng, Hà Nội (tác giả dùng chữ “thăm”, không rõ có liên quan gì đến bổn phận của một công dân khác xứ không), còn lại đều là những cuộc tiếp kiến đầy ngẫu hứng, không hẹn trước. Và Trương Vĩnh Ký tỏ ra rất hứng thú với những cuộc hàn huyên, đàm đạo này. Ngay cuộc tiếp kiến các đức thầy, cha cố, chức dịch nhà thờ… cũng là những cuộc gặp ngẫu nhiên của một du khách ưa giao du, muốn học hỏi. *** Phần chủ yếu trong cuốn sách, Trương Vĩnh Ký dành để ghi chép về những điều trải nghiệm được từ thực tế. Danh sách những thắng tích, cảnh quan Bắc Hà ở đây thật phong phú: Chùa Nguyễn Đăng Giai, Hồ Hoàn Gươm, Đền Kính Thiên, Cột cờ, Đền Công, Ông Thánh Đồng Đen, Chùa Một Cột, Hồ Tây, Văn Thánh Miếu… Có điều lý thú là với thói quen cố hữu của một nhà khoa học, ông tiếp cận cảnh vật theo cách riêng của mình; quan sát và ghi chép như một nhà khảo cứu đang tiếp cận tư liệu hơn là một du khách. Những con số, lời bình, chú giải về địa danh, địa bạ, lịch sử… của họ Trương rõ là thao tác của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Đây là một đọan ghi chép về Thổ sản đất Hà Nội: “Lúa: lúa dê (duy), lúa thông, lúa dự, lúa lem bông, lúa trĩ, lúa hương, lúa thầy đường, lúa bạch canh. Nếp: nếp bông vàng, nếp răng ngựa, nếp ruồng, nếp cau, nếp trái vải, nếp đuôi chồn, nếp ngọc thục… Tơ, bông cán, hàng đoạn bông (phường Thọ Xương, kiên liên dệt), trừu bông (Từ Liêm), hàng lượt, lãnh bóng, lượt bùng, the rây, lụa bông, lụa trắng, thao, vải trắng, the làn, xuyến, láng gốc… Cây hội (giấy viết sắc), các thứ giấy, quạt trúc, nón nan; ngói gạch, nồi đất (đồ gốm); trà, muối diêm, mật ui, đường hạ; vôi đá, bánh phục linh, trôi nước, xôi bông đường, bánh mì khoai, rượu trắng; khoai lang mộng, khoai sáp, khoai mài, khoai tím, khoai ngọt; củ sắn, củ đậu ,củ nần, củ huỳnh tinh, xoài, mít, nhãn, hồng thơm, hồng đỏ….” Quả là không dễ để có thể kê biên một cách chi li từng giống lúa khoai, loại lụa là, thức dùng… với hàng chục tên gọi khác nhau như thế nếu không có con mắt và cái trí của nhà bác học, ham hiểu biết, rất lịch lãm. Trong cái cách kể lể, liệt kê này, ta dễ nhận thấy trạng thái háo hức, mê đắm, tập trung của Trương Vĩnh Ký. Một cái nhìn hờ hững, một sự phân tâm của chủ thể không bao giờ tạo tác được những trang tư liệu về phong thổ như vậy. Một đoạn ghi chép về phong tục xứ Bắc chứng tỏ cái nhìn hết sức tỉ mỉ, từng trải của tác giả: “Trong tứ dân đều có chuyên nghề cả, mà nông thì hội hơn. Chốn Thiềng Thị thì công thương tụ, có lộn Ngỏ Khách. Đàn ông còn trai hay ngồi quán ngồi lều trà rượu ăn chơi, còn việc cày cấy thì nhờ đàn bà con gái làm. Đàn ông ăn mặc cũng thường, diêu áo vấn tới đầu gối, đầu hay đội nón ngựa, bịt khăn đen. Đàn bà mặc áo có thắt lưng làm bìu (bọc), yếm đỏ, không gài nút nịt, nút vai thả không ra mà thôi, đầu đội nón giàu (ba tầm), lớn gần bàng cái nia, hai bên có hai quai tụi vấn toòng teng, đầu vấn ngang, lấy lượt nhiễu vấn tóc mà khoanh vấn theo đầu. (có một làng Kẻ Lòi có đàn bà bới tóc); Dưới mặc váy, chân đi dép sơn; nước da mịn màng trắng trẻo, má hồng, da ửng, gót son, phốp pháp người; răng nhuộm đen cánh gián. Thói trật áo thắt lưng là nhơn bởi trời đông thiên rét lạnh; đàn bà có con, cho bú một lần phải mở nhiều áo khó lòng, nên để luôn như vầy. Còn thắt lưng thì cũng là vì lạnh; con gái thấy vậy cũng bắt chước làm theo, mùa nào mùa nấy cũng để luôn như vậy mà thành tục.” Điều thú vị trong phần nói về phong tục không chỉ ở những thông tin mà còn ở lời nhận xét, bình luận. Quan sát, ghi nhận và bình phẩm, giải thích về các phong tục tập quán một cách tinh tế nhưng cũng rất hóm hỉnh là một đặc điểm nổi trội trong thiên du ký này. *** Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) được xuất bản vào năm 1881, thời điểm văn xuôi quốc ngữ đang ở chặng thử nghiệm, thế mà lạ thay, nó lại mang một dáng vẻ hiện đại đến khó tin. Chả cần phải đối sánh với những truyện thơ Nôm, văn xuôi chữ Hán cùng thời, hãy cứ so với phần lớn những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ ra đời mấy chục năm sau nữa nhưng vẫn chưa thoát khỏi giọng biền ngẫu, đăng đối cổ kính… sẽ thấy văn Trương Vĩnh Ký hiện đại thế nào. Dưới đây là đọan kể chuyến du ngọan Động Từ Thức ở Thanh Hóa, đọan văn có lẽ là hay nhất trong toàn bộ tác phẩm: “Hang Từ Thức ở tại xã Trị Nội, tổng Kiều Vịnh, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung. Đi đến đó phải đi qua cái đèo, rồi đi vòng lại bên tả mới tới miệng hang. Chỗ ấy kêu là Từ Thức động hay là Bích Đào động. Ở ngoài có cái miễu nhỏ nhỏ, nơi cửa động có chữ đề khắc vô đá. Vào trong phải có đuốc, vô trong nó rung rinh, có chỗ có đường như cột đá; dưới chân, chỗ thì có đá viên tròn vo bằng viên đạn cũng nhiều, nhỏ hơn nữa cũng nhiều, có chỗ thì đầy những đá đen cục hòn mà thành hình như trái mảng cầu khô; còn có chỗ lại có đá ra hình bàn ghế, mòn trơn có vân có hoa như chạm trổ vậy. Trên đầu ngó lên thấy thạch nhũ như là màn treo có thể bỏ xuống, trong đá coi nhấp nháng sáng ngời như kim sa. Hết bùng binh nầy tới bùng binh khác. Sau hết xuống tới cổ kiềng là cái miệng xuống hang dưới nữa, nó như miệng giếng, phải nghiêng mình lận theo thì xuống mới đặng; dưới đáy hết thì có cái như cái ao bèo cám lênh láng. Đi hồi giờ thứ 6 đến giờ thứ 8 rưỡi mới tới nơi.” Đoạn văn trần thuật rất sinh động; lời dẫn rất tự nhiên, nhưng không dễ dãi mà chừng mực; đủ để bao quát hết được các hành vi. Khả năng làm chủ ngôn từ của họ Trương rất đáng nể. Các từ dùng mô tả rất chính xác, gợi liên tưởng. Đây đúng là lối văn “như lời nói thường”, bằng thứ tiếng “Annam ròng” mà họ Trương từng ao ước; một lối văn thoát ra khỏi cái trường ước lệ của thi ca, cái khuôn sáo của văn chức năng, nhật dụng. Có rất nhiều đọan, người đọc bị cuốn hút không chỉ vì được đồng hành, dõi theo quá trình thưởng lãm các cảnh trí, mà còn lây cái hóm hỉnh, vui nhộn trong cách diễn đạt của tác giả. Đây là đọan ở Ninh Bình : “Đến đó xuống cáng để đi chân mà coi chơi cho biết, cho cáng đi không. Qua khỏi Tam Điệp rồi tới quán Cháo, ra tới quán Gành vừa tối, nên ở lại quán ngủ đó một đêm. Giờ thứ tư sáng ở quán Gành cất ra đi, khỏi quán Sanh, Ba Vuông rồi mới tới tỉnh Ninh Bình. Dọc đường đi ngó thấy tại đất bàng có nhiều cái hòn núi nhỏ riêng nhau ra từng cái, dường như núi cảnh, như non bộ đất vậy. Đi riết giờ thứ 8 rưỡi tới tỉnh vào trọ nhà bà Phó Vàng là người có đạo ở gần tỉnh. Nghỉ ngơi, cơm nước đó một lát, kế lấy trong tỉnh quan tuần phủ tên là Đặng Xuân Toán cho ông lãnh binh ra mời vô thành chơi, (giờ thứ 41). Xách dù đi có đem ông Kỳ đi theo vào thành, thiên hạ nghe tiếng người Gia định rùng rùng kéo nhau đi coi, lớp kia lớp nọ đông nức. Vào thành rồi, nó còn làm hỗn leo trèo mà coi, thì quan lãnh binh phải đóng cửa thành
    • TamHmong says:

      Đề nghị HM giúp xóa bớt. Cám ơn nhiều.

    • cangacxua says:

      Vào còm mà post cả bài lê thê ai đọc, lãng nhách. Muốn khoe thì đưa cái link ai đọc thì đọc.

      • Trần says:

        Ít nhất có 12 người đọc. Hẳn có người từng đọc đọc lại vẫn thích. Thiển nghĩ, bác cangacxua chả nên ý tứ “muốn khoe” cho vui vẻ HC.

  4. Hiệu Minh says:

    Độc giả phản hồi xin cứ bình tĩnh, đâu có đó. Bàn luận để hiểu nhau hơn là thắng trận này để rồi không còn nhìn mặt nhau 😛

  5. Trần says:

    Xem ra có phần gợi ý Đèn Cù Trần Đĩnh là nhà thơ Lê Đạt.Còn Bên thắng cuộc Huy Đức có ý của nhà báo (Nguyễn)Tuấn Khanh. Nhớ là ông Khanh này cùng nhà thơ Đỗ Trung Quân, Huy Đức…bị rời khỏi Tuổi Trẻ. Xin hỏi Osin: ông Khanh nhà báo và nhạc sĩ Tuấn Khanh là hai hay một? Trong số các ca nhạc sĩ thấy có 2 người viết văn khá hay: nhạc sĩ Tuấn Khanh và cô ca sĩ Ánh Tuyết.
    À này, đừng vì cái bà cụ dáng vẻ Hà Nội gốc cỡ vài đời mà suy diễn “Hà Nội cổ mai một đến đáng thương” nhé. Chụp mũ “độc tài từ cái lòng đường” thì đường được…

    Nhân thể, Osin chọn xôi 29 Hàng Hành, chứng tỏ ăn chơi sành điệu phết. Xôi dẻo Thịt thơm mà. Hôm qua ăn xôi có phụ kèm bát nước dùng hành hoa chan cho bún thang không? (Thóc mách, bà chủ cửa hàng, năm nay ngoài thất thập nguyên là ‘phu nhân’ ông Chính “trảy” ở ngõ Nội Miếu. Ông này cùng người em là Hải “sa má” di tản theo đường biển nghe nói mất tích, bà con khối phố không có tin gì). Còn cái ảnh lão Cua chụp hình Rainbow Restaurant ở khúc quanh Hàng Hành thì chứng tỏ có lẽ hai “bố” ngồi ở café 39A hay 39B?!

    Vài dòng tán vậy. Chúc HM và Osin vui lên trong phùn xuân đất Hà thành.

    • Trần says:

      Sorry lão Cua. Dẫu nhớ người mình dễ “nghe lõm bõm đọc qua loa nói lộn xộn viết cẩu thả” mà vẫn can tội chém phím mà quên nháy nháy mắt mấy cái ông ‘suy diễn’ và ‘chụp mũ’.
      Thực tình, bài viết này của lão không cần và không có gì nổi trội nhưng rất có ý nghĩa ở chỗ là làm cho nhân quần nhớ dai cuốn sách của Huy Đức bất kể nó là thể loại gì.

      Nhớ lần dự cuộc gặp mặt của Quỹ Clinton phòng chống HIV/AIDS ở Hà Nội cách nay 5-6 năm. Sau khi cô gái người Hải Phòng bị HIV lể lại câu chuyện cô ấy vươn lên bệnh tật, cựu Tổng thống Clinton có lời nói cuối, rằng “Các bạn có thể quên những lời tôi nói, nhưng tôi tin các bạn không bao giờ có thể quên được những lời của cô gái Hải Phòng nhỏ bé này đã nói hôm nay”. Vì vậy ý nghĩ, những lời khen, chê, thậm chí dè bỉu báng bổ phá thối cuốn sách và kể cả tên tác giả cuốn sách có thể bị lãng quên nhưng Bên Thắng Cuộc chắc chắn là một cuốn sách có nhiều thông tin lịch sử đáng tin cậy và đáng lưu truyền cho hậu thế.

  6. Mot y kien khac says:

    Đề nghị ai không giữ được bình tình thì đừng recom thiếu văn hóa. Tranh luận, phản biện để có hiểu biết tốt hơn về một vấn đề, chứ không phải tuyên truyền quan điểm của mình. Kể cả ai đó có ý kiến trái với ý kiến của mình, nhưng có lập luận và evidence tốt, thì cũng nên hoan nghênh, hay ít ra cũng đừng vô văn hóa chửi bới.

    Đề nghị Hồ Thơm nên chỉnh lại câu chữ để tránh bị người khác mắng vào mặt là thiếu văn hóa và bêu xấu thêm rân chủ.

    Về sách Bên Thắng Cuộc, thì đây là một quyển sách vô giá trị về mặt học thuật, không có giá trị tham khảo và trích dẫn (không phải là reference book).

    Chứng minh:

    – Dùng scholar google (https://scholar.google.com/) search các từ khóa “Bên thắng cuộc” “Ben thang cuoc”, “Huy Đức” “Huy Duc” “Trương Huy San” hoặc Huy Duc winning Side; thấy không có kết quả nào. Như vậy, sách Bên Thắng cuộc không được coi là quyển sách tham khảo nghiêm túc và không xuất hiện ở scholar google.

    Search tiếp xem có tác giả nào trích dẫn Bên thắng cuộc không, thấy hầu như không có bài viết nào trích dẫn đến nội dung sách Bên thắng cuộc, ngoại trừ 2 bài tiếng Việt của hai tác giả Việt Nam (rân chủ) có nhắc đến tên sách.

    Việc không xuất hiện trên scholar google cho thấy sách Bên Thắng Cuộc không là nguồn tham khảo, không được trích dẫn (cited), và do vậy là vô nghĩa trong khoa học. Tác giả Huy Đức cũng là một cây bút không xuất hiện tại google scholar.

    Do vậy, không nên gọi gọi Bên Thắng cuộc là sách sử. Quyển sách này thậm chí còn chưa được gọi là sách tham khảo, tiểu thuyết không ra tiểu thuyết, báo không ra báo, sách nghiên cứu không ra nghiên cứu; làm sao được xếp vào hàng sách sử học được. Search ví dụ Vo Nguyen Giap, Phan Huy Lê hoặc Trần Trọng Kim ra nhất nhiều sách với rất nhiều trích dẫn

    Search một số tên tuổi rân chủ thì thấy có Bùi Tín hoặc Lữ Phương có những bài viết hoặc quyển sách được trích dẫn.

    – Cách đặt tên “Bên thắng cuộc” khiến cho quyển sách mang nặng tính thương mại, không trung tính, điều trái với các công trình nghiêm túc.

    Ví dụ dùng scholar google cụm “Vietnam War” thấy các sách được trích dẫn nhiều nhất đều có các tên trung tính như: “America’s Longest War: The United States And Vietnam, 1950-1975 ” với 1763 trích dẫn, hoặc Anatomy of a war: Vietnam, the United States, and the modern historical experience với 314 trích dẫn.

    Không có quyển sách khả tín nào lại có cái tên nặng về thương mại, áp đặt như kiểu “Bên thắng cuộc”.

    Bên cạnh đó, đáng buồn là hầu như không có tên tác giả Việt Nam, kể cả Việt kiều, trong danh sách sách nghiên cứu về Vietnam War.

    – Nhìn vào cách trích dẫn tài liệu a ma tơ, chẳng theo chuẩn Harvard, cũng chẳng theo chuẩn Việt Nam; dẫn đến không thể truy nguồn các dữ kiện…. trong sách Bên thắng cuộc cho thấy tác giả không có kinh nghiệm viết sách; đồng thời cho thấy sách không hề được biên tập bởi một học giả hoặc NXB có uy tín. 100% quyển này chưa được giáo sư Mỹ xem qua và góp ý như tuyên bố của tác giả.

    Với cách trình bày tài liệu tham khảo và cách trích dẫn tài liệu như của Bên Thắng cuộc; toàn bộ các dữ liệu trong sách trở nên không khả tin và không thể là nguồn trích dẫn cho các công trình về sau.

    Đồng thời trong danh mục sách tham khảo của tác giả cũng thiếu hầu hết các quyển sách quan trọng về Vietnam War như đã chỉ ra tại scholar google.

    Tóm lại, sách Bên thắng cuộc mặc dù dầy, dễ đọc (nhưng nói thực tôi không đủ kiên nhẫn để đọc một nửa), dễ gây xúc động cho người hải ngoại, nhưng không là quyển sách đáng tin cậy, được trích dẫn, và do vậy không có giá trị ảnh hưởng lâu dài. Nói chung là tiếc cho tác giả, đáng ra với lượng dữ liệu và kinh nghiệm của mình, tác giả đã có thể viết được một cuốn sách nghiêm túc, ít tính tuyên truyền, ít tính thương mại và do vậy, sẽ có ảnh hưởng lâu dài hơn.

    P/S. Dẫu tôi dùng nhiều từ khá mạnh, nhưng cách đánh giá của tôi về sách Bên thắng cuộc cũng chưa chắc đã đúng – do tôi chưa đọc hết quyển này và google cũng sơ sài. Nếu có gì chưa chuẩn thì xin lỗi tác giả quyển sách.

    • Đôvật says:

      Buồn tười!:
      “Dẫu tôi dùng nhiều từ khá mạnh, nhưng cách đánh giá của tôi về sách Bên thắng cuộc cũng chưa chắc đã đúng – do tôi chưa đọc hết quyển này và google cũng sơ sài. Nếu có gì chưa chuẩn thì xin lỗi tác giả quyển sách.”
      🙂

    • HỒ THƠM1 says:

      Đọc 3 câu cuối của chú Một, thấy hay và chính xác nên tui không đọc phần trên, hi hi…!!!

      “P/S. Dẫu tôi dùng nhiều từ khá mạnh, nhưng cách đánh giá của tôi về sách Bên thắng cuộc cũng chưa chắc đã đúng – do tôi chưa đọc hết quyển này và google cũng sơ sài. Nếu có gì chưa chuẩn thì xin lỗi tác giả quyển sách.” ( Chú Một )

      Bình tĩnh chứ làm gì mà nghiến răng nghiến lợi dìm hàng người ta quá thế chú Một? 🙂

      Chú quyết không khai thằng trong đống rơm :”chưa đọc hết quyển này và google cũng sơ sài” nghĩa là chú không biết sách nói gì và “Gúc” cũng bộp chà bộp chộp, nhưng ta có câu “Không biết là không có tội”, vậy nên chú cũng không có lỗi gì nên có lẽ khỏi cần xin lỗi tác giả.

      Bao giờ chú đọc thuộc 2 quyển sử thi Bên Thắng Cuộc thì “còm” lại nhé!

      Hang ta lại có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn rồi mới chui Hang” chú Một xem kỹ nhé.
      À, cả ngày trời mà chú chỉ viết được có bấy nhiêu thôi à? Thế thì woánh rân trủ mần răng được? 😛 😛

      • Trần says:

        Xin nói thêm, chỉ cần ông Mot y kien khac đọc kỹ Lời cảm ơn của tác giả cuốn sách và thử xem cho đến giờ này có ai trong số biết bao những nhân vật lịch sử, những nhân chứng, những tướng lĩnh, cách mạng lão thành… đã trả lời phỏng vấn và cung cấp vô vàn tư liệu cho cuốn sách và cho tác giả đã có ý kiến phản bác rằng cuốn sách “không khả tin” và có “tính thương mại” như ông Một đã còm.

      • Hồ Tại Thiên says:

        “Đọc 3 câu cuối của chú Một, thấy hay và chính xác nên tui không đọc phần trên, hi hi…!!!

        “P/S. Dẫu tôi dùng nhiều từ khá mạnh, nhưng cách đánh giá của tôi về sách Bên thắng cuộc cũng chưa chắc đã đúng – do tôi chưa đọc hết quyển này và google cũng sơ sài. Nếu có gì chưa chuẩn thì xin lỗi tác giả quyển sách.” (Chú Một)”
        (Trích còm)

        Lão Hồ Thơm 100% biết câu sau đây rồi nhưng vẫn muốn viết tặng lão:

        “Lời quê chấp nhặt dông dài
        Mua vui cũng được một vài trống canh”.

    • TamHmong says:

      Chào bác Một ý kiên khác!
      Tôi hơi ngạc nhiên khi lần đầu tiên khi thấy quyển “Bên thắng cuộc” đươc xem xét với tư cách một công trình khoa học lịch sử.
      Càng ngạc nhiên hơn khi Huy Đức được bình xét trên tư cách nhà khoa học. Theo thiển ý của tôi Huy Đức chỉ thuần túy là một nhà báo. Thậm chí hoàn toàn chưa phải là một nhà văn! Tác phẩm “Bên thắng cuộc” có lẽ chỉ nên coi là một phóng sự còn nhiều phần chưa chặt chẽ về cách trình bầy như chính tác giả đã thừa nhận.
      Tôi xin phép trích ra ở đây định nghĩa (chưa hoàn chỉnh) về thể loại PHÓNG SỰ
      “Phóng sự, một thể loại của ký, là trung gian giữa văn học và báo chí. Phóng sự khác với thông tấn ở chỗ nó không chỉ đưa tin mà còn có nhiệm vụ dựng lại hiện trường cho mọi người quan sát, phán xét. Do đó, phóng sự nghiêng hẳn về phía tự sự, miêu tả, tái hiện sự thật, nhưng nội dung tự sự thường không dựa vào một cốt truyện hoàn chỉnh.
      Đặc điểm
      Phóng sự đòi hỏi nhiều thời gian và công sức để điều tra, thâm nhập thực tế và phỏng vấn nhiều người. Phóng sự cung cấp cho người đọc một cái nhìn cận cảnh và toàn cảnh về một hiện tượng, thường là đặc biệt, diễn ra trong xã hội. Thông qua những ghi chép cụ thể, sinh động tình hình một vấn đề, một sự việc nào đó đang là vấn đề thời sự mang tính bức xúc, phóng sự thể hiện tính chiến đấu cao độ, dùng sự thật để bác lại những nhận thức còn sai lệch, lấy sự thật đời sống để ảnh hưởng đến nhận thức của xã hội. Do đặc thù thể loại, tính chân thực về thời gian, địa điểm, sự kiện, con người và chi tiết là những yếu tố cốt lõi của phóng sự.
      Trong phóng sự thường nổi lên hình tượng tác giả xông xáo, tự mình thăm dò, hỏi han người thực việc thực. Tác giả phóng sự báo chí thường là những người tác nghiệp cho một cơ quan thông tấn, nhưng quan điểm riêng của họ có ý nghĩa quan trọng, làm cho họ không chỉ là người đưa tin mà còn là người phân tích độc lập, đáng tin cậy.
      Phóng sự cũng như các bài báo khác luôn được định hình từ nguyên tắc “five W”: Who (Ai)?, Where (Ở đâu)?, When (Khi nào)?, What (Cái gì)? Why (Tại sao)?
      Phóng sự văn học, ngoài các tư liệu thực tế xác thực, nhà văn còn có thể sử dụng các thủ thuật hư cấu nhất định nhằm làm cho câu chuyện được kể trở nên hấp dẫn hơn. Những phóng sự văn học dạng này có thể kể đến Ngục Kom Tum của Lê Văn Hiến; Việc làng, Dao cầu thuyền tán của Ngô Tất Tố; Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng. Tại Việt Nam trước 1945, Vũ Trọng Phụng còn được mệnh danh là “vua phóng sự Bắc Kỳ”, với những phóng sự ít nhiều có cốt truyện, có chỗ đọc như tiểu thuyết.
      Giá trị của một thiên phóng sự thể hiện ở cả hai mặt: thứ nhất, nó phải nêu ra được những bằng chứng cụ thể với những tài liệu chính xác thể hiện qua các con số, biểu đồ, thống kê; thứ 2, trên cơ sở phân tích tư liệu, số liệu, nó phải đặt ra được những vấn đề thời sự mang ý nghĩa xã hội to lớn (Wiki-hêt trich).
      Theo tôi giá trị cơ bản của Phóng sự “Bên thắng cuộc” chỉ là ở chỗ thể hiện MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI khi viết phóng sự về các vấn đề có liên quan đến lịch sử. Và tất nhiên là cách tiếp cận này chỉ mới ở VN. Chúc mọi điều tốt đẹp.

      • Mot y kien khac says:

        Cho dù Bên thắng cuộc là dạng gì đi nữa, ke ca la phong su, mà nó khong được trích dẫn Bói cac bai viet va sach sau do, thì chứng to thông tin và dữ liệu ở đó không đáng tin cậy, hoặc chả có gì mới. Những thứ như thế chết yểu nhanh lắm.

        Không thể có một quyển sách non-fiction có giá trị, có tính miêu ta lịch sử, mà chẳng được ai sử dụng như là input nghiên cứu và trích dẫn.

        Còn nếu coi quyển sách đó là để đọc cho vui, giải trí, bất kể đúng sai, chỉ đuợc các blog trích dẫn như cong cụ tuyên truyền, thì thôi .

        • Bình Nguyên says:

          Cứ sống rồi sẽ biết BTC được trích hay không. Chưa chi đã vội thế? Đảng mà cho phép giới nghiên cứu và sinh viên tham khảo BTC thì lúc ấy có khi phải xét tính thương mại của nó.

    • Hồ Đồ says:

      Bác phán cứ như đúng rồi..hic, riêng về người Việt nam , Ngài phán không có một ai là thế nào? Chỉ cần có thế là biết Bác ra sao, thế nào rồi đấy.

    • nuoc non ngan dam says:

      Chuẩn rồi bạn không cần xin lỗi. Một phát hiện là cứ Hồ Thơm nhảy đổng lên khi có ai đụng đến Huy Đức. Như là bố con với nhau vậy.???!!! Không biết có là 1 không nhưng xin đổi lại tên là Hồ Đồ. CLB sĩ quan CA hưu trí chỗ tôi có hôm gọi HĐ là San Hô rồ. Hồ Đồ nghe ok không? Sorry if you feel uncomfortable 😉

  7. Mười tạ says:

    Có câu chuyện rằng:
    Hai con cá nhỏ đang bơi thì gặp con cá già bơi ngược lại, cá già cất tiếng:
    – chào hai bạn nhỏ, nước hôm nay ấm nhỉ!
    Bơi tiếp một đoạn, một con cá nhỏ thắc mắc:
    – “Nước” là gì ấy nhỉ!?!

    Từ khi cá nhỏ sinh ra, nó đã sống trong nước, chưa bao giờ ra khỏi nước. Nên nó chẳng thấy nước quan trọng gì, thậm chí không có ý niệm gì về sự tồn tại của nước.

    Mình ấn tượng với hai tác giả Osin, Huy Đức trong thời gian khoảng 7, 8 năm về trước. Khi mà FB chưa có, blog là cái gì đó còn xa lạ với người Việt, khi mà người ta còn ám ảnh việc “phạm húy” thì Osin, Huy Đức đã có những bài viết như: Ghế Dương Quang, đầu Vươn Hậu, Chị Hai của thủ tướng, Biên giới tháng 2, … mà mình nhớ một lời bình của GS.Trần Hữu Dũng viết trên trang viet-studies :Bái phục Huy Đức!.

    Bây giờ, đang trong “mùa Xuân” – người người chơi blog, FB, chém gió – nên người ta dễ mất đi cái cảm giác đang trong mùa Đông giá buốt mà bắt gặp những cánh én đầu tiên!

    Cũng như chú cá nhỏ kia, sẽ có người cho rằng những bài viết của Osin, Huy Đức “cũng thường thôi”. Và mình tin rằng Osin cũng không phiền lòng về điều đó, một khi đã treo trên blog câu này: Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao, ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất.

  8. MD says:

    Tôi hiểu nỗi buồn của cụ Sin. Càng ngày càng đơn độc trong hành trình… Có cụ Bọ thì giờ cụ đã chuyên tâm về văn học.

    Tại sao ta cứ phải muốn rạch ròi BTC là thể loại gì. Cứ xếp hẳn nó là dã sử đi xem có chết thằng tây nào không. Bọn Tàu nó có ngán đếch gì lôi các nhân vật lịch sử ra để mà sáng tác, bôi bác đâu. Xem phim của nó thì thấy đấy.

  9. Lê Nguyên says:

    Xem lại lý lịch thì khi Osin học ở SQ Hóa học tui cũng đang đi tu ở SQ Biên phòng , khéo đụng nhau ở ngã ba viện 105 hay trên xe khách Sơn tây – Kim mã rồi chưa biết chừng .

  10. NABB Cafe says:

    Dear chú Hiệu Minh, Welcome to HN nghìn năm văn vật (trên Tathy có tay bạo miệng thay chữ văn bằng chữ “ôn”, chắc có lần cũng đỗ xe dưới lòng đường nhà bà cụ kia nên cảm thán thế chăng ^_^).

    Về chuyện “tham nhũng” lòng đường thì HN là vô địch. TS. Alan Phan đã có bài viết về chuyện “Dân tham nhũng”, mới đề cập tới những chuyện ở Sài Gòn. Nhưng HN mới là đặc sắc nhất.

    Chú về đợt này đúng lúc thời tiết Only in Hanoi, nhiều khi khó chịu nhưng lại…thấm thía và đặc trưng. Y như những vấn đề của Hanoi vậy. Chúc chú giữ sức khỏe trong thời tiết xấu và enjoy thủ đô. Ngoài xôi Hàng Hành, quanh đó, chú nên thử thêm “bún đồng cô” đầu kia Hàng Hành, phở Bát Đàn/Lý Quốc Sư (hàng xịn ở Phùng Hưng), bánh gối cũng Lý Quốc Sư.

  11. thieu iot says:

    Dear LRCV!
    Bác nói vụ so sánh khập khiển thì tôi thấy ý bác
    cũng khập khiển chẳng kém.
    Vụ tham nhũng thì bác nói đúng nhưng xem ra bác chưa hiểu bản chất vấn đề . Vì sao ?
    Đất nước nào cũng có tham nhũng ,vấn đề là VN và các nước tư bản giãy chết nó giải quyết chuyện tham nhũng ra sao? Chắc chắn là 1 trời 1 vực nên không thể so sánh dối trá.
    Như lão Ngáo Đá trong HC tự sướng IQ cao , đầy bằng cấp cũng so sánh kiểu dối trá. Khi HC có lên tiếng vụ các ĐSQ và LSQ của VN ăn chặn tiền công dân VN làm Visa thì lão Tà ý lại móc ra cái vụ tay Mỹ ăn tiền làm Visa Mỹ ở LSQ Mỹ ở Sài Gòn.
    Bọn Mỹ nó tự điều tra và giải quyết dứt điểm ,mặc dù là tay Mỹ đó ăn tiền của dân VN.Trong khi phe ta thì chuyện này âm ĩ kéo dài hàng chục năm mà chưa giải quyết ,mặc dù là có đơn thưa .Bản chất vấn đề là ở chổ đó.
    Vụ Mỹ Lai cũng thế . Lính Mỹ đi hành quân vào làng bị bắn tỉa ,thế nhưng trong làng không có đàn ông .Vậy mà lại có con nít líu tíu .Thế nên nhiều thằng nổi khùng nó giết đàn bà trẻ con .Dù gì thì đó là tội ác ,và chính 1 số lính Mỹ và phóng viên chiến trường Mỹ tố cáo và đưa lên báo Mỹ.
    Trong khi vụ Mậu Thân thì số lượng người khủng hơn , và cùng dòng máu da vàng.Sự khác biệt ở chổ là 1 bên có những người chính bên đó tố cáo ,1 bên thì vẫn cố chạy tội dấu nhẹm và hể ai nhắc đến thì lu loa thế lực này nọ .1 bên tàn sát trong lúc bốc đồng không tính toán ,1 bên thì tàn sát có thời gian tính toán, 1 bên là thừa nhận còn bên kia thì vẫn cố dối trá .Đó là sự khác nhau nhưng dù sao cũng là tội ác

    • Dove says:

      Làm gì mà bức xúc thế.

      Giết người rồi trơ trẽn thừa nhận và trơ trẽn gột rửa từ thắt lưng trở xuống là tội ác đểu cáng nhất trong lịch sử nhân loại hiệu đại.

      Ko có bàn tay lông lá của Washington, thì làm quái gì có Mậu Thân. Sự liên đới là ko thể chối cải. Tòa án Russel đã xử rồi: Washington là tội đồ, Hà Nội là lương tri của nhân loại.

      • Khac kien mot y says:

        Làm người!

        • Dove says:

          Nên thêm vào chữ Neanderthan: Làm người Neanderthan.

        • Khac kien mot y says:

          Người Neanderthan là người gì?
          Họ có biết điều Nhân Nghĩa, biết trắc ẩn, biết hổ – ghét không?
          Hay họ chỉ biết khéo lời nói đẹp vẻ mặt nhưng lòng dạ không bằng con vật?

      • MD says:

        Washington là tội đồ, Hà Nội là lương tri của nhân loại.

        Cụ Đốp có tài chọc tức người khác siêu, siêu !

      • chinook says:

        Cái phiên tòa của Ông Bertran Russell này hình như học theo cách tổ chức của Tòa án Nhân dân bên ta thời Cải cách ruộng đất .

        Án được tuyên trước khi xử.

    • Vĩnh An says:

      Quả là thiếu i-ốt trầm trọng ! sao không lấy ví dụ so sánh: Mỹ rải chất độc da cam ở VN tàn hại đến 3 đời dân chúng rồi phủi tay, trong khi đã phải bồi thường cho hàng ngàn lính Mỹ bị phơi nhiễm.

      • Bình Nguyên says:

        Chuyện này đã mấy lần tòa xử rồi. Hãy tìm hiểu lý do vì sao Mỹ “phủi tay”.

        • Gphan says:

          Vì sao Mỹ phủi tay vụ chất độc da cam (cđdc).Tôi xin góp ý trong phạm vi hiểu biết cuả mình.
          Điều chắc chắn đầu tiên là khoa học đã chứng minh cđdc là 1 trong hàng ngàn chất có thể gây dị dạng bẩm sinh/chậm phát triễn.Nhưng câu hỏi mà toà án Mỹ đặt ra là nạn nhân đi kiện đó có phải do cđdc gây ra,hay do 1 chất độc nào khác. Căn cứ quan trọng nhất để Toà án Mỹ buộc tội là bằng chứng và bằng chứng.Khg có bằng chứng thì dù có cải giỏi đến mấy cũng thua.Muốn biết 1 người bị development disable có phải do cđdc khg. thì phải làm hàng trăm xét nghiệm cho mỗi nạn nhân.Phí tổn vài ngàn dollar cho mỗi trường hợp.Ngay khi đầy đủ xét nghiệm,đó cũng không phải chứng cứ 100%,vì dị dạng bẩm sinh có hàng ngàn nguyên nhân.Có lẽ vì vậy mà VN ta không cho làm,hoặc vì sợ tốn kém?
          Tôi nhớ khi còn làm việc ở sở y tế TP.HCM vào đầu thập niên 90 khi có 1 phái đoàn chuyên gia nước ngoài đến làm việc theo lời mời cuả ta,trong cuộc họp khi họ hỏi tỹ lệ dị dạng bẩm sinh/chậm phát triển riêng biệt cho từng vùng(nội thành,ven đô, nông thôn,vùng chiến tranh củ…) là bao nhiêu thì các chuyên viên cuả ta lúng túng.Sau đó cũng cho được 1 con số chung.Nhưng chuyên gia nướcngoài lại cho rằng tỷ lệ đó là bình thường,thậm chí còn thấp hơn 1 số nước.Tóm lại,muốn đi kiện Mỹ có kết quả,phải làm việc 1 cách khoa học hơn,nhất là trong thời buổi VN có nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật như,hiện nay,đừng hướng vào mục đích tuyên truyền.Có 1 chi tiếcnhỏ là khi toà án hỏi 1 nguyên đơn,cđdc màu gì,người này trả lời là màu da cam.(thật ra da cam là màu sơn cuả thùng chứa chất độc).Nếu ta chưa đủ phương tiện,thì mời các chuyên gia nước ngoài.Ngoài ra khi Mỹ rãi cđdc với lý do khai quang,diệt cây cỏ,lúc đó họ cũng chưa rỏ về tác hại gây dị dạng,chậm phát triển,bằng cớ là họ đễ nó nằm lăn lóc thời gian dài trong các căn cứ quân sự ,khiến nhiều quân nhâ Mỹ cũng nhiễm phải.Một số cácquân nhân này sau này khi về lại Mỹ đã đâm đơn kiện,mặc dầu con cháu họ chưa có ai bi di chứng gì,nhưng họ cũng được chính phủ Mỹ bồi thường,vì họ là cựu quân nhân Mỹ!

        • lee says:

          file:///C:/Users/joseph/Documents/Tr%C3%AD%20Nh%C3%A2n%20Media%20%20TH%E1%BB%B0C%20RA%20CH%E1%BA%A4T%20%C4%90%E1%BB%98C%20M%C3%80U%20DA%20CAM%20C%C3%93%20M%C3%80U%20G%C3%8C%20%20%20%20%20V%C3%80%20V%C3%8C%20SAO%20VI%E1%BB%86T%20NAM%20C%E1%BB%98NG%20S%E1%BA%A2N%20L%E1%BA%A0I%20THUA%20KI%E1%BB%86N%20CH%E1%BA%A4T%20%C4%90%E1%BB%98C%20M%C3%80U%20DA%20CAM%20N%C3%80Y%20TR%C6%AF%E1%BB%9AC%20T%C3%92A%20%C3%81N%20QU%E1%BB%90C%20T%E1%BA%BE.html

      • Vĩnh An says:

        Tôi nghĩ là không cần mất công thế, vì biết các ô bà nạn nhân và đại diện đi kiện không đủ tiền thuê luật sư giỏi và thừa biết luật pháp Mỹ hay đến mức các LS bẩn thỉu luôn biết cách để bẻ cong theo hứơng có lợi cho thân chủ … dù sao vụ này cũng cho thấy khuôn mặt lem nhem không đáng tin của nước Mỹ.
        Nước Mỹ luôn tốt cho đến khi có người đụng vào túi tiền của nó

        • chinook says:

          Bác Vĩnh An nên tím hiểu thêm về hệ thống tư pháp của Mỹ và cách luật su tính tiền thân chủ.

          Bên Hoa kỳ, khách hàng(thân chủ) có thể thuê luật sư trên căn bản Contingency fee. Điều này có nghĩa nạn nhân không phải trả một chi phí nào. Tiền luật sư huởng là một phần (thuờng là 1/3) số tiền bên có lỗi phải trả cho nạn nhân.

          Rất nhiều luật sư giỏi, nhiều hãng luật danh tiếng sãn sàng làm việc theo công thức này. Họ nhiều kinh nghiệm, sẵn sàng ứng tiền mướn các chuyên gia giỏi làm chứng(expert witness) .

          Điều kiện của họ chỉ là thấy vụ kiện có cơ hội thắng.

  12. nguyenhanh says:

    Nỗi buồn man mác trong hành văn của tác giả và phảng phất thêm nỗi ưu tư của người khách đường xa … buồn hơn cho dân tình thế thái

  13. MD says:

    Có một số người suy bụng ta ra bụng người để công kích những người đi lệch lề được chính quyền quy định.
    Mời những người mở mồm ra là nói người khác ăn tiền của thế lực nào đó để viết bài hãy nhìn lại chính mình. Nếu các vị mà không được lợi thì các vị có ra sức nhắm mắt mà bảo vệ chính quyền như vậy không?
    Các vị kẻ thì ăn lương, đã được hưởng lộc hoặc gia đình có những người được hưởng quyền lợi nhiều ít nên ra sức đánh vào những ai dám phạm vào quyền lợi của các vị, dù chỉ là nguy cơ.
    Chân mình dứt c…t thì đừng soi chân người.
    Nhưng cũng đã đến lúc phải coi chuyện người ta có nhận được trợ giúp của ai đó để làm việc là chuyện thường. Ta đánh Mỹ có phải bằng nguồn lực của ta đâu. Không có sự viện trợ của Tàu, của Nga xô thì ta có đánh không?
    Hỏi chơi vậy thôi. ôi, ôi…

    • Dân gian says:

      Để lý giải cho hiện tượng kể trên cụ Hà Sĩ Phu có bài phân tích rằng thang giá trị xã hội bị lộn ngược, nôm na là giá trị xã hội ta bị “trồng cây chuối”

      https://anhbasam.wordpress.com/2015/03/09/3533-ha-sy-phu-chi-vi-cai-thang-gia-tri-cua-xa-hoi-bi-lon-nguoc/

      Đọc bài này thì thấy “Các vị kẻ thì ăn lương, đã được hưởng lộc hoặc gia đình có những người được hưởng quyền lợi nhiều ít nên ra sức đánh vào những ai dám phạm vào quyền lợi của các vị, dù chỉ là nguy cơ.” cũng hành động theo qui luật cạnh tranh thôi, chỉ có điều đó là cạnh tranh theo tinh thần “còn đảng còn mình”.

      Giá mà các vị ấy cạnh tranh theo hướng sáng tạo ra cái mới, sống và vươn lên bằng năng lực cá nhân thì hay biết bao!

  14. hayen says:

    bác nào biết chỉ giùm với: em không xem được ảnh ông Cua chụp là máy thiếu cái gì? ( các trang khác vẫn xem ảnh , video bình thường ạ ) .

  15. Quang Nam says:

    Vui, nghe cả Bọ Lập, Huy Đức và Tổng Cua, nhưng chưa xem mặt HM trong bài hơi tiếc.

  16. TamHmong says:

    Chào các bác HC và TC. Tôi thích Huy Đức chính là ở chất Nghệ khá thuần chủng của y.
    Chất Nghệ mà theo tôi hiểu có mấy đặc điểm sau đây
    *Dám thẳng lưng khi bước vào cửa quan và nói lý của mình
    *Dám nhẫn nhục để rồi ngửng đầu khi bước ra thế giới
    *Dám đi đến cùng kỳ lý để rồi thay đổi nhận thức đôi khi là 180 độ
    *Một chút cực đoan pha với một chút ngất ngưởng diễu cợt mình và người cộng với chút khoác loác (nói trạng).
    Nguyễn Công Trứ là một trong tính cách Nghệ tiêu biểu nhất. Thời nay có Bọ Lập Quảng Bình.
    Riêng về Huy Đức. Theo tôi y chỉ là Trương Huy San chứ không phải Huy Đức nếu không Nam tiến (Sài Gòn tiến).
    Trong cuộc Nam tiến Huy Đức đã thay đổi rất nhiều về nhận thức và thêm được một chút “hào khí Đồng Nai” dám đứng và biết đứng “giữa hai làn đạn”. Minh chứng cho việc người Kinh cần phải tiếp tục Nam tiến về văn hóa.
    Về bộ mặt “nhàu nhĩ nhưng trời bắt cười” của y xin chị em HC thông cảm và càng yêu y hơn. Chẳng qua y đã đến tuổi “tri thiên mệnh” và chắc là do hay nghĩ đến tương lai đất nước VN “đường xa nghĩ nối sau này mà kinh” thôi.
    Có những người Bắc tiến rất vững vàng mà tôi cảm phục và quý trọng như Ngà Voi. Nhưng cũng có những người trong HC Bắc tiến thất bại nhưng đó là câu chuyện khác. Cám ơn HM, Huy Đức và các bác HC.

  17. Ping says:

    Bác Cua thông cảm, cuộc gặp tẻ có lẽ do Osin đang mải nghĩ xem việc tịch thu phương tiện đối với người sau rượu điều khiển xe cộ có trái Hiến pháp hay không thôi.

    Phải nói nhiều người Việt cực kỳ vớ vẩn, rượu bia thì muốn uống căng bụng mặc kệ tính mạng của người đi đường còn mình thì không muốn bị tịch thu xe với lý do xe là tài sản lớn nếu thu biết lấy giì làm ăn hay bị thu xe sẽ ảnh hưởng hạnh phúc gia đình v.v. Ơ kìa, nếu biết thế thì đừng uống nữa!

    Tôi ủng hộ tịch thu xe. Anh nào điều khiển xe của người khác thì cứ giam xe lại chờ nộp đủ số tiền phạt tương đương xe thì mới trả xe. Ai không muốn rắc rối thì đừng giao xe cho bợm rượu.

    • Mongun says:

      Không phải mức phạt vi phạm luật giao thông của VN chưa nghiêm mà tỷ lệ tai nan giao thông cao, mà do việc thực thi luật pháp ở VN rất tùy tiện, Nếu vẫn bộ luật này mà do những cảnh sát của những nước tiên tiến thực thi thì tình hình sẽ khác, người dân rất khó hối lộ khi phạm luật. Đã có trường hợp người dân tự tử vì quá nghèo không đủ tiền nộp phạt. Khi nâng mức phạt lên quá cao không phù hợp với thu nhập của người dân sẽ là cơ hội lớn cho những người thực thi luật pháp để kiếm ăn.

      • Ping says:

        Bác nói đúng, cần phải kiểm soát chặt lực lượng thực thi pháp luật. Cách tốt nhất là điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của cảnh sát giao thông để không vừa đá bóng vừa thổi còi nữa.

        Chuyển chức năng tuần tra xử phạt cho thanh tra giao thông, còn cảnh sát giao thông chuyên vào điều tra hành vi sai phạm (nếu có) của thanh tra giao thông và xử lý tai nạn có tình hình sự (chết người).

        Tuy nhiên, vẫn phải tịch thu xe cộ nếu người điều khiển phương tiện uống rượu say. Các bác có chứng kiến 3 người dân vô tội ở Cao Bằng bị 1 vị bí thư huyện ủy điều khiển ô tô tông phải chết cả 3 không? họ đi đúng đường còn đồng chí bí thư nhà ta thì vừa đi dự tiệc về mà ở tiệc thì có báo tường thuật rằng đồng chí ấy nói chỉ uống nước lavie thay rượu (chắc chỉ trẻ con đồng ý với lập luận này!). Có chứng kiến cảnh nhiều người vô tội bị chết oan bởi các bố thích sướng miệng nhưng không muốn chịu trách nhiệm mới thấy bào chữa cho bợm rượu cũng là đồng lõa với tội ác các bác ạ.

    • Dân gian says:

      Đúng đấy, lão nào sang hàng xóm uống rượu, ra về mà va phải bà hàng xóm hay thậm chí tiger nhà mềnh thì đề nghị tịch thu đôi guốc mộc và nếu có gậy chống thì cũng tịch thu luôn, không có phương tiện giao thông hết đi đâu nữa nhé! 🙂

  18. HỒ THƠM1 says:

    Có lẽ tui reply cho chú Một Ý Kiến Khác và chú Nước Non Ngàn Dặm (hay 2 chú này là 1, hay cùng một hội một thuyền một giuộc gì đó mặc kệ, không quan trọng.). Mặc dù tui không phải là bạn, là fan của Osin, và chưa gặp Osin ngoài đời bao giờ nhưng nghĩ tầm Osin mà đi reply cho 2 chú này thì phí quá!
    Đây là những “phản biện” của chú Một, học mót theo lối “pháo kích” kinh tởm của các “nhà báo” ND, QĐND, CAND:
    – cái tên sách theo mình là ăn bám vào sự hận thù Nam Bắc để kiếm tiền và kiếm danh, qua đó làm sâu thêm cái chia rẽ của người dân hai miền. (Trích còm).
    Cái tên sách gì mà kiếm tiền và kiếm danh một cách tài tình như thế? Thế thì phải thán phục chứ? Chỉ một cái tên sách mà “quần chúng nhân dân” đã vinh danh và bỏ tiền ra cho Huy Đức thì phải thán phục HĐ và tôn trọng ý kiến của Quần chúng Nhân dân chứ?

    – nhưng cái tên sách nói lên tâm địa tác giả, khong có tính sử học, mà có tính thương mại và tuyên truyền, khơi gợi hận thù và chia cắt. (Trích còm).
    Thế tên sách như thế nào mới có tính…sử học? “Trang vàng lịch sử của Ta” nhé!? “Những Cung đường lịch sử vẻ vang của Ta” nhé? Hay …”Đường vào Lịch sử của Ta” ?

    – Mấy lần có khả năng gặp bác này, mình đều phải tránh (Trích còm). Hi hi… thôi, “phụng khuyến” chú Một nên…tránh, để không gian môi trường yên lành như đã có, “Tránh Voi chẳng xấu mặt nào”, ngoại trừ trường hợp chú Một mang theo dùi cui thì tui không dám khuyên bảo gì 😛 .
    Còn “nước non” của chú Nước Non Ngàn Dặm thì như ri:
    – Giọng văn Bên thắng cuộc ra vẻ huyên hoang, (Trích còm).
    “Huênh hoang” chứ?! Nhưng mà …dẫn chứng vài “giọng huyên hoang” thử xem nào?

    – Bên thắng cuộc rất tồi tệ khi nói ngược lại những giá trị mà nhiều thế hệ của đất nước coi là thiêng liêng(Trích còm).
    “nhiều thế hệ của đất nước” là bao nhiêu người? Ăn lương bao nhiêu, không ăn lương bao nhiêu? Đang có chửa bao nhiêu, Đang theo đỉ bao nhiêu? :mrgreen: Cho số liệu thử xem nầu?

    Còn cái này là chú Nước Non Ngàn Dặm nói chẳng ăn nhập gì và cũng chẳng “nước non” mẹ gì đó nhá, chuyện làm ăn sinh sống của người ta chú chỏ mõm vầu làm gì?
    Còn Việc “đánh giá” Hang Cua thì chú tha hồ nhưng chắc cũng chẳng ai quan tâm lắm đâu!

    -Ngạc nhiên vì Osin vẫn có dự án thuê. Phản đối cái dự án truyền thông gì đó! Cụ Cua chỉ giỏi viết văn, không được mình đánh giá cao vì hệ tư tưởng thiếu bản lĩnh.

    Hoan hô Huy Đức về Hà
    Nội trong một tháng trăm bà chạy theo! 🙂

    • Dove says:

      Bớ lão Hồ Thơm 1. Đã đọc “Hòm đựng người” như Dove khuyên chưa. Nếu đọc rồi, thì chỉ cần dùng một câu để bình về sách của Osin:

      Bên thắng cuộc là cầu nối giữa sử học và tiểu thuyết lịch sử.

      Xây cầu rồi, cưới vợ rồi (hệ trong lắm vì mặt trái của thành công có khuôn mặt phụ nữ), Osin sẽ phải lựa chọn viết sử hay viết tiểu thuyết lịch sử.

      Đất sử vừa chật chội vừa lắm người nhiều ma, nham nhở như HN mở rộng, Dove ko khuyên. Còn tiểu thuyết lịch sử, xem ra sau Nguyễn Triệu Luật, chỉ có 2 tên tuổi rất lớn Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi nhưng đáng tiếc là họ sinh nhầm thế kỷ, chỉ có thể dùng ngòi bút để “xoay chế độ” bởi thế rất khó phục vụ nhân sinh. Còn lại có khá nhiều văn chương hải ngoại nhưng bị Dove chê là nữ thịnh nam suy. Câu Tây trao giải thì được, nhưng câu Dove thì hỏng ăn đâu.

      Vậy hãy cân nhắc.

      Mong rằng tiểu thuyết “Bên thua cuộc” sẽ ra đời, nếu giá dưới 200K, Dove lập tức mua một cuốn. Còn nếu trên 200K…hm…hm, phải tham khảo ý kiến Snowlion!

      Phiền thế, bà nhà này sẳn sàng bỏ ra 30 USD mua tác phẩm để đời của nữ nhi hải ngoại.. bó tay.

      • HỒ THƠM1 says:

        Này lão Đốp!
        Tui nghĩ “Bên thắng cuộc” chưa hẵn là 2 pho lịch sử, nhưng gọi là “tiểu thuyết lịch sử” thì lại càng không đúng, vì tui chẳng thấy “yếu tố tiểu thuyết” nào trong đó. Còn là “cầu nối” gì đấy của lão thì chẳng biết đúng không, lão Đốp “chất zấn” cụ Osin thử xem 🙂
        Tui nghĩ nếu có “cầu” thì là “cầu vượt” thôi, chẳng “nối” cái gì cả.

        Theo lão Đốp thì “sau Nguyễn Triệu Luật, chỉ có 2 tên tuổi rất lớn Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi viết tiểu thuyết lịch sử” thôi à? Ối giời! Cụ NĐT mà viết tiểu thuyết lịch sử cái gì? Cụ là nhà thơ nhà nhạc nhà kịch nhà phê bình gì đấy thôi.
        Thực ra, tiểu thuyết lịch sử dưới triều đại ta hiện nay thì nhiều vô thiên lủng cụ Đốp ạ! Hay đúng và chính xác hơn, lịch sử thời đại Hồ Chí Minh là một …trường thiên tiểu thuyết, túm lại cho gọn: Lịch Sử Tiểu Thuyết thay thế cho “dòng” tiểu thuyết lịch sử rồi!

        Có lẽ cuốn “Bên Thua Cuộc”, lão Đốp nên chấp bút là hơn! “Bên Thua Cuộc” thì ngược lại với “Bên Thắng Cuộc” chứ gì nữa? Thế thì dễ ẹc, lão chịu khó viết 2 ngày là có 2 quyển dày mo, đi mua làm gì cho phí tiền, hi hi…!!!

        • Dove says:

          Nguyễn Đình Thi hầu hết tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Đình Thi đều thuộc dạng bút ký lịch sử. “Xung kích” có thể được xếp vào hạng tiểu thuyết lịch sử, nhưng khách quan mà nói ko thể sánh được với Nguyễn Triệu Luật.

          5 tác phẩm được Nguyễn Đình Thi viết liền một mạch: Giấc mơ, Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Tiếng Sóng. Rừng trúc đều liên quan đến con đường xã hội và con đường tư tưởng của người trí thức Việt Nam. Đó là những vở kịch, nhưng chưa bao giờ được diễn bởi vậy Dove xếp chúng vào dạng tiểu thuyết lịch sử. Ko ít người đã xếp “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” vào hàng kiệt tác.

          Thực ra, Nguyễn Đình Thi có cuộc sống nội tâm rất khổ. Ông luôn bị dằn vặt giữa nhu cầu tự do của một nghệ sĩ và nghĩa vụ phụng sự chịnh trị của giới cầm quyền mà cụ thể là cụ Tố Hữu. Giá mà được tự do như ngày nay, Dove tin rằng “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” sẽ trở thành một kiệt tác thật sự. Rất tiếc là thời nay, khi được tự do hơn thì Dove mới chỉ có được Trần Đĩnh và Huy Đức mà chưa có Nguyễn Đình Thi.

          À có một câu chuyện liên quan đến Nguyễn Đình Thi, mà qua đó, ta sẽ hiểu rõ hơn về bi kịch đời sống lứa đôi của Văn Ba.

          Số là, Nazim Hickmet – nhà văn (thơ) nổi tiếng của Thổ Nhĩ Kỳ, đã nhận thấy tình cảm đặc biệt của đôi trai tài gái sắc Nguyễn Đình Thi và Madeleine Riffaud và ông đã đứng ra tác thành cho 2 người. Nguyễn Đình Thi đã ko đủ dũng cảm để công khai quan hệ, thế nhưng Madeleine đã liên tục tìm mọi cớ đến VN với ông. Chuyện đến tai Văn Ba, thế là Nguyễn Đình Thi được mời đến dung trà và nghe Văn Ba tâm sự:

          “Hai người cứ là bạn tình mãi mãi là tốt nhất. Nếu cưới nhau thì cô ấy phải sang ở hẳn VN với chú. Nếu vậy thì Đảng CS Pháp mất đi một cán bộ trung thành tận tụy và báo Nhân Đạo mất đi một ký giả tài ba.”

          Kết cục là cuộc tình đã được ngưng đọng lại trong những vần thơ đậm đặc chất sử thi, vượt lên trên tình cảm lứa đôi cá nhân và riêng tư:

          Anh yêu em như anh yêu đất nước
          Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
          Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
          Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn
          Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
          Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
          Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
          Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người

          Các bố bất đồng chính kiến đời nay, chẳng biết cóc gì về bối cảnh lịch sử và càng ngu ngơ về tình yêu của những người đồng chí. Vậy Liệu Huy Đức có đủ tài dựa trên những tư liệu có thật để viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử thật sự…hm…hm “Tình yêu lứa đôi của bên thắng cuộc” ko?

          Nếu dám, Dove sẽ đặt trước tiền cho 10 cuốn.

        • Dove says:

          Ảnh Nguyễn Đình Thi và Madeleine Riffaud

          Khều xuống từ internet.

          “Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
          Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người”

        • HỒ THƠM1 says:

          Hì, tui đếm đi đếm lại thấy lão Đốp trưng ra có 4 vở kịch mà hô lên 5 🙂

          Mà …nhà nghiên cứu phê bình văn học Đốp nói điều này mới lạ đây này:
          “Đó là những vở kịch, nhưng chưa bao giờ được diễn bởi vậy Dove xếp chúng vào dạng tiểu thuyết lịch sử” 🙄 Hi hi…, kịch mà để lâu quá không diễn, quá đát lên men… thành tiểu thuyết lịch sử à?

          Lại… hì hì… 😛 “chưa bao giờ được diễn” mà “Ko ít người đã xếp “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” vào hàng kiệt tác” :roll”. “Không ít người” là mấy người? Là những ai?

          Ngày xưa, dưới sự lãnh đạo tài tình tỉnh táo khôn ngoan sáng suốt và biện trứng của cụ Tố Hữu, các bố tự tung nhau lên mây thì có gì lạ.
          Tác phẩm viết xong chưa ai thấy mà trở thành kiệt tác thì chỉ có ở Việt Nam anh hùng ta! 🙂

        • Dove says:

          Dove viết thiếu “Con nai đen” bởi nhẽ nó ko đồng loạt với những kịch bản mà Nguyễn Đình Thi gửi gắm suy tư của mình về con đường xã hội, con đường trí thức và mâu thuẫn giữa trí thức và quyền lực.

          Đương nhiên, theo Dove những kịch bản của Nguyễn Đình Thi đều có giá trị văn học và có tác dụng khơi lại dòng chảy đúng đắn cho tiểu thuyết lịch sử VN. Rất đáng tiếc, những cố gắng của ông đã bị ko ít người đang tâm vùi dập.

          Việc công nhận kiệt tác công đầu là GS. Hà Minh Đức với cuốn sách “Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi” và một số học giả khác, Dove ko nhớ. Chỉ biết rặng Hội Nghệ sĩ sân khấu đã xếp “Nguyễn Trãi ở Đông Quan” vào danh sách 100 kiệt tác sân khấu của thế giới từ cổ đại đến hiện đại.

        • Vĩnh An says:

          Bớ Hồ Thơm 😀 đọc cái này nhé:
          “… Vở Nguyễn Trãi ở Đông Quan, vào đầu năm 1980, trong dịp lễ kỷ niệm 500 ngày sinh Nguyễn Trãi, được Đoàn kịch Trung ương dựng, anh Nguyễn Đình Nghi đạo diễn. Cũng có những eo xèo chê bai, cả những đe nẹt trong quá trình dựng vở, nhưng nhà đạo diễn và các anh chị diễn viên đều làm việc quên mình. Anh Thế Lữ xem kịch bản, từ trong Nam, nhắn ra ủng hộ và góp ý dàn dựng, Anh Trần Tiến, đóng vai Nguyễn Trãi, một buổi chiều rét, gặp tôi ở vườn hoa Chí Linh, ngồi trên ghế đá tâm sự với tôi về việc kịch, việc đời, đến xẩm tối còn chưa muốn ra về. Cuối cùng vở kịch được ra mắt trên sân khấu Nhà hát Lớn, gây ra sóng gió dư luận. Vở kịch được diễn thêm ít buổi rồi phải thôi, không được phép tiếp tục…”.
          Nguyễn Trãi ở Đông Quan mang đậm chất bi kịch và huyền thoại của câu chuyện chính sử hoặc dân dã đời thường. Tác giả không khai thác tỉ mỉ chuyện xưa mà tiếp cận ở hai góc độ, một là ý nghĩa xã hội và nhân bản của xung đột kịch, hai là mối liên hệ giữa cuộc sống hôm nay với những vấn đề của ngày qua…”

      • TKO says:

        @ Cụ Dove:

        1. Cụ Osin:
        Nhìn hình, trông cụ Osin rắn rỏi, sắc nét hơn giai đoạn … bơ sữa/bơ vơ “rửa chén” ở nhà cụ Cua lúc mới hoàn thành khóa tu nghiệp báo chí ở Mỹ dạo nào. Good.

        Lời gợi ý của cụ Dove về việc cụ Osin sẽ lựa chọn viết sử hay viết tiểu thuyết lịch sử cũng thật đáng để xem xét, nhưng mà có khi trên thực tế cụ Osin đã lựa chọn rồi?
        Có khi nào cuốn BTC đã được ai đó xem là tiểu thuyết lịch sử nên cả sách lẫn người mới … “thọ” đến bây giờ?

        Người có thực tài, hiểu biết, thức thời, trụ đến tuổi này cũng đủ để “tri thiên mệnh” và có sự cẩn trọng cần thiết. Chúc cụ Dove và cả cụ Osin luôn thân tâm an lạc nhé.

        2. Ấu Mai:
        Cảm ơn cụ Dove đã tín nhiệm mời TKO thủ vai Ấu Mai. Có điều Ấu Mai kết cuộc bị “tứ mã phanh thây” chết “hào hùng và nhẹ nhõm” quá ạ, hay là cụ Dove hy sinh, hóa trang đóng vai ấy, thể nào cũng đoạt giải diễn viên chính xuất sắc – Oscar Hang cua, vả lại cụ Dove mới là nàng thơ của bác Hoàng Cương – Duy Lễ, và là đối tượng muốn tùng xẻo của Đô sát – Lão ngoan đồng HT – người hay la lên ở HC: Bớ Dove … Ấu Mai!
        🙂

        • Dove says:

          BTC chỉ là những ghi chép, chưa thể là sử hoặc tiểu thuyết lịch sử.

          Còn Ấu Mai là chỉ đóng phim thôi mà. Nếu TKO nhát quá, Dove sẽ nhận vai Ngự Sử Trịnh Kha để che chở. Nếu lão Hoàng Cương làm quá sẽ kịp thời can thiệp. Nếu TKO bị tra tấn Dove sẽ chu đáo cho lót mông để đỡ đau.

          Dove mà đóng Ấu Mai thì hóa trang cầu kỳ lắm, tốn thời gian và đội ngân sách lên. Riêng phẫu thuật chuyển giới chắc là tốn cả năm và ngốn chí ít 1/3 kinh phí rồi.

      • TranVan says:

        NDT có điểm hay mà ít người biết, theo nhận xét của nhà phê bình Thụy Khuê. Sở trường của NDT chính ra là thơ văn.

        Tiểu thuyết lịch sử thì VN ta đã có BS Trần Đại Sỹ, nay thêm Nam Dao với ba bộ sách vừa mới ra lò (Bể dâu, Đất trời, Gió lửa).

        Nguyễn Mộng Giác cũng đã viết truyện lịch sử : ở trong nước có thể tìm thấy “Sông Côn mùa lũ “. Lịch sử cận đại, Mùa Biển Động, hay hơn. Nay khó còn có thể tìm mua được, ngay tại ngoài VN. Hơn 2000 trang đó.

        Một số sách của Xuân Vũ cũng có thể xem như bút ký và truyện lịch sử cận đại. Theo tôi “chuyện” có lẽ gần với sự thật hơn. Chuyên kể lại cho thế hệ mai sau.

        Dove chụi khó đọc rồi hảy phán xét lung tung. Thế nha !

        TB :
        -Sách của HD , với tôi đã không cho biết thêm được những gì tôi đã biết.
        -Nếu muốn để lại cho nghiên cứu thì tôi thấy “Tuấn, Chàng trai nước Việt” của Nguyễn Vỹ đáng quý trọng hơn.

        • Dove says:

          Dove, quả là ko có thời gian để đọc những tác phẩm mà TranVan giới thiệu. Vậy hãy cho vài dòng, biết là nó hơn thế nào đi.

        • TranVan says:

          Không phải chỉ có vấn đề thời gian, theo tôi, cụ Dove đã không có điều kiện cần và đủ để tiếp cận được với văn hóa ngoài luồng.

          May ra thì đã biết rằng BS TDSỹ, một trong những người VN biết tiếng Trung, qua ngả TQ, đã xuống đến tận biên giới đễ khóc khi thấy đất VN “chạy” sang TQ. Khóc khi VN ta hồi ấy còn dấu kỹ chuyện “chia và mất” này.

          Tài liệu về vụ này chắc nay vẫn còn trên mạng.

          Tôi có “duyên” được đi nghe và ủng hộ cả TDS, NMG, ND. Chỉ có XV và NV là tôi đã không được gặp, chỉ biết qua sách.

          Paris có lợi điểm là có sách đến từ muôn phương.

        • Vĩnh An says:

          Tôi có đọc vài tác phẩm của Trần Đại Sỹ, quả thật là kỳ công. Chỉ có điều văn không hay lắm, hơi lan man, bố cục không chặt. Tuy chưa bằng Tam Quốc Diễn Nghĩa, Kim Dung nhưng nói chung là đáng để đọc nhất là với nhx người yêu sử Việt và thích truyện chưởng.

        • Dove says:

          Ừ, như vậy là tốt vì có dằn vặt. Người bị dằn vặt mới viết tiểu thuyết lịch sử được.

          Dove cũng từng suýt khóc khi nghe tía kể, rằng Ngô Đình Nhu là một người bạn học ở Paris – rất thông minh và nấu ăn rất ngon. Nhưng chọn sai đường nên chết thảm. Cái cách mà Ngô Đình Nhu bị hành quyết dã man hơn cái cách của IS bây giờ, thế mà Washington đã lờ đi.

          Lần nữa cũng suýt khóc, khi 50 năm trước lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và sau đó nâng tổng số đạo quân tham chiến và hỗ trợ lên đến 2 triệu người, rãi hàng ngàn tấn chất độc da cam và vãi bừa bãi lượng bom đạn gấp 3 lần thế chiến II lên đất nước VN.

          Thêm một lần nữa, đã khóc thật sự khi không quân chiến lược Mỹ ném bom tàn phá Khâm Thiên. Một người bạn gái đã chết trước lễ cưới 2 chỉ vài ngày.

          Một lần đã nghiến răng viết đơn nhập ngũ vào dịp chiến tranh biên giới với Khơ me đỏ và sau đó là những quân đoàn tinh nhuệ nhất của TQ..

          Và lại một lần nữa đã nghiến răng thực hiện lệnh kiềm chế, sau sự kiện Gạc Ma và Trường Sa.

          Như vậy là 3 lần khóc, hai lần nghiến răng nhưng do ko đủ tài viết tiểu thuyết lịch sử, bởi vậy chỉ tìm đọc những dòng phù hợp với kinh nghiệm đã từng trải qua.

          Như vậy, cần và đủ cho lựa chọn là chuẩn. Ko có thời gian cũng là chuẩn vì họ hàng thân thích ở Paris có hàng tá. Gần như năm nào cũng về thăm nhưng ko hề thấy ai nhắc đến TĐS và cũng ko biết để mà hỏi.

        • TranVan says:

          Ngay đến quyển thứ hai (Quyền Bính) của HĐ cũng làm tôi thất vọng, vì nhà báo đã vô tình hay cố ý bỏ quên một truyện ngắn quan trọng và cốt lõi nhất nhất hổi đầu “cở trói” : đó là Linh Nghiệm của THQ, trong khi “tóm tắt” hay “liệt kê, liệt kể” vài bài ít lấn cấn hơn : Vua Lốp, Người Đàn Bà Quỳ, Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì.

          Thiếu sót này theo tôi chắc không phải vì vô tình !

          Gần như vì ngại ngùng và … sợ ?

      • TamHmong says:

        Chào Dove đại hiệp. Trước hết xin cám ơn Dove về câu chuyện Nguyễn Đình Thi và Madeleine Riffaud và qua đó là về Văn Ba. Tôi rất quan tâm đến mọi việc liên quan đến Văn Ba vì theo tôi, muốn hiểu lịch sử VN thế kỷ 20 và những điều đã và sẽ diến ra ở VN nhất thiết phải hiểu sâu sắc về Văn Ba.
        Theo tôi có thể nói không ngoa rằng Văn Ba là biểu tượng đặc trưng của tính cách người Việt. Cũng không thể phủ nhận đó là nhà chính trị VN có tầm vóc quốc tế lớn nhất trong thê kỷ 20.
        Văn Ba cũng là một nhân cách có sức hấp dẫn đặc biệt nên đã tập hơp được quanh mình những con người xuất chúng đủ mọi thành phần.
        Cũng không thể phủ nhận những sai lầm chết người của ông. Cũng không thể phủ nhận là một trong nhừng bi kịch lớn nhất của ông là cho đến nay ông vẫn chưa được về với đất mẹ.
        Trước đây tôi hơi dị ứng với cách Dove “tôn sùng” Văn Ba của Dove. Vì theo tôi không có cách nào “giết” nhân vật lịch sử nhanh hơn và hiệu quả hơn là thần thánh hóa họ, hoặc bắt người khác nghe về họ mỗi ngày như Dove đã từng làm. Vì vậy, tôi cũng không buồn nghe Dove “hót” về Văn Ba nữa.
        Cũng vì vậy Dove bắt tôi phải nghĩ là Dove đã mất cảm giác (tử) về nhận thức lịch sử.
        Chính vì vậy tôi mừng và cám ơn Dove về câu chuyện hôm nay.
        Về những tác gia tiểu thuyết lịch sử trong các nhà văn Miền Bắc ngoài Nguyễn Huy Tưởng còn có thể kể đến Hà Ân tác giả của những tiểu thuyết lịch sử thú vị như “Tướng quân Nguyễn Chích”, “Trăng nước Chương Dương”, “Bên bờ Thiên Mạc”,…(chắc là ngài có đi học phổ thông và có thể nhớ lại).
        Hiện nay thì ngoài nhưng tác gia như bác Trần Vân đã kể có thể kể đến Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết Hồ Qui Ly rất đáng đọc của ông. Nguyễn Đình Thi thì có lẽ là đừng xếp là nhà viết tiểu thuyết lịch sử thì công bằng hơn. Một lần nữa cám ơn Dove và chúc mọi điều tốt đẹp.

        • Dove says:

          Dove cũng biết là TamHmong rất bức xúc với lịch sử vì nó đã đẽo cho TamHmong một cái guốc ko vừa ý. Thế cho nên TamHmong bèn làm cái việc gọt guốc cho vừa chân. Đối với lịch sử Nga, TamHmong cũng làm y như vậy. Quả thật là một cách tiếp cận lịch sử rất độc đáo.

          Mong TamHmong chỉ ra lỗi Dove thần thánh hóa Văn Ba.

          Chấp nhận góp ý về Nguyễn Xuân Khánh, ngoài Hồ Quý Ly, ông còn có Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa. Chắc chắn là một tác giả lớn. Dove được tặng cuốn “Đội gạo lên chùa” nhưng thú thật là chưa đọc.

          Vấn đề còn lại, là nhắc đến Văn Ba hàng ngày.

          Xin tự bào chữa: Số là những sự kiện quan trọng nhất của VN trong suốt 20 năm từ 1941 đến 1961, đều gắn liên với Văn Ba. Khi bàn đến những cố gắng quan trọng nhất để thực hiện cách mạng dân chủ tư sản theo lối mới và xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa có thể ko cần nhắc đến Phạm Quỳnh và thậm chí Phan Châu Trinh nhưng không thể không nhắc tới Văn Ba.

        • TamHmong says:

          Thất vọng toàn tập với một chuyên gia chuyên đánh tráo khái niệm như Dove. Mong hãy chỉ ra khái niệm có tính khoa học về cái gọi là “ịch sử vì nó đã đẽo cho TamHmong một cái guốc ko vừa ý”

        • HỒ THƠM1 says:

          Hừ, người ta tặng cuốn “Đội gạo lên chùa” nên lão Đốp không đọc, chứ nếu tặng cuốn “Lên chùa đội gạo” chắc lão đọc đời tám hoánh rồi! 👿

          “xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa có thể ko cần nhắc đến Phạm Quỳnh và thậm chí Phan Châu Trinh nhưng không thể không nhắc tới Văn Ba”.

          Ông Phạm Quỳnh có tài về văn chương học thuật thì không bàn cãi, nhưng cái tình với nước non dân tộc, xây dựng nền dân chủ thì chưa hẵn đã có nhiều, không kể cũng đúng. Còn lý thuyết về xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa thì Văn Ba so với cụ Phan Chu Trinh giống như ngọn đồi trọc so với ngọn núi vậy! Lão Đốp nhớ lấy!

        • Dove says:

          @ TamHmong:

          Tính khoa học của cái guốc ko vừa ý, đơn giản chỉ là thay vì quán triệt Chính cương 1951để hoàn thành triệt để cách mạng dân chủ tư sản theo lối mới thì lịch sử lại đẽo cho TamHmong cái thể chế thị trường theo định hướng XHCN.

          Sự cố như vậy đầy rẫy trong lịch sử VN và nhân loại, Euro Maidan mà TamHmong chứng kiến là thí dụ mới nhất. Cho dù lịch sử vĩ đại đến đâu đi chăng nữa thì nó cũng chỉ là một thằng câm, phải nhờ ai đó phát ngôn, tỷ dụ như TamHmong hay Dove hoặc ở tầm cao hơn là Huy Đức.

          Trong điều kiện như vậy, khó có thể nói đến tính duy nhất của lịch sử. Bởi vậy, lịch sử có nhiều cách tiếp cận và Dove chỉ làm theo cách của mình. Lịch sử cho dù như một cái guốc dính phân, Dove vẫn cứ vậy mà đi, không ngồi gọt cho trơn thùi lụi như TamHmong.

          Thiển nghĩ chính trị hóa lịch sữ là một hành vi vô đạo đức. Quy kết cho người khác là đánh tráo khái niệm là khởi đầu của một hành vi như vậy.

    • nuoc non ngan dam says:

      Tác giả Bên thắng cuộc thì có thể được gọi là Ăn cháo đá bát. Hồ Thơm này theo đóm ăn tàn. Tôi 65 gần đất xa giời không lắm lời được. Nhưng Hồ Thơm không nên hỗn. Biểu dương Cua Times dũng cảm dám đăng ý kiến khác! Thật lòng chúc cụ Cua mau đoàn tụ.

      • HỒ THƠM1 says:

        Bát đâu mà đá,Tàn đâu mà ăn hả chú Nước? 😛

        Chú Nước mới 65 years old mà bảo “gần đất xa giời” rồi à? Tinh thần lạc quan tiến công cách mạng, phục vụ cống hiến cho nhân dân của chú ở mô rồi? Định “chao cánh liệng” hạ đất cho an toàn đấy à?

        HT tớ đã 66 tuổi rùi, nếu có mắng mỏ chú với chú Một hơi nặng lời vài câu cũng vì thương các chú lầm đường lạc lối mà thôi. Bị Người lớn hơn mắng mỏ không nên gọi là hỗn, sai ngữ pháp đấy! 🙂
        Chúc chú Nước vui khỏe, yêu đời, học thuộc Sử thi BTC để phục vụ nhiều cho Nhân Dân 😛

      • Khac kien mot y says:

        Người ta tới 60 tuổi thì đạt mức hoàn hảo về tri hành văn kiến kinh nghiệm, có thể nhận xét phán đoán lập tức chính xác và thấu hiểu mọi lẽ.

        Deleted. Bạn nên viết cẩn thận nếu không muốn bị spamm

        65 tuổi như thế đừng nên sống
        Sống nhục làm chi đứng chật trời 😉

  19. CÚN says:

    Về tính hài hước và dí dỏm thì anh Osin gần bằng tổng Cua.

  20. PV-Nhân says:

    * Oshin Huy Đức, kẻ sĩ thời đại hiếm có đang còn sống ở đất nước này- Việt Nam.

  21. CÚN says:

    Em thì quý anh Osin vì thấy anh là người có tâm qua những bài viết của anh ấy: không đưa ra những chỉ trích cực đoan, chỉ nêu những vấn đề cần giải quyết và đưa ra phương án giải quyết vấn đề. Không giống như một số người chỉ lên mạng la lối chỉ trích, nhưng hỏi phải làm thế nào để cải thiện thì họ… không trả lời được.

  22. Dove says:

    Washington đã cho một phi đội gồm 300 lính và 12 máy bay cường kích đời ông nội A-10 Thunderbolt đến căn cứ Spangdahlem, Đức. Ngoài lực lượng thường trực 29.000 lính tại NATO, Washington đã điều thêm 150 xe tăng và thiết giáp đến Châu Âu tập trận và sau đó sẽ triển khai lâu dài tại các nước thành viên NATO (Ba Lan, Romania, Bulgaria và các quốc gia Baltic) có chung biên giới với Nga.

    Để đáp lại Moskva chỉ cười ruồi: hung hăng ko phải là biện pháp thỏa đáng để tăng cường an ninh cho Châu Âu, và đẩy nhanh tiến độ sản xuất kem chống muỗi:

    3 tầu ngầm chiến lược Borei Class sẽ được hạ thủy trước 2020, 2 tàu ngầm chống hàng không mẫu hạm Iasen được đống thêm và quan trong hơn, một hàng không mẫu hạm lớn nhất thế giới (lớn hơn 10% so với Nimitz của Hoa kỳ) đã được quyết định đóng.

    Hay là Huy Đức tam thời hoãn cưới vợ.

    • Dove says:

      Mời các vị xem “lợn lòi bay A-10” Thunderbolt phóng tên lửa AGM65 Maverick để chọc giận gấu Nga:

      Ảnh được khều xuống từ trên mạng.

    • chinook says:

      Không rõ T-90 mới của Nga sánh với T-72 của Iraq năm xưa có khá hơn nhiều không.?

      Nhưng Lợn lòi A-10 Thunderbolt phiên bản cũ là sát tinh của mấy sư đoàn thiết giáp Iraq .

      • Dove says:

        T90 của Nga là máy bay thế hệ 4+++ về tính năng bay so với F35 Joint Fighter thì kẻ 8 lạng, người nửa cân. Vấn đề là ở chỗ F35 vẫn chỉ được trang bị vũ khí tấn công đời cũ, các chuyên gia Hoa Kỳ đã vỡ nhẽ ra rằng vũ khí của F35 hầu như ko thể bắn hạ được T90 có hệ thống phòng thủ điện tử và đánh lạc hướng mục tiêu được xem là tân kỳ nhất hiện nay.

        Một vấn đề đau đầu khác, là Nga đã về cơ bản hoàn thành xây dựng và triển khai hệ thông phòng thủ tích hợp 5 thành phần: 1) Tên lửa, 2) Không quân 3) Phòng không; 4) phòng thủ vũ trụ và 5) Hải quân. Phạm vi phản ứng là toàn cầu, thời gian kích hoạt hệ thống khoảng 5′.

        Nga nói ít, nhưng rất rõ ràng: bạn hữu hết tình, kẻ thù tiêu diệt.

        Dove đã dự đoán rồi trừng phạt ko ăn thua. Bây giờ là trò trêu gấu. Tạm thời gấu chưa thấy đủ đô nên chưa phản ứng trực diện vậy hãy đợi đấy!

        Đồng Euro đã mất 50cents (1 Euro chỉ còn ăn khoảng 1 USD), thanh niên thất nghiệp tràn lan. Tội nghiệp cho bà già EU, đã già mà còn bị B. Obama fuck: hãy vững tin vào Obama Care để can đảm chiến với gấu.

        • phongnguyen says:

          Wow, T90 so với F35, chịu bác Đốp luôn…:-)

        • anh ba láp says:

          T90, T72 là xe tank chứ ko phải máy bay đâu mấy bố

        • Vandamme says:

          Chiến thì biết ngay thôi, ngồi đó mà so sánh.

        • Dove says:

          Đúng vậy, chiến là biết ngay.

          Cũng như F105 đấu với ông nội MIG 17 ý mà. Vả lại trên chiến trường Châu Âu, F35 ko chỉ đấu với T90 mà với hệ thống phòng thủ tích hợp, bao gồm cả tên lửa phòng không tầm xa C400 và C500.

          Mang A10 ra là placebo để củng có tinh thần cho tốt thí thôi.

          Dove đang mong Obama fuck gấu Nga mạnh hơn một chút để nó cáu lên.

        • Dove says:

          @ anh ba láp:

          Ủa viết lộn đúng ra là T50.

          Đầy đủ PAK FA T50: Perspektivny Aviatsionny Kompleks Frontovoy Aviatsii T50.

        • chinook says:

          Mong ước của Cụ Dove là Obama F. gấu Nga đủ đô để cho nàng vùng lên coi bộ khó xảy ra.

          Don Cororso(có liên hệ với Don Corleone) gốc KGB, Bố Già hẳn biết tẩy của mình cũng như tẩy của Obama, Bố lại có lưng đen nhu đạo. Khả năng xùng lên mà phản ứng là rất thấp.

          Hơn thế nữa ,tài sản của Don Cororso rất lớn, của chìm của nổi lên tới hàng Chục tỉ US$. .Chờ đến ngày Bố Già còn cái lai quần… hẳn không bao giờ thấy.

  23. Mot y kien khac says:

    Hồi trước mình cũng có ấn tượng khá tốt về Osin. Nhưng mình đã hủy kết bạn với Osin ở Facebook sau quyển sách Bên thắng cuộc, mà cái tên sách theo mình là ăn bám vào sự hận thù Nam Bắc để kiếm tiền và kiếm danh, qua đó làm sâu thêm cái chia rẽ của người dân hai miền. Nội dung quyển sách thì khong có gì lắm, khong quá mới nhưng cách trình bày hấp dẫn theo kiểu báo chí, nhận xét chủ quan, nhưng cái tên sách nói lên tâm địa tác giả, khong có tính sử học, mà có tính thương mại và tuyên truyền, khơi gợi hận thù và chia cắt.

    Nói chung bác Osin này chất Nghệ giảm hết rồi. Mấy lần có khả năng gặp bác này, mình đều phải tránh để đỡ thấy một người mà mình có cảm nhận tiêu cực.

    • thimai says:

      Bác ơi , em cũng là người xứ Nghệ, nhưng vẫn băn khoăn chất Nghệ là gì ? Có phải là giữ vững truyền thống cách mạng xô viết những năm 30 thế kỷ trước , là đi đúng con đường mà 1 người nổi tiếng nhất xứ Nghệ đã lựa chọn cho cả dân tộc? Viết lại lịch sử không phải để chia rẽ. Bác có biết vì sao các bạn trẻ hôm nay lại lơ là với môn lịch sử trong trường học? Nước Đức hàng năm vẫn tổ chức tưởng niệm nạn nhân Đức quốc xã . Bởi họ không có quyền quên tội ác trong quá khứ của dân tộc mình. Con cháu của họ có quyền biết về lịch sử đất nước họ, dù chẳng vẻ vang gì.

      Em rất kính phục bác Ôsin. Bởi vì bác ấy dũng cảm hơn em , hơn bác. Bác ấy đã làm được điều mà nhiều nhà văn giỏi như bác ấy không dám làm.

      • Rượu Cá Tầm says:

        Ý kiến cá nhân : chất Nghệ là kiên định niềm tin bản thân , không nghe bất cứ ai , không thấy bất cứ gì , chỉ có mình là đúng …
        Vì thế đất Nghệ Tĩnh mới xuất hiện nhiều anh hùng …

    • nước non ngàn dặm says:

      Đồng ý với bạn này. Giọng văn Bên thắng cuộc ra vẻ huyên hoang, nhiều người đọc chỉ vì bị cái vẻ bí hiểm nói những điều nghe như tiết lộ bí mật. Thực chất Bên thắng cuộc rất tồi tệ khi nói ngược lại những giá trị mà nhiều thế hệ của đất nước coi là thiêng liêng. Ngạc nhiên vì Osin vẫn có dự án thuê. Phản đối cái dự án truyền thông gì đó! Cụ Cua chỉ giỏi viết văn, không được mình đánh giá cao vì hệ tư tưởng thiếu bản lĩnh. Sorry cụ!

    • Dove says:

      Ông Tony Blair, từng nói: “Cải cách mà ko bị phản đối là cải cách tồi”. Chí lý.

      Bên thắng cuộc mà ko bị phản đối cũng chỉ là thắng vừa vừa theo kiểu xăng pha nhớt thôi. Vấn đề chỉ là ở chỗ đã thắng cuộc thì phải biết đối mặt với phản đối như thế nào cho cái xứ xở của Vua Hùng nó bền vững và tốt đẹp hơn.

      Sách cũng vậy. Cám ơn “Mot y kien khac” đã phản đối. Osin sẽ có thêm một đọc giả gai góc là Dove và vì thế có thể yên tâm lấy vợ.

      Hãy nhớ lời dặn của Dove, chớ lấy các chị yêu “Bên thắng cuộc” mà lấy ngay cái chị nào yêu cái con người của Osin.

      • chinook says:

        “Cải cách mà ko bị phản đối là cải cách tồi”. Chí lý.
        ————————–

        Có thể nói dưới một góc nhìn khác : Viết lách mà không bị Cụ Dove và những người ngáo Văn3 phản đối là viết tồi

        • Dove says:

          Dove là trường hợp ngoại lệ. Đã tự nhận là ngáo thì cứ đụng đến Văn Ba là phản đối, chẳng cần biết thực sự hay ko thực sự.

          Đã suy nghĩ mãi đến clip “Un air de liberté” của Jean Ferrat mà Chinook post lên, cuối cùng quyết định dân VN ko vì bất cứ lý do nào mà oánh nhau nữa. Như vây tuy là ngáo, nhưng là ngáo yêu hòa bình, ngáo bằng biện pháp bất bạo động.

    • Lạc rang cả vỏ says:

      “Bên thắng cuộc” và Osin nổi lên hot tương tự như hồi xưa Bùi Tín và “Hoa xuyên tuyết”, “Mặt thật”, hoặc một phần như “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên.
      Hồi đó Bùi Tín nổi hơn rất nhiều, BBC và các đài nước ngoài phỏng vấn suốt. Nhưng rồi …

    • Lạc rang cả vỏ says:

      À, có thêm một chuyện vui vui liên quan đến Osin, em góp thêm cho vui vẻ. Số là hồi còn blog Osin, em thỉnh thoảng có vào đọc. Các comment ca ngợi, hưởng ứng thì nhiều, nhưng cũng có vài cái lẻ tẻ chỉ trích. Một cái chỉ trích, đại ý là “Ông Osin ơi, ông được chủ trả bao nhiêu?”. Còm này dĩ nhiên là quá đáng.
      Có ngay một còm vào bênh Osin, bảo là, cũng đại ý: Osin không có chủ nào hết. Nếu có thì chủ của Osin chính là những người dân bình thường, nghèo khổ như chúng tôi.

      Hô hô, may mà lúc đó em không uống cà phê (như thường lệ). Không thì phun vào màn hình mất 😦 .

      • Đất Sét says:

        Vậy lúc đọc câu cán bộ là đầy tớ của dân thì hệ tiêu hóa bác thế nào 😆 , kể cả không ăn uống gì, chắc bác cũng lấy tạm lấy tí mật xanh mà…… phun 😆

        • Lạc rang cả vỏ says:

          Đây là thói quen tranh luận của người VN mà. Khi người ta đang nói về vấn này, lập tức phản bác bằng một chuyện khác tương tự, nhưng không có gì liên quan, làm loãng vấn đề.

          Nó có ở cả hai phía. Ví dụ khi nói về tình hình tham nhũng ở VN, thì có những người bênh vực bằng cách lôi tham nhũng ở Mỹ, ở châu Âu ra phản bác.

          Còn ở phía bên kia, ví dụ khi người ta đang tranh luận về vụ Mỹ Lai, thể nào cũng có ông nhảy ra lôi vụ Mậu Thân blah, blah,…

        • Đất Sét says:

          Ồ, bác biết ai đang chuyện này, lôi chuyện khác vô, hihi, lừng danh HC: bác Đốp đó. Sét mỗ đang tính học chiêu đó để gậy Đốp đập lưng…..Đốp 😆

        • Dove says:

          Trình độ của Lạc Rang cả vỏ và Đất sét rất có vấn đề. Có hàng loạt các môn học mang tên so sánh: Lịch sử học so sánh, nhân chủng học so sánh, kinh tế học so sánh, Chính trị học so sánh v.v….

          Có những người như đà điểu rúc đầu vào cát để trốn so sánh. Tỷ dụ như CS Mỹ từ đầu năm đến nay đã chịt cổ và bắn bỏ 120 người vô tội chỉ vì họ có màu da sẫm màu hơn Obama tý chút thì ko cần biết đến….

          So sánh giúp cho Dove xác định được cái giới hạn nên dừng.

        • Vĩnh An says:

          Trong nhiều lĩnh vực không có đơn vị đo lường, tiêu chuẩn nên để định lượng, định tính cần có sự so sánh, riêng đất sét thì không cần 😀

        • Đất Sét says:

          Ồ, bác Dove nhớ đến con đà điểu rúc đầu vào cát để trốn so sánh, nhưng bác quên rằng đến con chó cũng không cần so sánh để bảo chủ mình nghèo. Bởi vì cái gì cũng lôi sự kiện khác, việc khác ra so sánh để khỏa lấp vấn đề của mình là hình thái của sự bất lực, do không đủ ngôn từ và kiến thức để tranh luận.

        • Đất Sét says:

          Hehe, bác Vĩnh An, do bác chơi chữ đất sét viết thường, nên tôi phải nhắc hộ bác rằng khi khai thác đất sét, người ta cũng tính bằng khối hoặc thửa, tùy vùng miền, tức là có định lượng. Rồi có cả đất sét nhiều cao lanh hay ít cao lanh, đất sét trắng hay đất sét xám, đó là định tính. Nhưng bác Vĩnh An biết không, cái gì vĩnh hằng lẫn an nghỉ thì ui chao, chỉ làn khói mỏng, còn đâu mà lượng với tính 😆 😆 (trêu bác thôi, đừng giận nhé)

    • Thiên Nhân says:

      Bác nên cho biết những đặc trưng cơ bản của chất Nghệ (An) là gì? Có như vậy chúng ta mới có thể tranh luận được liệu Bác Osin có giữ được chất Nghệ hay không? Ngay đến khái niêm ” Kinh tế thị trường định hướng XHCN” cũng đang được Đảng CSVN nghiên cứu đưa ra định nghĩa lại cho rõ để khỏi tranh cãi nữa là. Tranh luận cần có nội dung, tiêu chí chứ không nên chỉ phán suông, khó được tâm phục, khẩu phục, nhất là trong Hang này toàn những bâc “thông thái” đấy.

  24. Thanh Tam says:

    Trông Anh Osin Huy Đưc trong Ảnh già nhiều hơn trên “Bên thắng cuộc ” . “Thoáng một chiều tóc trắng như vôi ” (Xin lỗi luống tuổi rồi chẳng nhớ thơ của tiên sinh nào bên Tàu để tặng cho Osin,nên cứ viết bừa lên ) ,Hay là anh thấy thời gian trôi nhanh mà mình thì già đi như nhận xét của Anh Cua,Nhưng người như Osin mà không ưu tư trong thời buổi nay mới lạ chứ ! Vui sao được khi những bạn Văn minh vẫn không được Tự do ,Sĩ phu Bắc Hà hay có giọng thâm thuý và trào phúng : Chúng ta mới thực hiện được “Không có gì quý …” Còn Tự do chưa có !
    Thời gian này Hà nội trông nhếch nhác,vì mưa phùn,gió Bắc , Không biết hai Anh cũng ngồi ăn uống ở Phổ Cổ HN mà sang góp chuyện nhỉ , bạn tôi cũng ỏ nước ngoài về, đưa vào Phố Cổ ăn và uống Cà phê…,Anh ấy cũng khen ẩm thực Phố Cổ ,nhưng nói là nhà hàng và W.C bẩn quá !
    Tôi chống chế là đây là quán bình dân thôi ạ ….,Mai hẹn nơi khác sạch bong như Châu Âu luôn ! Anh bạn tôi Cám ơn nhưng mai vô Sài Gòn …Chúng tôi cũng chia tay nhau trong mưa bay Phố Cổ,bạn tôi cũng là người yêu quê hương lắm,Nhưng về quê kỳ này thời thiết rất xấu,Cảnh xấu…”Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ “! (Vái cụ Tiên sinh Nguyễn Du ngày xưa cụ viết Truyện Kiều không biết với tâm trạng ,nhân tình thế thái,…cuộc đời dâu ,bể ra sao ?)

  25. TranVan says:

    Vào quán ăn xôi có bàn và ghế cao là xa lánh quần chúng.

    Chiều chiều, ghé quán xôi bình dân, ngay trên vỉa hè : góc Hàng Điếu và Bát Đàn. Hội nhập sẽ nhanh hơn nếu được cô bán hàng hướng dẫn.

    TB : tôi đã đoán đúng là Osin sẽ …. buồn , tiếp theo sẽ là thất vọng ?:)

  26. cát bụi says:

    Cho em hỏi “thiếu muối ” tí “Xôi gà đồi” có phải là xôi gà, mà gà này nuôi ở trên đồi không vậy? Bác chủ mô tả thêm để diễn tả cái sự ngon của món xôi này cho mọi người thèm với hi hi

    • thimai says:

      Gà đồi thưòng không phải lúc nào cũng nuôi ở trên đồi , mà còn có thể chen chúc trong 1 nông trại nào đó ở miền đồng bằng, có khi xuất xứ từ nước hàng xóm phương bắc cũng nên. Giống như ở Hà nội thường bán cam Vinh, nhưng em xin thề em lớn lên ở Vinh mà chưa được ăn cam Vinh bao giờ, bởi vì cam Vinh thật sự quá hiếm, các đại gia đã mua hết từ khi quả còn bé tý ở trên cây. Nhớ xôi gà 1 , nhớ cái chậu rửa bát mà bác tổng tia thấy 10, bởi nó giữ nguyên hương vị cho đĩa xôi kế tiếp. 🙂
      Có phải vì mưa xuân Hà nội, có phải vì càphê nhỏ giọt, mà không chỉ bác Ôsin buồn, mà văn của bác Hiệu Minh cũng nao nao thế?

  27. huu quan says:

    em hay gặp Osin gần 1 quán cà phê sách bên bờ kênh Nhiêu Lộc. Chỉ cười, ít nói. Hy vong mai mốt gặp cả cụ Tổng và Osin ở Sài Gòn. để cho em được hầu chuyện đôi chút.

  28. Vinh Nga says:

    khg ngờ được tem #1

%d bloggers like this: