Kết bạn hay biến thành thù?

Vương Nghị -  Phạm Bình Minh và John Kerry

Vương Nghị – Phạm Bình Minh và John Kerry

Nhớ chuyện ngụ ngôn về hai người hàng xóm. Một nhà nuôi cừu, nhà kia đi săn nên có đàn chó rất hung dữ. Đàn chó hay sang cắn cừu nhà hàng xóm. Ông chủ đàn cừu vài lần khuyên bảo nhưng tay thợ săn bỏ ngoài tai.

Cuối cùng ông chăn cừu đi thưa kiện. Viên quan này nói, ta có thể phạt tay thợ săn, bắt nhốt chó lại. Nhưng hỏi thật anh, anh muốn kẻ thù là hàng xóm hay anh muốn có bạn là láng giềng gần.

Suy nghĩ một hồi, ông chăn cừu thổ lộ muốn có bạn là hàng xóm hơn là kẻ thù. OK, anh về lấy một con cừu tặng lũ con nhà thợ săn. Bọn trẻ thấy có cừu, rất vui, suốt ngày vuốt ve và chơi với chú cừu rất hiền. Tay thợ săn sợ chó cắn cừu của con nên đã nhốt chó lại.

Cảm kích trước tấm lòng hào hiệp, tay thợ săn trở nên tốt bụng, thỉnh thoảng kiếm được con thú nào, y mang biếu ông chăn cừu. Từ đó hai gia đình “cừu và chó săn” thành bạn thân thiết.

Xem hai bức ảnh Ngoại trưởng John Kerry và BT Phạm Bình Minh cười rất tươi trong cuộc gặp ở Myanmar trong hội nghị ASEAN. Trong khi đó, BT Phạm Bình Minh mặt rất nghiêm với “đôi mắt mang hình viên đạn” không nở một nụ cười khi bắt tay người đồng nhiệm Trung Quốc là BT Vương Nghị.

Đó là kết quả giải pháp gia đình “cừu và chó săn” giải quyết khác nhau với cách tiếp cận khác nhau nên đưa đến nụ cười hoặc mặt lạnh tanh.

Hai quốc gia Mỹ Việt từng đánh nhau suốt 20 năm, máu chảy thành sông. Từ 3 đến 5 triệu người  Việt chết, dân tộc ly tán và chia rẽ dù đã gần 40 năm hòa bình. Nước Mỹ có hội chứng Việt Nam với gần 60 ngàn lính Mỹ tử trận.

Nhưng có lẽ họ học được bài của người chăn cừu và thợ săn. Một bên phải cố gắng thay đổi thể chế để hợp với thời đại văn minh, bên kia bỏ qua hận thù quá khứ để tiến đến mục đích chung, hai bên cùng có lợi. Biển Đông, TPP và nhiều giá trị Mỹ – Việt có thể trao đổi để biến thành đồng minh.

Để làm được việc đó, một bên phải mất cừu, một bên phải giam đàn chó. Có quà cáp thì nên biếu lẫn nhau, tình nghĩa sẽ bền lâu.

Trung Quốc và VN từng là bạn, tặng nhau 16 chữ vàng, 4 tốt. Năm xưa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký một văn bản thừa nhận Hoàng Sa của Trung Quốc vì lúc đó Việt Nam tin hoàn toàn vào người anh em cùng ý thức hệ cộng sản. Chả lẽ anh lại ăn cướp của em.

Xung đột biên giới, hải đảo đã xảy ra, máu đã chảy. Nhưng lãnh đạo hai nước cố giải quyết, kiểu 9 bỏ làm 10. Tuy nhiên, ông chăn cừu đã tặng quà cho con hàng xóm, nhưng tay thợ săn tham lam, vẫn xua chó cắn đàn cừu.

Vẽ đường chín đoạn, đưa tầu thuyền quấy nhiễu, và gần đây là đưa giàn khoan vào biển Đông, Trung Quốc lộ rõ là quốc gia tham lam, không phải trỗi dậy trong hòa bình như họ thường nói. 16 chữ vàng, 4 tốt chỉ là vỏ bọc cho chiến lược xâm lược biển lâu dài.

Tham bát bỏ mâm hại nhiều hơn lợi. Kết quả nhãn tiền, Trung Quốc mất hẳn người bạn bên cạnh cùng ý thức hệ và rất nhiều quốc gia xung quanh. Thay vì nhốt chó để không cắn cừu, họ rước thêm đàn chó sói, đe dọa hàng xóm.

Ukraine, Nga, Israel, Palestine, Iraq, Syria và bao nhiêu xung đột khác cũng thế. Nếu các chính khách học hai ông thợ săn và chăn cừu, làm thế nào biến thù thành bạn, có lẽ mọi chuyện đã khác.

Để làm được chuyện đó, đôi khi cái giá chỉ là con cừu và nhốt chó.

HM. 12-8-2014

Advertisements

80 Responses to Kết bạn hay biến thành thù?

  1. honda says:

    Ngày 22/5/ 2012, ngày phó chủ tịch nước Tập Cận Bình kết thúc hai ngày thăm VN với đủ lệ bộ đón rước rinh rang bằng những lá cờ 5 ngôi sao con, 1 ngôi sao lớn trong tình đ/c, tình anh em cho tới ngày hôm nay mới chòm chèm 2 năm 3 tháng. Trong khoảng thời gian này TC ngang nhiên xua đuổi, bắt giữ tầu cá của ngư dân VN, rồi đến vụ giàn khoan HD981 xâm phạm chủ quyền thì tình hình bỗng diễn biến cực nhanh. Như một bước nhẩy, TC bỗng chốc trở thành kẻ đi xâm lược và là kẻ thù của phần lớn người dân VN. Lạ lùng là tình hình không làm sao đảo ngược được nữa đã làm cho phái bảo thủ thân cộng ở VN luống cuống. TC thì bất ngờ. Tình hình biển Đông bỗng chốc sống động như có một phép lạ. Nhật Bản của chính phủ Abe bỗng vươn mình lên án và thách thức sự xâm lược VN của TC và giang tay giúp đỡ VN. Mỹ như chỉ chờ có thế mà lên án và ngăn chặn TC bành trướng ở Biển Đông và hứa dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương vào tháng 9/2014. Khối Asian thì đoàn kết và lên án TC xâm lược.

    Những người yêu nước VN chỉ hai năm về trước thì có ai mơ cũng không thể tin một ngày VN có được như hôm nay, ngày mà TC bị cả thế giới lên án về các hành vi kẻ cướp ở Biển Đông. Nhớ ngày nào người dân Thủ Đô, Sài Gòn rủ nhau đi biểu tình chống TQ xâm lược thì bị nhà cầm quyền ngăn cản, đánh đập, bắt lên bắt xuống, còn thế giới chả ai biêt là dân Việt đang làm gì…? Thế mà hôm nay cả thế giới chống TC, còn dân Việt thì đã nhìn thấy kẻ thù ở trước mặt và bạn hữu cũng ở bên!

    • honda says:

      Chắc sẽ có câu hỏi: Ai tạo nên tình thế này? Tự nhiên VN có được hay trời ban cho? Xin chịu, mà chỉ biêt nó như thế mà thôi. Xin các vị cao minh trong HC chỉ giáo!

    • Dân gian says:

      http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/133287/thu-chu-tich-ho-chi-minh-gui-tong-thong-truman.html

      Đọc bài này bác sẽ hiểu phần nào. Ông Hồ đã định đi theo Mỹ. Nhưng rồi ông lại theo Tàu cộng. Đến giờ BCT thấy rằng lại phải theo Mỹ và theo Mỹ là đúng. Đó là lẽ tự nhiên thôi, không làm sẽ chết.

      • honda says:

        Cám ơn bác Dân gian! Đọc 8 bức thư CT Hồ Chí Minh gửi TT Harry Truman vào năm 1944 -45 đã thấy được nhiều điều. Rõ ràng nhất là đoạn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

        “An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các cường quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực Công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định trong sự ủng hộ nền độc lập của chúng tôi.

        Điều mà chúng tôi đề nghị đã được trao cho Philippines một cách quý báu. Cũng như Philippines, mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Mỹ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”.

        Thế thì giàn khoan HD981 thành một cái bẫy rồi còn gì. Ai dựng nên cái bẫy này? Chả lẽ là đ/c X! Nếu vậy thì giỏi quá, bái phục! Wang xuây! Hảo hảo!

        • D.N.L. says:

          Bác nghĩ là ông HCM.thật lòng hay sao ?
          Tôi cho đó là thủ đoạn thượng thừa của một chính trị gia
          khôn khéo đến xảo quyệt theo khuôn mẫu mà Machiaveli
          từng mơ ước ! Có thể sánh ngang Tào Tháo.
          Nhưng làm sao qua mặt Mỹ được vì đại sứ Mỹ ở Pháp đã
          “nắm được” hành tung và chân tướng CS.của HCM.

        • honda says:

          Tôi nghĩ là trong thâm tâm ông Hồ là có thiện trí này, vì có phải như vậy là nguyên nhân ông Hồ và ông Giáp bị phe phái Lê Duẩn cô lập do ‘ tư tưởng’ hữu khuynh hay không trong công cuộc giải phóng MN. Các phe đối lập với ông sẽ đào bới các ‘ hành vi’ thân Mỹ này mà hạ bệ ông vì nguyên tắc của đảng là tối thượng, kể cả lãnh tụ cũng không được đụng vào! Căn cứ vào những lý trên mà tôi tin rằng ‘ thiên trí’ với Mỹ là thật của ông Hồ.

  2. CD@3n says:

    – có mấy loại cán bộ hưởng lương từ ngân sách nhà nước ( không kể QĐ, CA) , mời xem :

    “1.Cán bộ công tác ở các cơ quan Đảng, được hưởng phụ cấp công tác Đảng, khoảng trên 50 % lương chính thức cùng với những chế độ khác.

    2.Cán bộ cở các cơ quan hành chánh Nhà nước được hưởng khoảng 30% phụ cấp so với mức lương cơ quan, cùng với các chế độ khác;

    3.Cán bộ nhà nước ở các cơ quan hành chính sự nghiệp, trong đó gồm những người làm việc tại các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học hàng đầu của đất nước với nhiều tri thức, nhiều nhà khoa học tiêu biểu…lại được xếp vào loại viên chức sự nghiệp, và không có một chút phụ cấp nào ngoài lương .

    Cùng một hệ số như nhau. Tại các cơ quan Đảng và cơ quan hành chính nhà nước thì được nhận số tiền từ bảng lương gấp rưỡi, hoặc gấp đôi những nhà khoa học, trí thức , văn nghệ sĩ tại cơ quan sự nghiệp. Câu hỏi đặt ra là tại sao lại có chuyện như vậy ?” ( hết trích- nguồn blog QC)
    —————————————
    no need more comment !

    • NôngDân says:

      + Nói về LƯƠNG à; thực tế hiện nay là thế này cơ:
      + Các nguồn thu cho ngân sách bao gồm: Thuế; Lệ phí; Phát hành tiền; Đi vay nước ngoài; Nhận viện trợ; Đóng góp tự nguyện; Bán tài sản công….
      + Nhưng riêng trả lương lấy trực tiếp từ ngân sách để chi cho khoảng 20 triệu người (trong đó gần một nửa là vô tích sự), mỗi người khoảng 4 triệu tháng. Tạm tính làm tròn (20triệu người) x ( 4 triệuVNĐ/Tháng) x 12 tháng = 960 ngàn tỷ VNĐ.
      + Nhưng kinh tế đình đốn, nguồn thu từ THUẾ đang tiệm cận dần về 0. PHÁT HÀNH thêm để pha loãng đồng tiền, là bần cùng hóa người dân, hậu quả chưa tính hết được. ĐI VAY, hay mong VIỆN TRỢ là “há miệng chờ Sung”; Các loại Phí đã cao ngất ngưởng, dân còn gì để tự nguyện. Bán tài sản công thông qua cái gọi là “cổ phần hóa” thì còn phải đợi các doanh nghiệp nước ngoài có “lòng tin chiến lược” nhá!!!.
      + Tóm lại: Nếu vẫn kiên định “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, thì kinh tế Việt Nam phải sụp đổ là điều không tránh khỏi. Để thoát ra khỏi tình trạng hiện nay, chỉ còn hai cách, Một là: Cắt toàn bộ lương của lũ vô tích sự, đó là lũ đảng, đoàn hay các tổ chức chân rết của nó. Chúng muốn hộ hè, bè đảng thì tự đóng góp mà nuôi nhau, mà chém gió…. Hai là: Theo cam kết “Thành Đô”, phấn đấu là thành viên của đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Khi đó “chính quyền trung ương” sẽ rót cho KHU TỰ TRỊ vài trăm tỷ USD, chỉ là truyện nhỏ!!!.
      + Thế nên mới khuyên ai đó phải bạch hóa toàn bộ ra, chứ cứ cúi đầu để chúng “PHÂN CÔNG” thì quá nguy hiểm!!!.

      • D.N.L. says:

        Tôi chịu ý kiến của bác vì tính thực tế và sự cụ thể trong đó mà
        không ai bác bỏ được,trừ ra họ muốn…cãi chầy cãi cối.
        Nói thẳng là bộ phận phi sản xuất có con số ngang với bộ phận
        hành chánh thì đã ngốn một số tiền khổng lồ như bác tính.Khổ
        nỗi là loại phi sản xuất này gồm các quan nào của đảng,nào của
        đoàn,nào của những hội chỉ làm cái việc đánh bóng,ca tụng,hô
        khẩu hiệu để tuyên truyền một cách vô lối và thiếu thực chất !
        Chính xác mà nói thì một đảng chính trị không phải là đảng cướp,
        được tổ chức theo kiểu hội kín như thế mà là đảng đó phài tự gây
        quỹ để đảng có thể vận hành hay hoạt động độc lập,chứ không có
        thể ăn bám vào ngân sách do người dân đóng thuế rồi quay lại áp
        bức và trừng phạt người dân như hiện nay.

  3. Dân gian says:

    Đảng cầm quyền nếu tiếp tục mang tên CS thì phải tiếp tục làm bạn vàng với ĐCSTQ. Cụ Nghị đi Mỹ có tiếp xúc với các đại diện của các đảng tham chính ở Mỹ và chắc không chỉ để chào nhau suông. Phải tham khảo, học hỏi cái gì chứ.

    Nếu đảng cầm quyền đổi tên đảng không còn là CS nữa thì ĐCSTQ mặc nhiên không còn là bạn vàng nữa mà trở nên bình đẳng như các đảng tham chính ở các nước khác. Như vậy đảng cầm quyền sẽ rút chân ra khỏi vũng lầy lệ thuộc Trung cộng một cách nhẹ nhàng nhất mà vẫn giữ nguyên quyền lãnh đạo.

    Hơn nữa nếu từ bỏ tính bảo thủ và dũng cảm nhận sai lầm thì đảng cầm quyền đương nhiên nhận ra con đường XHCN thật viển vông, không có tương lai.

    Vậy mong rằng ĐH 12 tới đảng cầm quyền hãy thay đổi nền tảng lý luận, đồng thời đổi tên đảng. Làm như vậy thì nhân dân ngưỡng mộ vì đảng đã giác ngộ, trở về với Dân tộc, Thế giới kính nể và kẻ thù run sợ. Còn gì hay hơn?

  4. gà tây says:

    Ngọt ngào khôn khéo kín kẽ giống như đường hóa học thế nhưng rất nhiều người sẵn lòng rơi vào cạm bẫy : đó là lựa chọn của họ xuất phát từ bản chất hảo ngọt của … ruồi hihi.
    Hiểu biết rộng nhưng dùng tri thức có được để dẫm đạp lên người khác thì trí ấy bị nghẽn mà nhân ấy còn kém : đi soi chân người khác mà không rọi được vào tâm chính mình.
    Kể cũng chẳng nên tiếc.
    Gà tây tôi vốn mắt quáng chẳng trông được xa cánh ngắn chẳng để bay chỉ tạo chút gió tự làm mát thân xác nặng nề chẳng thể lăng ba vi bộ mà lăng xăng tránh đạn hơi đạn chì tứ phía.
    Vậy nên mù mờ bạn thù khó phân đành tự an ủi: không có bạn cũng hơi buồn nhưng quyết không theo đóm ăn tàn hay bám voi chia mía.
    Tuy rằng vẫn nghe phán cần tôn trọng sự khác biệt trong chính kiến chủ kiến nhưng nhìn bác Bồ Câu sống lâu lão làng vẫn bị đánh cho tơi tả đầu cánh mà hãi : chỉ khác nhau tiếng gáy trong hang mà muốn tuyệt tình mọi nhẽ thế kia.
    Chữ nghĩa mà biến thành ám khí tất thảy hẳn bác ấy mình mẩy lỗ chỗ chẳng khác tranh thêu là bao hic hic.
    Cố gắng hết mức vẫn không hình dung ra bác ấy lại là kẻ thù của những ai đấy trong hang này huhuhuhu.

  5. Anh Kiệt says:

    Ok. Anh em thì đúng là anh em rồi, nhưng VN có chuyện ông anh cây khế, vậy nhưng một số bác cao cao thời đi học đã bùng tiết không chịu họ giờ văn này, nên không biết rằng ông anh chia tài sản, nếu đứng trước tên vật gọi là cái thì thuộc về ông anh, nếu là đực thuộc về em, vậy có bao nhiêu tài sản anh chiếm hết, em chỉ kịp thốt lên đực rựa, vậy nên có con dao bổ củi.
    Rừng, biển, ông anh chiếm hết, cho em giữ cái tên nước xuông.

  6. CD@3n says:

    – cũng là chuyện “ban, thù”, hội nghị ngoại giao đa phương, ô.TT Nguyện chí Vịnh ( ngoại dao cuốc phòng) phát biểu :

    “… Nước nào cũng theo lợi ích quốc gia, nhưng khi tham gia các diễn đàn đa phương, các nước phải đồng thời quan tâm đến cả lợi ích chính đáng theo luật quốc tế của các quốc gia khác nữa. “Anh không thể chỉ vì lợi ích của mình mà muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói. Anh phải quan tâm đến [người khác] thì người ta mới nghe, thì người ta mới thấy sự tham gia của anh là có ích cho sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới”.

    Như vậy có thể thấy, dù chưa giải quyết được mọi vấn đề, chủ nghĩa đa phương vẫn “hay” hơn chủ nghĩa “đơn phương” rất nhiều. Cơ chế đa phương và tập thể giúp đảm bảo dân chủ thế giới và ngăn ngừa tình trạng một nước nào đó cố tình áp đặt ý chí của riêng mình lên một hoặc nhiều nước khác.” ( hết trích).
    —————————
    – thưa ngài TT, chỉ xin được hỏi ngài, thế còn “song phương” thì sao a?! vì trước đây, ngài rất hay dùng “đa or song phương”, có lẽ, first time ngài dùng “đơn phương”, và trong những thông tin chính thức đăng tải trên báo đài TV, tiếp đón và hội đàm với ô. Đại tướng Mĩ, chưa thấy ngài xuất hiện…?!

  7. VINH PHÚ THỌ- SG says:

    Về nước Đại Ngu có sách ghi thế này :
    Trích : Quý Ly là giòng dõi người Triết Giang bên Tàu. Tổ là Hồ Hưng Dật, từ đòi Ngũ Quý sang ở nước ta, làng Đào Bột , huyện Quỳnh Lưu. Sau ông tổ tứ đại là Hô Liêm ra đời ở
    Thanh Hóa, làm con nuôi nhà Lê Huấn, cho nên mới đổi là họ Lê……..Nguyên họ Hồ là giòng dõi nhà Ngu bên Tàu cho nên Quí Ly (lên làm vua ) đặt quốc hiệu là Đại Ngu. ( Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim).
    Như thế thì Hồ Quí Ly là Việt người gốc Hoa ít nhất 4 đời. Khi lên làm vua ở phương Nam vẫn không chịu thần phục Trung Hoa nên bị bọn phong kiến phương Bắc truy đuổi và tận diệt.
    Xem thế thì biết bọn Đại Hán tàn độc đến thế nào, dòng dõi , máu mủ của chúng mà chúng còn không tha nữa là chúng ta. Ai đó còn u mê hãy nghĩ lại kẽo muộn,

    • D.N.L. says:

      Nhưng cũng có tài liệu cho là “Ngu” được nói trại từ “Nghiêu”(một biến thể
      của “Nghiêu”)tức là HQL.cố ý hay tham vọng đem cả nước đi theo mô hình
      thời hoàng kim “Nghiêu Thuấn” ?

  8. gà tây says:

    Vẫn có những kẻ tự cho mình cái quyền nhúng mũi vào việc của người khác bất chấp nhân quyền tự do bình đẳng bác ái. Trong đời thực và trong cõi ảo nơi đây.
    Tôi không hiểu họ nhân danh ai và ai tự thấy đủ năng lực quyền hạn ấn định bao biện cho họ hành vi xúc phạm người khác như vậy.
    Sự im lặng lịch thiệp của người bị xúc phạm và sự im lặng đồng lõa với những kẻ lộng giả thành chân , dẫu sao , hoàn toàn chẳng phải tương đồng, nếu không nói là tuyệt đối dị biệt.

  9. CD@3n says:

    – Đẩy mạnh chống tham nhũng, học tập và làm theo…kê khai tài sản quan chức, xử lý quyết liệt, vân vân và vân vân….
    xin mời xem tóm lược :

    thứ nhất : Giám đốc sở TN&MT mất 1,6 tỷ
    vào ngày 10/8/14, Ông Đào anh Kiệt khai báo, tài sản mất hơn 1,6 tỷ đồng, gồm 1 tỷ đồng và hơn 30.000 USD. Ông Kiệt cho biết đây là số tiền do ông tích cóp được trong suốt 37 năm làm việc tại sở TM&MT (…)Vụ mất trộm xảy ra tại ngay chính trụ sở sở TN&MT trên đường Lý Tự Trọng (phường Bến Nghé, Q.1).

    thứ 2 : Giám đốc Sở GTVT Bắc Kạn bị trộm 1,2 tỷ
    3 tên “trộm” đôt nhập nhà Giám đốc Sở GTVT Bắc Kạn và bà Dương Thị Hạnh – Cán bộ Tỉnh uỷ tỉnh Bắc Kạn vào ngày 7/5. tài sản bị mất gồm 5 cây vàng SJC, 40.000 USD, 1ắc tay, 2 nhẫn cưới, 3 xe máy và 3 chiếc điện thoại di động cá nhân. Tổng giá trị tài sản khoảng 1,2 tỷ đồng.

    thứ 3 : Giám đốc sở Tài chính Kon Tum bị ‘khoắng’ 65 lượng vàng
    nhà giám đốc sở Tài chính tỉnh Kon Tum Đặng Xuân Thọ tại TP.Pleiku, Gia Lai và vợ là bà Trần thị Xuân Lan, trưởng phòng Tổ Chức cục thuế tình Gia Laiđã bị trộm đột nhập, cuỗm đi 65 lượng vàng (gần 2,8 tỷ đồng) vụ trộm diễn ra khi “cặp đôi hoàn hảo : Tài chính-Thuế” đang vi vu mây gió xa nhà ! 4 tên “lưu manh trộm cắp’ này đã bị tuyên phạt thích đáng : tồng cộng 72 năm bóc lịch !

    thứ 4 : Hơn 2 tỷ trong nhà cán bộ tỉnh “bay hơi”
    Đêm 25/6/2013, tụi “lưu manh” lại viếng nhà riêng bà Trần Thị Anh Đào (cán bộ văn phòng UBND tỉnh Nghệ An) cùng chồng là CSGT của Công an tỉnh Nghệ An vừa nghỉ hưu xảy ra vụ mất trộm tài sản số lượng lớn. tài sản “bay hơi” là 60 triệu đồng và 57 lượng vàng (tổng tài sản hơn 2 tỷ đồng), do 2 vợ chồng học tập làm theo …”chắt chiu để dành” !!!

    thứ 5 : Nhà cán bộ thuế mất hơn 6 tỷ
    Vụ trộm xảy ra tại nhà ông Trương Công Chiến (SN 1960, ngụ xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, TP.HCM) vào ngày 5/12/2011.Ông Chiến là Đội trưởng đội Đăng ký trước bạ thuộc Chi cục Thuế quận Bình Tân, TP.HCM ( chuyên trị sổ đỏ). bọn “trộm lưu manh” đã cậy két sắt lấy đi 12 sổ tiết kiệm trị giá 5 tỷ đồng, 6.000 USD, 10 lượng vàng SJC, một bộ nữ trang trị giá 10 lượng vàng 24k, 2 bông tai hột xoàn, một nhẫn kim cương. Tổng tài sản bị mất hơn 6 tỷ đồng.
    Đây là vụ mất trộm tại nhà quan chức lớn nhất từ trước đến nay.(?)!
    ……
    thứ n : ( hãy đợi đấy) !!!
    ————————————–
    – “chống” tham nhũng…càng “chống” tham nhũng càng “lên cao” cao cao mãi !
    – đây mới chỉ là ruồi, hay nhặng, chưa phải hổ báo gì đâu, như mấy người “tồng chí” cùng ý thức hệ đang thè lưỡi “bò’ liếm từ từ chân tới đầu, khắp toàn thân của đức con “hoang đàng”…!
    – bọn lưu manh đã trộm cắp nhà ‘công bộc” này mới chỉ là hạng lưu manh đen, chưa đến mức ĐỎ….Red Line = all of safe ( Đỏ là ngưởng của An toàn)!

  10. HỒ THƠM1 says:

    LẠC ĐỀ nhưng không LẠC ĐIỆU

    Mời các cụ nghiên cứu “tri thức” của Trí Thức Trẻ of thiên đường XHCN của ta đây http://www.tinhay.vn/gai-mien-tay-va-3-chu-n-noi-danh-thien-ha-d453362.th .
    ( Bài trên Báo điện tử “Trí thức trẻ” đã tự “chùi” rồi. “Bịt mặt”, không để tên tác giả nhưng sếp Nguyễn Xuân Thông phải chịu trách nhiệm về bài báo vừa ngu xuẩn vừa mất dạy này chứ??? Ôi, “trí thức” trẻ của ta! Vinh quang thay!)

    Và đây…một cụ cán bộ nguồn của “ta” đã tự nguyện đi ‘tù khổ sai’, ở nhà tên … Sen đầm giãy chết Hoa Kỳ:
    Cán bộ Việt Nam trốn ở lại Mỹ? (BBC).

    Chịu hết xiết!

    • PVNhân says:

      Mạt vận nên nẩy sinh những chuyện như thế. Mảnh đất không chốn dung thân cho người lương thiện…

    • NôngDân says:

      + “Trí thức trẻ” đăng bài này à?. Trí thức gì chúng nó, từ đứa viết bài đến thằng Tổng biên tập cho đăng bài này, phải nói mặt chúng như ba cài “Lồn” mới đúng

      • HỒ THƠM1 says:

        Lão NôngDân lại nói… tục ngữ nữa rồi !

        Đây là vấn đề nghiêm túc, cần phải chỉ rõ để mọi người thấy đâu là LƯU MANH giả danh TRÍ THỨC, làm ô uế mỹ từ Trí Thức.
        Không biết ông Nguyễn Xuân Thông này học lớp mấy, đứng đầu cái Hội Trí Thức Khoa học&Công nghệ trẻ Việt Nam ( nghe danh xưng ghê gớm nhỉ!!!), mà lại cho đăng một bài viết hoàn toàn vô học như thế!!!???

        Lâu nay nghe Bác Mao mắng rằng ” Trí thức là cục phân!”, tưởng bác Mao vô học thô lỗ nói xằng, bây giờ mới biết “Cục phân” nằm ở báo Trí Thức Trẻ!

        Bác Mao vạn tuế !

        • Người bắt cua says:

          Bác NôngDân rõ là quê 1 cục. Một cái đáng giá ngàn vàng là giá ảo, giá giao dịch thì bằng mấy tấn chục thóc ấy chứ, mà 3 cái của bác thì …đắt quá.

  11. VINH PHÚ THỌ- SG says:

    Bác HM và các còm sĩ rất giỏi lý luận, tôi đọc xong cảm thấy hoa cả mắt , ù cả tai. Tôi ít lí luận chỉ xin đưa ra một ĐỊNH ĐỀ thôi, đó là : ” Đối với những người Việt Nam yêu nước thì bọn bành trướng – bá quyền- xâm lược Bắc Kinh, từ trước và mãi mãi về sau , vẫn là kẽ thù của Dân Tộc Việt nam “.

  12. CD@3n says:

    – góp với entry này, mời xem, CSGT, XH đen, hay “cò môi”, hay là cái “chi chi” :

    “Tìm một vị trí cạnh trạm thu phí IC14 (Km 149+705 đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai), nhóm PV quyết định đặt máy quay ghi nhận và quan sát các xe tải hạng nặng hoạt động cùng những biểu hiện tiêu cực của ba CSGT đang đứng chốt cách đó chừng 100m. Chỉ trong khoảng 30 phút đầu tiên, chúng tôi đã ghi nhận được hơn 20 xe “siêu tải” mang BKS của nhiều tỉnh, thành khác nhau từ tỉnh lộ 166 qua trạm thu phí IC14 để lên cao tốc Nội Bài – Lào Cai và hướng ngược lại như: 24C-030.21, 24C-033.84, 24C-033.73, 24C-020.79, 98C-018.19, 98C-042.04, 89K-7928, 98C-042.04… Các xe này đều chở quặng, đá và vật liệu xây dựng chất đầy thành thùng.

    Theo quan sát và hình ảnh camera ghi lại được, hầu hết các xe tải khi lưu thông qua đây đều được ba CSGT dùng đèn “rọi” chuyên dụng ra tín hiệu dừng vào mép đường. Sau đó các tài xế hộc tốc rời khỏi cabin chạy về hướng chiếc xe tải chuyên dụng của CSGT mang BKS 21C-2025 đang dừng đỗ để xếp hàng chờ đến lượt đưa “giấy tờ” cho một CSGT khác đang ngồi đợi sẵn trong xe. Cả một dàn xe tải được “vẫy” lại nối thành hàng dài nhưng không hề được CSGT ngó ngàng tới. Thay vào đó là cảnh tượng giấy tờ” siêu nhanh giữa các tài xế và CSGT. Thậm chí có những cuộc trao đổi giữa đôi bên được chúng tôi ghi lại diễn ra trong thời gian chưa đầy năm giây…” ( hết trích, nguồn GTVT online 14/8/14).
    ———————————————————
    – cảm ơn báo GTVT và PV đã “cực kỳ dũng cảm”, viết về 1 sự thật “thường ngày ở khắp đất nước”, xin bảo trọng, vì tấm gương của một số PV và tờ báo khác đã “dính chưởng” trong chuyện này !
    – thật đáng làm gương, nhưng thật đáng thương, bt ĐLT, mới có thêm nickname Đinh ky sốt, tả xung hữu đột xung trận với cối xay gió (WindWill) “lỗi cơ chế”, ù ù vận hành hết tốc lực vô cảm bởi động lực “bão tiền- storm of money”…dân đen tán thường bt ĐLT, nhưng đó cũng là tín hiệu cho 1 cái chết “là cái chắc” – với bất kỳ ai- khi muốn tấn công vào tiêu cực…, và nụ cười 1/2 đầy ẩn ý của các “tư lệnh ngành khác” đã và đang ung dung trong salon máy lạnh, như ngài CĐP bộ NNPTNT, ngài VHH bộ CT, bà KT bô sức khỏe, và nhiều ông bà trong tổ chim “cao cao” ở 3 Đình…!!! ( bt ĐLT thì không lo, vì sẽ về làm chủ tịch Xã , hoặc chơi ghi ta solo ở các sàn ca nhạc, hoặc chuyển sang VFF đang rệu rã …).

  13. NGUYỄN VĂN says:

    Tách bạch rõ bạn thù
    hoá ra là rất khó
    là bạn đảng ta đó
    nhưng là thù của dân
    mọi thứ cứ lộn sòng
    như dòng đời đen bạc

  14. Nguyen Van Cuong says:

    Càng đọc càng thấy buồn cho cái thực tại của nước mình hiện nay!
    Để tránh huyết áp tăng,đành tự an ủi thôi thì :
    ” Non nước thì vĩnh cửu, còn chính quyền thì hạn hữu!”

  15. Oregonian says:

    Trong hôn nhân (Việt/mỹ)

    Điều hãnh diện nhất của nàng là đã lấy đuợc một anh chàng điển trai, có NỤ CUỜI thật trong sáng và tự tin rằng nguời ấy đã thuộc về mình.

    Và….

    Nỗi khổ tâm lớn nhất của nàng sau hôn nhân là anh chàng điển trai có NỤ CUỜI thật trong sáng ấy sē luôn là điều lo lắng và gây phiền muộn, lo lắng cho nàng mỗi ngày trong cuộc sống của nàng.

  16. ailao says:

    Tại sao các vị lãnh tụ VN biết thừa chế độ dân chủ hơn hẳn chế độ cộng sản mà lại cứ khó khăn hóa phức tạp hóa những vấn đề vốn rất đơn giản thế nhỉ. Các lãnh tụ cứ nói một câu rằng thì là từ nay nước tao là nước dân chủ và thực sự đã trở thành một nước dân chủ dân sự. Thế là xong, sợ gì bố con thằng nào, mà có sợ thì đã có bọn dân chủ toàn thế giới nó giúp. Nước 1000000 voi tui tuy bé nhưng vẫn dân chủ chẳng sợ thằng nào.

  17. Trần says:

    Qua một hai bức hinh mà đã có nhiều cách nhìn nhận trực quan và tư duy đa chiều. Thế mới thấy hay. Bổ ích lắm!

  18. Dân gian says:

    Cách đây một năm khi tiếp Vương Nghị cụ Tổng còn cười như hoa loa kèn nở, còn lão Vương Nghị lại rất nghiêm! https://www.youtube.com/watch?v=cbU8eMSRZw8

  19. Oregonian says:

    Em thì không dám lạm bàn đến thế thái nhân tình (chính trị), vì đơn giản là sự biến hóa khôn luờng của nó. Các bác cũng thấy nguời đấy, việc đấy hôm qua nó thế này, hôm nay nó thế kia là sự thuờng. Sự việc nhiều khi thấy đấy mà lhông phải đấy, có khác nào những con cờ trên bàn đi từng buớc một mà có thể thay đổi đuợc cục diện sáng/tối tạm thời theo từng giai đoạn.

    Ngụ ngôn thì có nhiều vô số để kể. Phúc âm của Chúa thì có trên từng trang giấy, mà ngụ ngôn nào cũng soi thủng từng vấn đề gai góc. Phật cũng đâu có kém cạnh. Một rừng ngụ ngôn nhiều như lá rụng mùa thu.

    Thử hỏi nhỏ các bác là hạng dân ngu cu đen như em còn hiểu đuợc ý nghĩa của “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” mà không lẽ các bác chăn dắt dân đen lại không hiểu đuợc.

    Thôi chết em mất rồi, vì em mới nhớ lại các bác ý vẫn vỗ ngực là đầy tớ của nhân dân thôi. Mà đã là đầy tớ thì trên thế gian này kiếm đâu ra loại đầy tớ…………bảo ăn lành khiến cho chủ nó nhờ ở thời đại này.

    Hihihihihi

  20. an says:

    Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”, chứ không có nghĩa là “ngu si” (愚癡).

  21. Luong Thien says:

    Gần đây chính trường sôi động, nhưng đâu ai biết nội tình ra sao mà chỉ dự đoán qua những động thái từ các cuộc ngoại giao của các bên. Không có thông tin nên dự đoán cũng chỉ như đoán mò. Nhưng chính những dự đoán đó nói lên ý nguyện của người dân. Hơn nữa, người dân mòn mõi chờ đợi đổi thay mãi chẳng thấy, mà hành động thì chưa có một được một anh hùng xuất chúng phất cờ. Nên đoán và đoán cho tăng thêm niềm hy vọng đổi thay!

  22. NôngDân says:

    + Quá nguy hiểm, người đứng đầu cái đảng CS Việt Nam đã tuyên bố rồi “Bạn khuyên ta không nên Tây hóa”, thế mà từ trang phục đến cái cà vạt và cách cười cũng như nhau, lại “đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! “….
    + Ở thời điểm đã chia ra “bên ấy”; “bên mình”, thì cả cung Vua và phủ Chúa, nơi nào sẽ thoát ra khỏi cửa tử hiện nay?. Đó là nơi dám vượt lên chính mình, bạch hóa thông tin thực sự, để “dân biết, dân bàn” vì dân đã sẵn sàng “LÀM”.
    + Chứ chỉ với gương mặt, hay nụ cười không giải quyết được vấn đề gì!!!.

  23. levinhhuy says:

    Thế sự lằng nhằng, chính sự càng đa đoan xảo trá, thật giả khó lường.

    Ông Phạm Bình Minh cười với ai, cáu với ai, tôi thật tình không quan tâm cho lắm. Bởi lẽ dù tiếng là Ngoại trưởng, ông cũng chỉ là con rối do đảng giật dây, khóc cười không phải do tự bản thân.

    Đàng sau vẻ cau có với Vương Nghị kia có đảm bảo là sẽ không có những cuộc mật đàm với Trung cộng để thề bồi trung thành lý tưởng Xã hội chủ nghĩa? Cũng như sau khuôn mặt rạng rỡ bên John Kerry nọ, có gì để chế tài ràng buộc đảng và chính phủ Việt Nam tuân thủ những cam kết với phía Mỹ?

    Vận hạn Việt Nam vẫn còn mông lung lắm!

    • D.N.L. says:

      Bác nói thế thì tôi đồng ý đến 99% phần nhưng cũng có 1% phần là mình nên
      cố gắng “lạc quan” một chút như một người sắp chết đuối thấy cái gì nổi trên
      mặt nước cũng phải bám vào trước đã,rồi mới… tính tiếp…sau đó !
      Trân trọng.

    • HOA HONG_SG says:

      Bác Ly nói ko sai nhưng ông PQN mới từ Mỹ về vài hôm mà ông John Mccain lại sang thăm VN liền. Ngoại giao quốc tế, nhất là với Mỹ dân chủ thì phải có cái gì Mỹ mới nhiệt tình nhanh như vậy. Cho nên HH vẫn yêu quý bác Ly và vẫn vote cho còm phản biện của bác DNL 😀

  24. HỒ THƠM1 says:

    THƯ GIÃN

    DÙNG 7 ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG và EMAIL CÓ PASSWORD RIÊNG là không … đàng hoàng

    Cũng may cho bác Lê Công Định, lúc ấy nhiều việc quá nên các anh Công an không “phát hiện”
    được anh đang mang “dụng cụ hiếp dâm” trong người.
    Hài hước thay!
    Kinh hoàng thay!

  25. D.N.L. says:

    Nhìn hình ông PBM.cười thế này,ngài Tổng bí thế nào cũng khệnh khạng lên lớp… rằng
    thì là mà đồng chí đã suy thoái đạo đức khi cười… tình với tên đại diện sen đầm quốc tế
    Mỹ,là kẻ thù ý thức hệ,”thế lực thù địch” của đảng ta có âm mưu “diễn biến hoà bình” !

    • Xôi Thịt says:

      Ngày trước có “nụ cười Võ Thị Thắng” được tán dương mãi, nay xin đặt niềm tin vào “nụ cười Phạm Bình Minh” 🙂

    • Trung còi says:

      Lại đeo hai chiếc cà vạt giống nhau nữa. Cái chi tiết này tui thấy người ta phân tích nhiều lắm ,hay lắm đó :). Nếu mà đứng trên lập trường giai cấp ( he he ) mà phân tích chắc chắn ông PBM suy thoái hơi bị nặng đó …

      • A. Phong says:

        Dzụ nầy gọi là buy one get one free. Muốn chơi với Mỹ thì tôn trọng nhân quyền.

  26. CD@3n says:

    – xin xem ngưởi đứng đâu CP nói gì nhé :
    ….
    Thứ nhất, cần đề xuất những định hướng cả trước mắt và dài hạn cho đối ngoại đa phương của Việt Nam trong thời kỳ mới. Hội nghị cần làm rõ những yêu cầu, nhiệm vụ mới của đối ngoại đa phương, những thuận lợi và thách thức trong triển khai thực hiện. (…)
    Thứ hai, cần phải đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm, cách thức phối hợp liên ngành trong hoạt động đối ngoại nói chung và trong triển khai đối ngoại đa phương. Đây là thời điểm chúng ta cần và hoàn toàn có đủ điều kiện để chuyển mạnh từ tư duy “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”. Tôi mong rằng Hội nghị sẽ thảo luận kỹ về phương thức xử lý hài hòa các mối quan hệ quan trọng, như mối quan hệ giữa lợi ích, quan tâm của Việt Nam với lợi ích, quan tâm chung của khu vực và thế giới; giữa lợi ích song phương với lợi ích đa phương; giữa lợi ích tổng thể với lợi ích của mỗi ngành…Chúng ta cần coi trọng việc đóng góp thiết thực vào xây dựng Tầm nhìn ASEAN sau 2015 và Chương trình nghị sự phát triển sau 2015 của Liên hợp quốc.

    Thứ ba, cần làm rõ những biện pháp để tăng cường thống nhất nhận thức và đồng thuận giữa các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân về tầm quan trọng của đối ngoại đa phương trong hội nhập quốc tế toàn diện phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Thứ tư, Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế cần bàn sâu các biện pháp cụ thể nhằm xây dựng, kiện toàn các cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngoại giao đa phương, phù hợp với chuyển biến của tình hình và đáp ứng nhu cầu mới của đất nước. Đồng thời, cần có biện pháp khuyến khích, tăng cường sự tham gia, đóng góp nhiều hơn của các cơ quan nghiên cứu, các địa phương, doanh nghiệp trong nỗ lực chung này. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công trong triển khai thực hiện chính sách.
    (…)

    Nhân dịp này, thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự hợp tác, hỗ trợ hiệu quả của Liên hợp quốc, WTO, ASEAN, các tổ chức quốc tế, khu vực, các học giả, các nhà nghiên cứu và những người bạn thân thiết của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới cũng như trong nỗ lực triển khai chính sách đối ngoại đa phương của đất nước chúng tôi. ( hết trích, nguồn : phát biểu của TT NTD tại hội nghị đối ngoại đa phương).
    ———————————-
    – các bạn có tin không? có vui không? hình như, mấy năm trước, khi đoàn chuyên gia của Havard khi được TT mời làm việc, có để lại môt tài liệu tư vân khá công phu cho việc cải cách thê chế KT VN…nghe đâu, tài liêu được cất bảo mật rất kỹ…hehe..huhu…vì sao? vì đâu? đố ai biết dám trả nhời !

  27. CD@3n says:

    – hot, hot, very hot :

    “Ngày 12-8, nguồn tin của Tuổi Trẻ cho biết ông Trần Ngọc Phi Long (31 tuổi) trốn sang Mỹ từ đầu tháng 7-2014, đến nay không về lại Việt Nam. Ông Long sau đó viết thư gửi về bằng đường bưu điện cho lãnh đạo sở xin nghỉ việc.
    Ông Long được xác định là cán bộ nguồn, được ưu tiên đưa đi đào tạo ở nước ngoài theo đề án 150 của TP Cần Thơ. Đây là đề án chọn ra 150 người xuất sắc, có triển vọng phát triển trong sự nghiệp, đưa đi tu nghiệp sau đại học với bằng thạc sĩ. Số tiền địa phương bỏ ra đào tạo cho ông Long khoảng 300 triệu đồng.” ( hết trích).
    ——————————-
    – TBT CuaTimes ơi, thế lày thì có bị “truy nã toàn cầu” bởi Interpol hông nhỉ? mà khổ thật, đang ở xứ thiên đường, lại đâm quàng sang xứ “dẫy đành đạch”…suy thoái quá đi thôi, chẳng chịu học tấp và làm theo…nhất là các anh Bá Cảnh, Thanh Nghị, Lê Trương hải Hiếu…và một số “hạt giống đỏ” đang được ươm cấy cho lần thứ 12 đang khởi động và chuẩn bị “tăng tốc”…!!!

  28. CD@3n says:

    – mấy entry liên tiêp,đều có chung bình luận về “bạn, thù”…giữa bộ tam : Tập, VN, Obama. xin bồ sung thêm đê các bạn cùng suy ngẫm, Nước Nhật, từ ngày ABe lên thủ tướng, đã có những chuyển hướng rõ nét, mà một trong những quyết sách đầy thách thức của ô.ABe là vể cải cách kinh tê, Media gọi là Abenomics. Vừa qua, sang thăm Nhật, ô.Vương đình Huệ, trg ban KTTWĐ ( đương nhiên là thân cận của trưởng Đ), đa phát biểu ca ngợi Abenomics., coi đây là bài học và tâm gương cho VN cải cách..Abenomics làm cho tình trạng suy thoái và trì trê của KT Nhật chuyển động, rồi sửa hiến pháp, tăng cường tiềm lực và sự sẵn sàng của quốc phòng…tất cả chỉ đê nhằm Vs ô.Tập bành trướng ở biển hoa đông…lời phát biểu của ô.VĐH có gửi tín hiệu gì chăng ? Những chiếc tầu tuần duyên ( tuy cũ, mà còn tốt chán) của Nhật cho VN, và tới đây, ODA cho quốc phòng ( why not?)…người Nhật sẵn sàng đứng bên cạnh người VN trong thời gian này,…sự kiện nạn đói năm ất dậu 1945…đấy mới đích thực là “gác bỏ quá khư, hướng tới tương lai”, tới VN, không có thương lái Nhật mau rễ cây hồi, mua lá khoai lang, mua râu ngô non…vốn ODA của Nhật tới nay đã vượt qua con số 20 tỉ $, nếu thất thoát, thì đó k phải là lỗi người Nhật, mà đó là tại tính tham lam của “công bộc”..( như 1 bài viết : ô.chủ Nhật trả lương nhân viên VN chưa thật cao, vì đối phó chiêu trò “ăn cắp giờ” làm việc .của người Việt..!)

  29. Hàng Xén says:

    Posted by 113.23.109.248 via http://webwarper.net
    This is added while posting a message to avoid misusing the serviceMàu cờ-Sắc áo.
    Ảnh 1;cùng màu cờ.
    .Ảnh 2;cùng sắc áo. Trang phục của Phạm Bình Minh và Johl Kerry giống nhau đến “kỳ lạ”.Giống nhau đến cả nụ cười.

  30. Quang Huy says:

    Các bác ở đây nhầm hết cả.
    Thợ săn là người tặng ảnh đó, rôi ngày nào cũng rêu rao là kẻ thù, đế quốc. Bác nông dân lại hóa ra anh bạn Mỹ tuy bị rêu rao nhung anh vẫn coi là chuyện ghẻ ngứa ngoài da… vẫn tặng cừu TPP, cừu tuyên bố hỗ trợ biển Đông…
    Hi vọng kết quả tốt đẹp như câu chuyện bác Tổng… Cua chứ không phải chuyện Việt Nam ông bố lột tiền trợ cấp đi học của con mua rượu uống

  31. […] Kết bạn hay biến thành thù? 13/08/2014 […]

  32. Cung Quảng says:

    Bác Hiệu Minh không nói là hai gia đình có nhu cầu tương đương nhau. Ta thử nghĩ về trường hợp này nhé: Anh chăn cừu mang vài chú cừu con sang biếu anh thợ săn. Nhà thợ săn rất đông con. Anh thợ săn là tay thông minh nhìn ngay ra ý định của anh chăn cừu nên nói: “Cám ơn bác nhưng em phải xin cả đàn cừu của bác thì mới đủ cho các cháu chơi chứ vài con thế này lại càng làm bận rộn thêm vì chúng sẽ tranh nhau.” Anh chăn cừu làm gì đây!!!

    Bác viết: “Năm xưa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký một văn bản thừa nhận Hoàng Sa của Trung Quốc vì lúc đó Việt Nam tin hoàn toàn vào người anh em cùng ý thức hệ cộng sản. Chả lẽ anh lại ăn cướp của em.” Bác có gì để chứng minh điều này hay viết theo cảm tính???

  33. Daffodillies says:
    Một bài viết tuyệt vời khác của Bác Hiệu Minh. Vậy thì vấn đề là phải xác định bản chất, phải không ạ. Các cụ nhà mình dạy “Chọn bạn mà chơi”. Người Việt mình cũng nói “Trăm năm mèo vẫn hoàn mèo”. Điều này cũng giống như Frank Billings Kellogg (1856-1937) từng nói “Đừng trông đợi con người sẽ thay đổi bản chất vào một ngày nào đó” (It is not to be expected that human nature will change in a day). (Xin được nói thêm, F. B. Kellogg hội tụ đủ “4 trong 1” bởi trong cuộc đời mình ông vừa là một luật sư, vừa là một chính trị gia [nghị sỹ], vừa là một trong số các Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, lại vừa là đồng tác giả viết Kellogg–Briand Pact – điều đã giúp ông đoạt giải Nobel Peace Prize in 1929). Chỉ xin phép Bác Hiệu Minh được luận bàn thêm một chút, “… Năm xưa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký một văn bản thừa nhận Hoàng Sa của Trung Quốc vì lúc đó…” Điều này chưa hoàn toàn rõ ràng đâu ạ. Vì lý do này, xin phép Bác để một lần nữa được copy and paste sau đây bài viết của GS Tạ Văn Tài – tiến sĩ, luật sư, cộng tác viên và cựu giảng viên ĐH Luật Harvard. Đây thực sự là bài viết ở đỉnh cao tột cùng của sự xuất sắc liên quan đến các vấn đề về HS-TS sau sự kiện HD 981. (Không bao giờ có ý định so sánh các GS, TS ở Việt Nam với bên ngoài nhưng thực sự nếu bác dẫn đường sai có đọc bài này chắc chắn cũng phải mơ bao giờ… cho đến tháng 10 để giáo dục và môi trường Việt Nam sản sinh ra được a real legal professor như thế). CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ KHÍA CẠNH LUẬT PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN Ở VÙNG BIỂN CHUNG QUANH. TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP ĐÃ VÀ CÓ THỂ XẢY RA VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC BẰNG THƯƠNG NGHỊ, HÒA GIẢI HAY TÀI PHÁN Gs Tạ Văn Tài Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả các đá, bãi ngầm – phải nói thế mới đúng về mặt sự kiện thực tại và về mặt pháp luật và mới tôn trọng các quốc gia khác trong vùng) và các quyền chủ quyền (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật dành cho Việt Nam, thì có căn bản chắc chắn trong các chứng cớ sự kiện lịch sử và trong quốc tế công pháp truyền thống và luật quốc tế mới của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea,UNCLOS). Ở đây, chúng tôi chỉ có thể trình bày những điểm chính trong một bài viết ngắn, vì trình bày chi tiết sẽ cần một bài dài hơn. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng đề ra các căn bản vững chắc cho việc xác lập chủ quyền Việt Nam và do đó sẽ tỏ rõ thiện chí của lập trường Việt Nam khi nói đến các đường lối thương nghị, hòa giải và tài phán về chủ quyền quốc gia và khai thác chung quốc tế. 1. Căn bản về sự kiện lịch sử và pháp lý của chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo và của các quyền chủ quyền trong các vùng biển bao quanh chúng 1.1. Sự xác lập chủ quyền lãnh thổ trên từng mẩu đất, đá trong các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Sự xác lập này phải dựa vào quy tắc thủ đắc chủ quyền lãnh thổ của luật quốc tế truyền thống hay thông lệ của 4 thế kỷ qua: một chính quyền của một quốc gia muốn xác lập chủ quyền trên một vùng đất đai thì phải tuyên bố ý định đó, sau khi khám phá hay chiếm hữu đất đai đó, và liên tục quản lý trong hòa bình, và nếu bị một chính quyền khác dùng võ lực chiếm mất, thì phải phản đối để không cho quyền lực mới đó thủ đắc chủ quyền bằng thời hạn tiêu diệt, nghĩa là có một thời gian mà chủ thể quyền lực mới thi hành chủ quyền liên tục mà không ai phản đối. Mỗi một quốc gia yêu sách chủ quyền đối với một mẩu đất trong hai quần đảo nói ở đây (xin lưu ý chúng tôi dùng chữ “mẩu đất” vì hầu hết, nếu không phải tất cả, các mẩu đất chỉ là đá (reef, rock), chứ không phải là đảo (island), theo định nghĩa của UNCLOS), thì phải trưng ra chứng cứ đã khám phá và chiếm ngụ mẩu đất đó hợp pháp, trong hòa bình. (Vì thế mà Hoa Kỳ luôn nói, rất hữu lý, là không thiên về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, và chỉ khuyến cáo tranh chấp phải giải quyết trong hòa bình, theo luật quốc tế). Ở Trường Sa, các mẩu đất đã được khám phá, chiếm ngụ và quản lý trong hòa bình bởi các quốc gia Đông Nam Á, và giữa họ không có tranh chấp lớn gì, và thực ra chỉ có tranh chấp khi một thế lực bên ngoài là Trung Quốc, chiếm đoạt bằng võ lực đá Gạc Ma từ tay Việt Nam vào năm 1988, giết 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam, và gần đây lấn chiếm đá ngầm Scarborough của Philippines, đuổi dân chài và tàu chiến của Philippines ra xa. Nhưng chiếu luật quốc tế, các vụ xâm chiếm bằng võ lực này không biện minh được cho chủ quyền của Trung Quốc, vì UNCLOS chỉ dành quyền xây đảo nhân tạo trên đá ngầm cho các nước cận duyên, và nhất là cả Việt Nam và Philippines liên tục phản đối để tránh cho sự thủ đắc bằng thời hiệu khỏi xảy ra. Riêng trường hợp Việt Nam, thì đã có các bằng chứng lịch sử ghi rõ chính quyền Việt Nam thời xưa đã ra lệnh các hải đội quốc gia làm các cuộc hải trình hàng năm của nhà nước ra Hoàng Sa trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tháng 4 đến 9 Tây lịch). Hải trình này thực hiện bởi Đội Hoàng Sa (lập vào thời chúa Nguyễn Phúc Lan, 1635 – 1648). Và cũng đi ra Trường Sa, Côn Sơn và Hà Tiên – hải trình này thực hiện bởi Đội Bắc Hải, lập năm 1776. Đó là những chứng tích lịch sử được ghi nhận trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1686) của Đỗ Bá hay trong Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quí Đôn. Ngoài ra, còn có cả chứng cứ trong các tài liệu Trung Quốc, như Hải ngoại kỷ sự (1696) của Thích Đại Sán. Đến thế kỷ XIX, tài liệu lịch sử thời Nguyễn cho thấy các cuộc hải trình do nhà nước tổ chức vẫn tiếp tục từ năm 1803 đến khi người Pháp đô hộ Việt Nam (từ năm 1884), với những chỉ dụ chi tiết cho các đơn vị hải quân và các viên chức hành chánh địa phương. Thời thuộc địa, nhà cầm quyền Pháp nói tới ít ra là 6 đá hay mỏm đất trong vùng Trường Sa. Từ 1945, Việt Nam là quốc gia chiếm nhiều đá nhất với 29 đảo, đá (hay ít hơn, nếu trừ đi số đá bị Trung Quốc chiếm năm 1988 và các năm sau). So sánh với nước khác thì Trung Quốc mới chỉ bắt đầu để ý đến Trường Sa vào năm 1947 qua việc ông Bai Meichu, một nhân viên cấp thấp, vẽ bản đồ “đường 9 đoạn” thâu tóm 80% Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đối với Trường Sa, Trung Quốc hành động trên thực tại lần đầu tiên là khi Trung Hoa Dân quốc (THDQ) chiếm đảo Itu-Aba (đảo Ba Bình) năm 1956 mà không cần dùng võ lực, và lần thứ hai là khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) tấn công lực lượng hải quân Việt Nam năm 1988 tại đảo Gạc Ma. Trong khi Trung Quốc dùng võ lực lấn chiếm một số đá ở Trường Sa, thì Việt Nam tôn trọng luật quốc tế và quyền lợi các nước Đông Nam Á, vì Luật Biển Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1.1.2013, ghi nhận là danh sách các đảo, đá thuộc Việt Nam sẽ công bố sau – chắc là muốn định mức độ chủ quyền phải chăng, sau khi bàn với các nước Đông Nam Á khác. Trong vùng quần đảo Hoàng Sa, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên các đảo/đá chỉ xảy ra giữa Trung Quốc và Việt Nam. Trong biến cố làm cho tranh chấp sôi nổi mạnh mẽ là việc Trung Quốc, vào tháng 5.2014, đặt giàn khoan dầu khí HD-981 ở vùng biển giữa Hoàng Sa và miền Trung Việt Nam, ngay cạnh hai lô thăm dò dầu khí 142 và 143 của Việt Nam, thì Trung Quốc tuyên bố một câu là vị trí đặt giàn khoan “là hoàn toàn trong vùng biển của Hoàng Sa thuộc Trung Quốc”, hàm ý là ở trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, tính từ Hoàng Sa, nơi họ đã chiếm bằng quân sự, gần đây nhất là cuộc hải chiến năm 1974 với Việt Nam Cộng hòa. Vậy ta phải bàn về điểm pháp lý là quốc gia nào có chủ quyền chính đáng trên Hoàng Sa, vì việc tranh chấp chủ quyền nơi đây dã kéo ra một thời gian dài, cuộc khủng hoảng gây ra do giàn khoan HD-981 chỉ là biến cố gần đây nhất. Những sự kiện lịch sử về việc Việt Nam khám phá và chiếm cứ Hoàng Sa (cũng như một số đá trong Trường Sa, như nói trên) thì có thể truy tầm trong các sử liệu Việt Nam đã có nhiều thế kỷ, thí dụ Phủ biên tạp lục nói ở trên, trong khi đó thì sử liệu Trung Quốc không đả động gì tới Hoàng Sa, Trường Sa, và nói đảo Hải Nam là biên giới cực nam của nước Tàu; trong các sử liệu Tàu đó, phải kể bản đồ chi tiết, năm 1717, thời vua Khang Hi nhà Thanh, do các nhà truyền giáo Dòng Tên nước Pháp soạn, mà một bản sao của J.B. Bourguignon mới được Thủ tướng Đức Angela Merkel tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Sử liệu Việt Nam thời các vua chúa và thời Pháp thuộc cho thấy nhiều lần nhà nước tuyên bố chủ quyền và xác lập quản lý cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Nhật ký của các nhà truyền gíao và du ký của các du khách Tây phuơng cũng nhắc lại như vậy. Có hai nhóm đảo/đá trong Hoàng Sa. Nhóm phía tây, có tên là Crescent (nhóm Nguyệt Thiềm hay nhóm Lưỡi Liềm), trong đó có Hoàng Sa (Pattle), theo luật quốc tế phải coi là thuộc Việt Nam dù hiện do Trung Quốc chiếm, vì Trung Quốc đoạt bằng võ lực năm 1974 nơi tay Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trong sự chống cự của hải quân VNCH thì cũng không tạo ra chủ quyền hợp pháp của họ, và cũng không tước mất đi quyền thừa kế quốc gia về mặt chủ quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam), mà chính quyền này liên tục phản đối sự chiếm cứ của người Tàu từ bao năm nay. Về nhóm các hòn đảo, đá phía đông của Hoàng Sa, gọi là nhóm Amphitrite, trong đó có Phú Lâm (tiếng Anh gọi là Woody, tiếng Pháp gọi là Boisée), thì do người Pháp lơ là, nên vào năm 1909, Tổng đốc Quảng Đông tự cho mình quyền cho người Nhật khai thác phosphate ở đó, và do đó có người cho là sự xác lập chủ quyền Việt Nam không vững lắm. Nhưng lập trường giải thích ngược lại cũng có lý: nhiều sử liệu cho thấy công ty người Nhật Mitsui Bussan Kaisha tôn vinh thẩm quyền nhà cai trị Pháp, người Pháp vào năm 1920 gửi một phái đoàn khoa học tới Amphitrite, kể cả ở Phú Lâm, rồi vào năm 1938 lập đài khí tượng ở đây, vào năm 1946 phản đối quân đội THDQ chiếm đóng, và sau cùng năm 1950 trao quyền cho chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại khi quân đội Trung Hoa rút lui. Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về hậu chiến, Liên Xô đưa ra đề nghị để Trung Quốc cai quản hai quần đảo, nhưng Hội nghị không ủng hộ, nhưng rồi sau đó Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Quốc gia Việt Nam ra tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa thì không nước nào phản đối. Sau khi Ngô Đình Diệm trở thành nguyên thủ quốc gia tại VNCH (Miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Geneva 1954), thì ngoại trưởng của ông xác lập chủ quyền Việt Nam lần nữa, khi Trung Quốc chiếm Phú Lâm bằng võ lực năm 1956, do đó tránh hậu quả thời tiêu chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa. Bây giờ ta cần giải quyết một sự kiện: cái công thư (hay công hàm) ngoại giao ngày 14.9.1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH ở Miền Bắc Việt Nam) gửi Tổng lý (Thủ tướng) Chu Ân Lai nhân dịp Trung Quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý. Sau nhiều lần viện dẫn công thư Phạm Văn Đồng, coi đó là lời nhượng lãnh thổ Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam, thì vào tháng 6.2014, Trung Quốc lại dùng nó nhân dịp đặt giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Do đó, ta phải bàn luận cứ pháp lý trong chi tiết. Nội dung văn thư đại khái như sau: Sau khi Chu Ân Lai tuyên bố lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý tính từ lãnh thổ Trung Quốc, gồm lục địa và các đảo ở đại dương, như Đài Loan và các đảo quanh đó, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và các đảo khác, thì ông Phạm Văn Đồng viết cho ông Chu Ân Lai như sau: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý (Chu Ân Lai) rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”. Công thư không nói gì đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Trước hết, Hiệp định Geneva năm 1954 chia đôi Việt Nam đã trao quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, ở phía nam vĩ tuyến 17 (lằn ranh chia cắt) cho VNCH ở phía nam vĩ tuyến đó. Do đó, nhiệm vụ xác lập và hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc thẩm quyền VNCH. Chính quyền này, và hải quân của họ, đã mạnh mẽ xác định chủ quyền trong và sau trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa hải quân VNCH – lúc đó đang chiếm ngụ và quản lý các quần đảo – và hải quân Trung Quốc xông tới tấn công. Thủ tướng Phạm Văn Đồng của VNDCCH không có thẩm quyền, hay ý định, ra một tuyên bố chủ quyền về các quần đảo lúc đó đang thuộc VNCH. Ông chỉ tuyên bố công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc mà Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố trước đó. Sự hiện hữu của một quốc gia là một vấn đề sự kiện thực tại (question of fact) theo luật quốc tế. Cho nên dù rằng nguyện vọng trong khẩu hiệu “Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một” biểu lộ một lý tưởng của nhiều người Việt, kể cả Hồ Chí Minh, thì từ năm 1954 đến năm 1975, sự hiện hữu của hai nước Việt Nam, tức VNDCCH và VNCH, là đúng với luật quốc tế, và theo đó VNCH là quốc gia hành xử chủ quyền tại các quần đảo trong thời gian đó. CHXHCN Việt Nam là quốc gia kế quyền lãnh việc thừa kế vai trò chủ quản các quần đảo. Việc thừa kế chủ quyền này được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói tới trong một bài diễn văn tại Quốc hội ngày 25.11.2011. Ông nói rằng vào năm 1974, Trung Quốc dùng võ lực chiếm nốt Hoàng Sa “đang dưới quyền quản lý thực tại của chính phủ Sai Gòn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối cuộc tấn công và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Năm 1975..Hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa,….năm đảo này do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý, chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta mở rộng thêm lên 21 đảo”. Chiếu điều khoản quy định về sự hiện hữu của một .quốc gia trong Công ước Montevideo năm 1933 đúc kết luật pháp quốc tế truyền thống hay thông lệ đã có nhiều thế kỷ, thì VNCH là một chủ thể hội đủ 4 điều kiện pháp lý của một quốc gia: (a) một dân số ổn định, (b) một lãnh thổ rõ ràng, (c) một chính quyền, và (d) khả năng lập bang giao với các quốc gia khác. Khi các quốc gia nhìn nhận một quốc gia hội đủ 4 điệu kiện pháp lý này và lập bang giao với nó, thì sự nhìn nhận này là một quyết định chính trị thêm vào 4 tiêu chuẩn pháp lý. Do đó, dù một quốc gia không ưa và không nhìn nhận một quốc gia khác, nó cũng không thể triệt tiêu tư cách quốc gia của nước đó. Thí dụ Cuba bị Mỹ ghét và không nhìn nhận, thì Mỹ cũng không thể xóa bỏ tư cách quốc gia của Cuba. Trong thập niên 1920, Mỹ không nhìn nhận Liên Xô do người Bolsheviks cai trị, nhưng các tòa án Mỹ cũng phải công nhận quốc gia đó và do đó công nhận quốc gia đó có đặc quyền miễn trừ ngoại giao, không thể bị kiện để bị đòi bồi thường về chuyện quốc hữu hóa các tài khoản ký thác trong các ngân hàng ở Liên Xô. Thế mà VNCH đã được mấy chục nước nhìn nhận. Ngay Liên Xô cũng có lúc đề nghị thu nhận hai nước Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Việc nhận vào Liên Hiệp Quốc chỉ là một vấn đề chính trị và không phải là một tiêu chuẩn pháp lý quyết định sự ra đời của một quốc gia. Hiệp định Geneva quy định là Việt Nam tạm thời chia làm hai miền cho đến khi tổng tuyển cử thống nhất. Sự quy định đó cũng không phải là tiêu chuẩn để nói rằng chỉ có một Việt Nam sau đó, và VNCH “không có dưới ánh mặt trời”. Nói như vậy là không hiểu luật quốc tế trong nhiều thế kỷ đã quy định các tiêu chuẩn của sự hiện hữu của một quốc gia, là lẫn lộn các tiêu chuẩn của luật quốc tế với sự sắp xếp chính trị tạm thời do một số cường quốc đưa ra trong Hiệp định Geneva mà chỉ có một số quốc gia tham gia ký, là quên cả cái thực tại chính trị là vài chục quốc gia đã nhìn nhận VNCH, mà một số nhỏ các quốc gia ký Hiệp định không thể truất quyền của vài chục quốc gia đó. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói, và có thể nói trong quá khứ, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mặc nhiên ám chỉ (mơ hồ trong trường hợp này là một nghệ thuật ngoại giao và chính trị) là có hai nước Việt Nam thời gian 1954 trở đi, và ông chỉ nói tới tuyên nhận 12 hải lý lãnh hải của ông Chu Ân Lai mà không nói đến các vùng đất mà ông Chu liệt kê. Vì rằng làm sao mà ông Phạm Văn Đồng có quyền ban bố cho Trung Quốc chủ quyền đối với các vùng đất, đá cai quản bởi Đài Loan và các nước Đông Nam Á, kể cả VNCH? Nói có hai nước Việt Nam trong thời gian 20 năm đó cũng không làm giảm thành tích thống nhất đất nước sau này, sau năm 1975, vì trong lịch sử thế giới, nhiều quốc gia bị chia cắt rồi lại thống nhất, hay ngược lại. Tan hợp, hợp tan là lẽ thường trên trái đất. Điểm thứ hai là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một tuyên bố đơn phương không có giá trị nhượng đất, chiếu theo luật quốc tế. Cái lý thuyết Estoppel trong luật quốc nội một số nước, theo đó “điều nói ra thì không thể rút lại”, không thể áp dụng dễ dàng trong bang giao quốc tế, vì có điều kiện áp dụng khó hơn, như vụ giữa Đức với Đan Mạch và Hà Lan về tranh chấp thềm lục địa đã xử. Ngoài ra, Tòa án Công lý Quốc tế, trong vụ “Nuclear Tests Case, Australia & New Zealand versus France” năm 1974 (I.C.J.253), xét về ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương (unilateral declaration), đã xử rằng khi xét ý nghĩa lời tuyên bố đơn phương, tòa án quốc tế phải giải thích chặt chẽ “ý định” của ngưòi tuyên bố: “Khi các quốc gia đưa ra tuyên bố có thể hạn chế bớt tự do hành động của mình, thì cần giải thích chặt chẽ… Chỉ cần xét văn từ trong lời tuyên bố có tỏ rõ một ý định rõ ràng hay không… Tòa án phải có quan điểm riêng về ý định của tác giả về ý nghĩa và phạm vi của lời tuyên bố đơn phương… Và không có thể theo quan điểm của một quốc gia khác không phải là một tham dự viên của lời tuyên bố đó”. Theo tiêu chuẩn của quy tắc luật trong bản án đó, ý định của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công thư năm 1958 phải được thẩm định theo văn từ hiển hiện trong văn bản (nói theo danh từ các luật sư hay dùng, là “within the four corners of the page”–trong bốn góc của trang giấy), thì công thư trên chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến các lãnh thổ thuộc quyền các nước khác. Ngoài ra, công thư cũng nên được chiếu rọi thêm ánh sáng bằng cách đặt công thư đó trong khuôn khổ Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH. Theo đó, vai trò Thủ tướng là một nhân viên của nội các, dưới quyền Chủ tịch nước, phó Chủ tịch nước (điều 44); và quyết định quan trọng như nhượng chủ quyền lãnh thổ, thì Chủ tịch nước phải ký một hiệp ước (điều 49, khoản a và h), rồi lại phải có Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao, phê chuẩn (điều 22 và 23). Theo học lý “ultra vires” (vượt quyền), ông Phạm Văn Đồng không thể hành xử quyền qua mặt Chủ tịch nước và Quốc hội được. Nghĩa là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng chỉ là lời tuyên bố ủng hộ ngoại giao hải phận 12 hải lý mà Trung Quốc nóng lòng tuyên bố, vì lúc đó mối đe dọa của Hoa Kỳ đang tiến sát tới lục địa Trung Quốc, với sự hiện diện của quân đội Đài Loan có Hoa Kỳ hỗ trợ với tàu chiến và pháo hạm tại 2 đảo Kim Môn và Mã Tổ, chỉ cách Trung Quốc đại lục vài cây số, và với Hạm đội 7 mạnh mẽ gấp bội tại eo biển Đài Loan. Tóm lại một tòa án quốc tế không cần để ý đến cách giải thích công thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 một cách chủ quan, như Trung Quốc đã làm, để thủ lợi cho mình. Còn vài luận cứ khác của Trung Quốc cũng nên bàn để bác bỏ: Trung Quốc viện dẫn hai bài báo trong Nhân Dân nhật báo, số ngày 6.8.1958 đăng bản tuyên bố của Chu Ân Lai mà có cả đoạn ghi hai chữ Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa) và số báo ra ngày 9.5.1965 phản đối Mỹ vi phạm hải phận Trung Quốc tại Tây Sa và Nam Sa. Trung Quốc cũng nhắc lại lời thứ trưởng ngọai giao VNDCCH Ung Văn Khiêm về sự kiện này, rồi nói VNDCCH đã im lặng nhiều năm, không phản đối Trung Quốc khi Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm thuộc nhóm Amphitrite ở phía đông quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956, và khi Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa thuộc nhóm Cresent phía tây vào năm 1974. Sau hết, Việt Nam đã in bản đồ có ghi tên Tây Sa (Trung Quốc), Nam Sa (Trung Quốc) cùng với cuốn sách giáo khoa lớp 9, có một dòng như sau: “Chuỗi đảo từ Nam Sa và Tây Sa, tới Hải Nam, Đài Loan, Bành Hồ và Châu Sơn, có hình như cái cung và tạo thành bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc”. Việt Nam có thể phản biện là ngay công thư Phạm Văn Đồng cũng không tạo ra văn kiện nhượng đất, thì có ăn thua gì mấy bài báo của phóng viên hay lời nói của ông Ung Văn Khiêm, chỉ nhắc lại nguyên văn những lời của Trung Quốc để “nịnh” Trung Quốc ở thời điểm Việt Nam tùy thuộc viện trợ Trung Quốc. Những lời này không có giá trị nhượng đất, vì theo luật, văn thư nhượng đất phải xuất phát từ các cơ quan có thẩm quyền. Về sự im lặng của VNDCCH khi mất các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa trước 1975, thì lý do là vào thời gian đó, nhiệm vụ phản đối là ở trong tay VNCH, đang có chủ quyền và đang quản lý các quần đảo. Và VNCH đã phản đối mạnh mẽ, bằng lời và bằng trận hải chiến anh dũng năm 1974. Sau đó, khi sắp thống nhất đất nước và sau khi thống nhất, hải quân của VNDCCH nhanh chóng chiếm Trường Sa, và sau đó, từ 1976, chính phủ nước Việt Nam thống nhất liên tục lên tiếng phản đối Trung Quốc để bảo lưu chủ quyền trên các đảo, đá, đã bị Trung Quốc chiếm. Việt Nam in bản đồ ghi chú như đã nói là chiều theo cách tuyên truyền của Trung Quốc (mà Trung Quốc có cử cố vấn làm việc trong cục bản đồ của Việt Nam), mà không có giá trị của lời minh thị nhượng đất của một cơ quan có thẩm quyền như Quốc trưởng trong một văn bản, và cũng vô giá trị về xác lập chủ quyền như việc Trung Quốc in hình “đường 9 đoạn” vào hộ chiếu do Trung Quốc cấp cho công dân của họ, thì cũng chẳng tạo ra chủ quyền của Trung Quốc đòi chiếm trên 80% Biển Đông. Câu văn trong sách giáo khoa lớp 9 chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền, một hoa ngữ, để ủng hộ Trung Quốc vào lúc mà họ đang lo lời tuyên bố trước đó của Tổng thống Mỹ Johnson ấn định vùng đó là vùng chiến tranh, chứ không phải là văn kiện nhượng đất. Mà làm sao Việt Nam có thể nhượng Đài Loan hay các hòn đảo của các nước Đông Nam Á cho Trung Quốc chỉ bằng việc in một câu trong sách giáo khoa? Sau khi giải quyết khúc mắc chính là công thư Phạm Văn Đồng năm 1958, thì nếu nhìn toàn cục diện thời gian hơn 20 năm, 1954 – 1975, trong đó có hai nước Việt Nam, ai cũng thấy vai trò xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và quản lý chúng, là ở trong tay VNCH, do Hiệp định Geneva 1954 trao phó. Hiệp định này có một số cường quốc ký, cả Trung Quốc và VNDCCH cũng ký (do ông Phạm Văn Đồng đại diện). Hành xử chủ quyền do quốc tế giao, Tổng thống Ngô Đình Diệm của VNCH ký hai sắc lệnh sát nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam, gửi hải quân đến các quần đảo này, và cho phép một kỹ nghệ gia khai thác phosphate. Việc xác lập chủ quyền của VNCH đối với quần đảo Hoàng Sa được bày tỏ rõ rệt, mạnh mẽ nhất với cuộc hải chiến ngày 19.1.1974 của hải quân VNCH chống lại hải quân Trung Quốc tới xâm chiếm Hoàng Sa, sau khi Trung Quốc thông báo chủ quyền (với hòn đảo này) vào ngày 12.1.1974 thì VNCH đã phản đối vào ngày 16.1.1974 với lời yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc can thiệp. Sau trận hải chiến, ngày 20.1.1974, VNCH lại yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc họp khẩn để can thiệp. Lần chót VNCH nêu vấn đề chủ quyền và phản đối Trung Quốc là tại Hội nghị Luật Biển của Liên Hiệp Quốc vào ngày 28.6.1974 ở Caracas (Venezuela). Sau khi thống nhất đất nước, CHXHCN Việt Nam, kế quyền về các quần đảo, đã nhiều lần phản đối sự xâm chiếm của Trung Quốc. Ngày 24.9.1975, khi gặp phái đòan Việt Nam sang thăm, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nhìn nhận có tranh chấp về các quần đảo giữa Trung Quốc và Việt Nam, và gợi ý đàm phán để giải quyết. Liên tục nhiều năm, Việt Nam đã phản đối và đưa ra các chứng cứ lịch sử về chủ quyền, trong lời tuyên bố hay các bạch thư (sách trắng) vào các năm: 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988 (phản đối Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào đảo Hải Nam), 1990, 1991, 1994 (phản đối Trung Quốc ký hợp đồng với hãng Crestone cho phép thăm dò trong thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam), 2012 (phản đối Trung Quốc đưa ra chương trình quản lý các đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Việt Nam cũng phải đổ máu bảo vệ chủ quyền ở Gạc Ma năm 1988 khi đem đồ tiếp tế đến cho các chiến sĩ bảo vệ hòn đá đó, mà Trung Quốc tàn sát 64 chiến sĩ hải quân khi họ đang lội nước ngang lưng. Trong vụ giàn khoan HD-981 từ tháng 5.2014 đến nay, Việt Nam đã đưa tàu kiểm ngư và tàu cảnh sát biển tới vùng biển nơi HD-981 đang hoạt động trái phép để bảo vệ chủ quyền và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan. Ngư dân Việt Nam vẫn tiếp tục đánh cá ở gần đó, mặc dùng bị các tàu Trung Quốc bao vây nhưng họ vẫn giữ một khoảng cách an toàn, hầu tránh xung đột võ trang, vừa để mưu sinh, vừa để bảo vệ chủ quyền với sự tự kiềm chế, mặc dù Trung Quốc rất hung hãn, dùng võ lực, đâm tàu Việt Nam và dùng súng nước tấn công tàu Việt Nam. Các lời phản đối và hành động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển Hoàng Sa trong vụ giàn khoan HD-981 càng cho thấy chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh luôn được duy trì, không hề bị xói mòn. 1.2. Quyền lợi Việt Nam trong vùng biển, tức vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Vùng biển quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông là nơi Trung Quốc gây ra tranh chấp vì Trung Quốc vẽ ra “đường 9 đọan”, còn gọi là “đường lưỡi bò”, để mạo nhận chủ quyền trong khu vực rộng tới 80% Biển Đông. Nhưng Trung Quốc không đưa ra được căn bản luật quốc tế nào cho sự nhận vơ này, mà còn mơ hồ hay mâu thuẫn trong lúc biện giải tại các hội nghị quốc tế, khi thì nói đến “vòng cung lịch sử” (historical circumference), khi thì nói đến các “vùng biển lân cận” (adjacent waters) tính từ các đảo/đá của Hoàng Sa và Trường Sa mà họ cũng đã nhận vơ như đã nói ở trên. Nhưng các yêu sách quá đáng và vô căn cứ này trái với UNCLOS, vì các điều 56, 57, 76, 77 qui định là các quốc gia cận duyên (quanh Biển Đông) có chủ quyền và quyền chủ quyền (sovereign rights) về tài nguyên trong vùng lãnh hải (territorial sea) 12 hải lý tính từ đường cơ sở (base line), tức lằn mức thủy triều thấp, và trong vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone, EEZ) rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ sở, cũng như ở thềm lục địa (Continental Shelf, CS) tính từ đường cơ sở ra thềm lục địa hay 200 hải lý. Các quyền chủ quyền về tài nguyên, tài nguyên sinh vật như cá sống trong vùng nước 200 hải lý đó, cũng như tài nguyên vô sinh như dầu khí và khoáng chất dưới đáy biển, là các quyền chuyên độc hay dành riêng (exclusive rights) của các quốc gia cận duyên, mà họ được hưởng mà không cần ra tuyên bố xác lập. Các quốc gia cận duyên có quyền xây các kiến trúc nhân tạo trên các đá, dù nhô trên mặt nước biển hay ngầm, thành các đảo nhân tạo, thi hành nghiên cứu biển, qui định việc bảo vệ môi sinh, miễn là họ tôn trọng các quốc gia khác khi họ sử dụng quyền tự do lưu thông hải hành (freedom of navigation) hay đặt các ống dẫn dầu và cáp ngầm. Các quốc gia khác đó không có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia cận duyên, nếu không có sự ưng thuận minh thị của các nước cận duyên. Thực là UNCLOS dành các quyền chuyên độc cho các nước cận duyên một cách chắc chắn như “đinh đóng cột”. Về cái quyền của tất cả các quốc gia, cận duyên hay không cận duyên, được tự do lưu thông trên biển, tại vùng đặc quyền kinh tế hay vùng biển cả (high sea) ở ngoài xa hơn, thì nó bị vướng mắc vào yêu sách “đường 9 đoạn” vô căn cứ của Trung Quốc (tại Hội nghị phân chia biên giới biển ở Houston, Hoa Kỳ năm 2010, đại điện Trung Quốc đã mở miệng nói một câu rất xúc phạm các nước khác là “vào trong vùng ‘đường 9 đoạn’, quí vị phải tuân theo luật Trung Quốc”). Đường “đường 9 đoạn” này hoàn toàn trái với UNCLOS (điều 89 của UNCLOS nói yêu sách chủ quyền trên biển cả là vô giá trị) và trái với luật quốc tế cổ truyền, hay ngay cả luật tương đối mới là Hội nghị Luật Biển năm 1958 (chỉ công nhận vùng lãnh hải 3 hải lý thôi). Được vẽ ra bởi một nhân viên cấp thấp từ thời Trung Hoa Dân quốc năm 1947, “đường 9 đoạn” bị lãng quên cho đến năm 2009, khi triển vọng dầu khí ngày càng cao ở Biển Đông, thì Trung Quốc mới đưa “đường 9 đoạn” này vào hồ sơ xin nới rộng thềm lục địa gửi Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Ấn định biên giới thềm lục địa (UN Commission on the Limit of the Continental Shelf). Lập tức, nó bị Việt Nam, Philippines và Indonesia phản đối. Những bằng chứng lịch sử Trung Quốc đưa ra để biện minh cho “đường 9 đoạn” xâm phạm vào quyền của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Đông Nam Á, như bằng chứng về các cuộc hải trình của Đô đốc Trịnh Hòa vào thế kỷ XV, thì không thể thắng được các bằng chứng cả 4 ngàn năm sinh họat nghề cá, du lịch và thương mại hàng hải, của các dân tộc Malaysia, Indonesia (họ đến tận Madagascar, để lại ngôn ngữ và 50% gene), Philippines, Việt Nam và Đế chế Khmer – Phù Nam thời trung đại – có trình bày trong hồ sơ Philippines nộp cho Tòa án Trọng tài về Luật Biển. Các viên chức và học gỉa Trung Quốc đã không trả lời nổi các câu chất vấn về yêu sách chủ quyền ở đại dương trong “đường 9 đoạn” tại các hội nghị quốc tế. 2. Dù có căn bản vững chắc về sự kiện và về pháp lý cho chủ quyền của mình, người Việt nên chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền đã hay sẽ xảy ra qua thủ tục thương nghị, hòa giải (trong đó có giải pháp khai thác chung) hay tài phán. Tranh chấp ở Biển Đông trở nên gay gắt khi Trung Quốc vào ngày 2.5.2014 đã kéo giàn khoan dầu khí HD-981 vào đặt trong vùng biển gần đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa, cách bờ biển miền Trung Việt Nam chưa tới 120 hải lý để khoan thăm dò dầu khí. Trong khi Trung Quốc nói vị trí đặt giàn khoan này nằm ở trong vùng biển của Tri Tôn, gần đảo Hải Nam của Trung Quốc thì Việt Nam nói là nó đặt trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Sau hơn 70 ngày tranh luận gay go khắp nơi và gây nhiều va chạm trên biển, và sự cô lập của Trung quốc trước phản ứng mạnh bất lợi cho Trung quốc trên trường ngoại giao quốc tế, từ Việt Nam đến các cường quốc Âu, Mý,Úc,Nhật,Ấn v.v.thì đến ngày 15.7.2014,Trung Quốc đã rút giàn khoan này, nhưng nói là vì để tránh bão và có thì giờ nghiên cứu các mẫu dầu khí thu được, nghĩa là giành quyền quay lại ở Biển Đông. Như vậy tranh chấp lại có thể tái phát và những bàn luận sau đây, tức sự phân tích toàn cục các vấn đề tranh chấp biển đảo và đề nghị các sách lược hay thủ tục giải quyết tranh chấp, vẫn là cần thiết cho tương lai. cho các học gỉa cùng các nhà làm chính sách. Trước tiên, phải liệt kê các vấn đề tranh chấp trước khi suy ra các cơ quan, định chế và thủ tục giải quyết tranh chấp. 2.1. Việc Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam, kèm theo các biện pháp võ lực, dẫn tới các vi phạm chủ quyền lãnh lãnh thổ của Việt Nam về đảo/đá, do luật quốc tế truyền thống cũ quy định và các vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam về tài nguyên trong các vùng biển dưới mặt nước, và quyền tự do lưu thông của mọi quốc gia, do luật mới của UNCLOS 1982 dành cho các quốc gia, nhất là các quốc gia cận duyên quanh Biển Đông. Bộ Ngọai giao Trung Quốc biện minh cho việc đặt giàn khoan vào vị trí đã nói bằng một câu ngắn gọn rất nham hiểm, vì họ tránh viện dẫn “đường 9 đoạn” đã bị các nước chất vấn, rằng giàn khoan “đặt hoàn toàn trong vùng nước của Hoàng Sa của Trung Quốc” (placed completely within the water of China’s Paracels). Như vậy là họ nói hai vế trong câu này, mà Việt Nam phải cố bác bỏ với các luận cứ có nội dung vững chắc như nói trên: – Vế (i): Hoàng Sa thuộc chủ quyền của họ từ lâu (sau này họ đưa thêm vào hồ sơ nộp cho Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Kimon sau khi Việt Nam phản đối mạnh mẽ, có sự ủng hộ của nhiều nước, để nói là công thư 1958 của ông Phạm Văn Đồng xác nhận lại cái chủ quyền này mà họ đã có từ lâu). Việt Nam sẽ phải cãi lại về điểm chủ quyền lãnh thổ này, theo như đã nói ở trên khi bàn về chứng cứ lịch sử, công thư ông Phạm Văn Đồng và các biến cố xác lập chủ quyền, kể cả trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, và vấn đề này, phải kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice, ICJ) ở The Hague, Hà Lan. Tuy nhiên, kiện đòi chủ quyền lãnh thổ tại ICJ, phải vượt trở ngại là làm sao cho Trung Quốc chấp nhận ra tòa với việc ký nhận điều khoản nhiệm ý (optional clause) công nhận thẩm quyền của ICJ. – Vế (ii): vị trí giàn khoan ở trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa đang thuộc quyền Trung Quốc. Việt Nam cũng sẽ phải cãi về điểm này là vẫn liên tục phản đối sự chiếm đóng sau khi Trung Quốc dùng võ lực tấn công quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956 và năm 1974, rồi chiếm đóng từ đó đến nay; khẳng định rằng Trung Quốc không có quyền về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ Hoàng Sa như họ tuyên bố. Một luận cứ khác để bác cái vế (ii) này là nói rằng, cho dù giả thiết – giả thiết mà thôi – là Trung Quốc có chủ quyền trên Hoàng Sa, để bàn cho hết lý lẽ, thì Việt Nam có thể xin Tòa án Trọng tài Luật Biển – đây là vụ kiện thứ 2 của Việt Nam – theo thẩm quyền bắt buộc về giải thích và áp dụng UNCLOS, phải ra một bản án tuyên nhận rằng tất cả các hòn như Tri Tôn hay ngay cả Phú Lâm tại Hoàng Sa, đều không hội đủ điều kiện để là đảo theo định nghĩa của Điều 121 của UNCLOS. Đó phải là nơi có đủ điều kiện hỗ trợ cho đời sống con người và một nền kinh tế tự túc, lúc còn trong tình trạng thiên nhiên sơ khai (như có nước ngọt, thực phẩm nuôi và trồng tại chỗ – nếu chỉ có cocacola thay nước như một học giả Malaysia nói đùa, thì không phải là đảo); không đủ điều kiện là đảo thì chỉ có thể là đá (reef, rock) theo khoản 3 của Điều 121. Và nếu là đá thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở chung quanh, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý (theo khoản 3, Điều 121). Còn nếu là đảo thì có các vùng nước chung quanh như lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous Zone), vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giống như lục địa vậy. Trước Tòa án Trọng tài Luật Biển, Việt Nam có thể theo thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) để kéo Trung Quốc ra tòa, mà yêu cầu tòa dùng thẩm quyền giải thích và áp dụng UNCLOS (Điều 286 và Điều 288), để Việt Nam trình bày được chứng cứ lịch sử của nhiều thế kỷ về hoạt động của đội Hoàng Sa trước đây hàng năm đi ra quần đảo đều phải mang nước ngọt và thực phẩm đi theo, rồi không sống quanh năm trong một nền kinh tế tự túc được, và do đó, ngay bây giờ Trung Quốc cũng không đòi quy chế đảo cho Hoàng Sa được, và cũng không đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho Hoàng Sa được. Và do đó, giàn khoan HD-981 đã xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Mở rộng chiến thuật phản biện này sang các đá ở Trường Sa, mà minh chứng tất cả các hòn ở đó đều là đá trong trạng thái thiên nhiên trước khi xây các kiến trúc nhân tạo, thì có thể giảm thiểu nhiều sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc trong vùng biển Trường Sa, vì dù Trung Quốc có chiếm vài đá và đá ngầm, họ cũng không thể đòi gì rộng hơn 12 hải lý lãnh hải quanh các đá đó (đá ngầm cũng không tạo ra lãnh hải, có xây trên đó cũng không tạo thành đảo, và chỉ quốc gia cận duyên mới có quyền xây trên đá ngầm – điều 60 UNCLOS), không thể đòi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xuất phát từ các hòn đá; và “đường 9 đoạn” càng mất cơ sở là có hòn đất nào đó để bám vào, làm cứ điểm xuất phát. Nhưng Trung Quốc còn có thể dùng luận cứ khác, không dựa vào Hoàng Sa, mà dựa vào bờ biển Hải Nam làm đường cơ sở, từ đó tính ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ là 200 hải lý, và đo đó giàn khoan nằm trong khoảng 180 hải lý của các vùng biển đó của Trung Quốc, và dù giàn khoan cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý, thì kết quả sau cùng cũng là sự chồng lấn giữa hai vùng biển của hai quốc gia cận duyên đối diện nhau mà ta thấy đã xảy ra nhiều nơi trên thế giới. Chiếu theo UNCLOS, thì bổn phận pháp lý của hai quốc gia đó là thương lượng để tìm một giải pháp công bình (equitable solution) trước khi khởi kiện đem nhau ra tòa, thí dụ giải pháp dùng “đường trung tuyến” (median line) chẳng hạn. Điều này có nghĩa là vụ Việt Nam kiện Trung Quốc thì sẽ có khó khăn hơn vụ Philippines kiện Trung Quốc (dù Philippines kiên nhẫn thương nghị với Trung Quốc suốt 17 năm, Philippines cũng không có bổn phận pháp lý phải thương nghị, vì Trung Quốc dùng võ lực chiếm đá ngầm Scarborough cách Trung Quốc hơn ngàn hải lý, ở trong thềm lục địa của Philippines, chứ không có vùng chồng lấn nào cả, rồi xây thêm kiến trúc nhân tạo, cho nên nó không tạo ra quyền nào về vùng biển đó, hay đảo nhân tạo đó). Nhưng dù nội dung thương lượng sẽ khó, nhưng Việt Nam đã nỗ lực thương lượng, 30 lần cố liên lạc ở nhiều cấp, cao và thấp, với Trung Quốc mà không được trả lời, thì Trung Quốc đã vi phạm UNCLOS như đề cập dưới đây. Điểm thứ 2 để Việt Nam kiện trước Tòa án Trọng tài Luật Biển là Trung Quốc đã vi phạm Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS là từ chối đáp lại 30 lần Việt Nam đưa lời mời thương lượng, tức là đã không tỏ ra có tinh thần hiểu biết và hợp tác (understanding and cooperation) mà lại còn dùng các biện pháp võ lực như bắn súng nước hay đâm vào tàu Việt Nam để gây thiệt hại về vật chất hay thân thể cho phía Việt Nam, thay vì có các đề nghị về các biện pháp tạm thời, theo các điều khoản trên. Điểm thứ 3 Việt Nam có thể kiện là Trung Quốc, đó là Trung Quốc với tư cách là một quốc gia cận duyên, đã làm cản trở tự do lưu thông trên biển – vi phạm khoản 1a Điều 297 của UNCLOS – bằng cách gửi một số lớn tàu hải giám, hải cảnh, ngư chính, cả tàu quân sự và máy bay quấy rối ở vùng biển quanh vị trí họ đặt trái phép giàn khoan, không cho các tàu của các nước khác tới gần, không cho tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư Việt Nam thực thi pháp luật hay thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam hoạt động mưu sinh theo truyền thống. Điểm thứ 4 Việt Nam có thể kiện Trung Quốc là hành động do họ gây ra đã vi phạm nhân quyền của dân chài Việt Nam, tức là họ đã dùng bạo lực đâm chìm tàu của ngư dân Việt Nam (vụ Trung Quốc đâm chìm tàu cá ĐNa 90152 ngày 26.5.2014 chẳng hạn), ngăn cản họ đánh cá trong các vùng ngư trường truyền thống của họ, chiếm đoạt ngư cụ và cá, bắt chuộc tầu cá. Như vậy là tước đi quyền kiếm sống của ngư dân Việt Nam. Vi phạm này, nếu xảy ra trong vịnh Bắc Bộ thì Việt Nam có thể viện dẫn Hiệp định Trung – Việt về Nghề Cá ở vịnh Bắc Bộ, buộc hai bên phải giải quyết hòa bình. Nếu vi phạm xảy ra ở ngoài vùng vịnh Bắc Bộ, thì Chính phủ có thể kiện Trung Quốc hay ủy quyền cho dân chài kiện Trung Quốc, trước Tòa án Trọng tài Luật Biển theo quy định của UNCLOS, hay có thể nêu vấn đề Trung Quốc vi phạm nhân quyền hàng loạt này trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Trong tương lai, các điểm vi phạm của Trung Quốc nói trên vẫn có thể dùng bởi các nhà làm chính sách hay bởi các chuyên gia pháp luật để làm điểm kiện (counts) trong một hoàn cảnh khác sau vụ giàn khoan, trong đó Trung Quốc tuy tuyên bố “trỗi dậy trong hòa bình” nhưng kỳ thực vẫn hung hãn vi phạm luật quốc tế và quyền lợi quốc gia Việt Nam 2.2. Các cơ quan, định chế và thủ tục gỉai quyết tranh chấp. Một nguyên tắc căn bản phải theo trong các tranh chấp từ khi có Liên Hiệp Quốc là bổn phận pháp lý của mọi quốc gia phải dùng phương pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp, chiếu theo Điều 2 và điều 33 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, và chỉ được dùng võ lực khi tự vệ chính đáng, vì rằng từ nay chỉ có Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mới được giao phó việc dùng võ lực, để giữ hòa bình. Có 3 thủ tục chính: (i) các thủ tục phi tài phán như thương lượng, hòa giải; (ii) thủ tục tài phán trước Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa án Trọng tài Luật Biển; và (iii) trình ra các cơ quan chính trị quốc tế như Đại hội đồng hay Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc hay các tổ chức khu vực như ASEAN. (i). Trước hết là thủ tục thương lượng và hòa giải Về tranh chấp phân chia ranh giới vùng biển, như trường hợp chồng lấn giữa hai vùng đặc quyền kinh tế hay hai thềm lục địa của hai nước, thì khoản a Điều 298, cũng như Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS đòi hỏi các quốc gia có bờ biển gần nhau phải dùng tới các thủ tục đó, để nỗ lực đạt tới những giải pháp công bình (equitable solutions). Việt Nam theo đúng UNCLOS, đã kêu gọi thương lượng, tới chừng 30 lần, kể cả việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam liên lạc với lãnh đạo Trung Quốc mà Trung Quốc không hồi đáp. Việt Nam được công luận thế giới ủng hộ vì hành xử bình tĩnh hơn Trung Quốc, mang tiếng là “anh khổng lồ bắt nạt”. Vô hình trung, Việt Nam áp dụng ngọai giao mềm dẻo như ngọai trưởng Talleyrand của Napoleon đã khuyên trong câu: “trong ngọai giao, không nên hăm hở quá”, hay như vua Quang Trung làm lành xin cưới công chúa nhà Thanh sau khi đại thắng quân Thanh. Việt Nam nhấn mạnh đến nhu cầu thương lượng thân thiện giữa các nước bình đẳng theo đúng tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc, UNCLOS và các thỏa ước trong vùng như Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) giữa ASEAN với Trung Quốc. Rõ ràng là sau khi nhận thấy các quốc gia Á châu lo ngại sự hung hãn của Trung Quốc qua những gì họ đã làm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào tháng 5 và 6.2014, sẽ khiến các nước này ngã theo Mỹ, Nhật, châu Âu, Ấn Độ, Úc, thì Trung Quốc mới dịu giọng mà gửi cho Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc một tờ trình, gợi ý là có lẽ hai nước Trung Quốc và Việt Nam chưa có thương lượng về ranh giới biển, cho nên hai bên nên có dịp trình các yêu sách theo thủ tục UNCLOS. Và vào ngày 16.7.2014 thì Trung Quốc rút giàn khoan. Ngoài thương lượng song phương, các quốc gia nhỏ tại Đông Nam Á phải cùng nhau, và cùng các cường quốc khi thích hợp, sử dụng ngọai giao đa phương để nói chuyện với Trung Quốc về vấn đề tự do lưu thông trên biển và khai thác tài nguyên trong vùng biển cả ngoài các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Phải có mặt trận thống nhất kiểu này mới làm chùn bước Trung Quốc khi vi phạm nền pháp trị quốc tế, vì Trung Quốc sẽ ngại bị cô lập hóa. Đặc biệt, Việt Nam nên sử dụng ngoại giao đa phương vì tuy là quốc gia mạnh nhất Đông Nam Á về quân sự, nhưng Việt Nam là ở tuyến đầu mà Trung Quốc nghĩ là có thể bắt nạt, để làm gương cho các nước nhỏ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận rõ điểm này khi ông tuyên bố là Việt Nam muốn làm việc với ASEAN trước tiên về Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (Code of Conduct, COC) trước khi bàn với Trung Quốc, hay khi ông kêu gọi tại Diễn đàn Shangri-La là cần tạo “niềm tin chiến lược” (strategic trust). Có nên dùng thương nghị để đạt các thỏa ước phát triển chung (joint development) hay không? Ông Đặng Tiểu Bình đề nghị 3 khẩu hiệu cho 3 thành tố của giải pháp của Trung Quốc cho các tranh chấp về đảo/đá và vùng biển ở Biển Đông: “zhu quan zai wo, ge zhi zheng yi, gong tong kaifa” (chủ quyền ở ta, gạt bỏ tranh chấp, hợp tác khai thác). Khẩu hiệu 2 chính là ước muốn của các nước Đông Nam Á, vì ta thấy nỗ lực vẫn tiếp tục cho việc triển khai DOC, vốn chỉ là khuyến cáo, thành COC có giá trị ràng buộc pháp lý, để giảm tranh chấp. Khẩu hiệu 3 chỉ là danh từ khác cho đường lối phát triển tài nguyên thiên nhiên trong thế giới ngày nay, tức liên doanh giữa một quốc gia với các xí nghiệp của quốc gia khác, thí dụ liên doanh khai thác dầu khí giữa hãng Mỹ và Việt Nam trong vùng biển Việt Nam, trong đó hợp đồng chia sản phẩm là một thành tố; không ai cần lo lắng về các liên doanh này. Chỉ có khẩu hiệu 1 của ông Đặng về chủ quyền là có thể gây lo ngại cho các nước nhỏ ở Đông Nam Á, vì có vẻ như Trung Quốc giống như con hổ nằm rình mồi sẽ xông ra nuốt chửng các nước yếu khi thâu tóm chủ quyền trên Biển Đông. Chúng tôi đề nghị giải tỏa nỗi lo sợ này bằng cách giảm hành vi đe dọa, bá quyền, lấn lướt của Trung Quốc với sự chất vấn liên tục trong thương lượng và có thể cả trong các vụ kiện trong các tòa án quốc tế, buộc Trung Quốc phải định nghĩa rõ, theo luật quốc tế, các yêu sách chủ quyền của họ và giới hạn của yêu sách ấy, trên đảo đá, trong các vùng biển. Cũng như trong tòa án quốc nội, cần có sự chất vấn (cross-examination) giữa các bên đương tụng thì chân lý mới sáng tỏ. Và trong tòa án quốc nội hay quốc tế, lập trường các bên sẽ ôn hòa hơn, phải chăng hơn, tránh được xung đột. Khi Trung Quốc phải trình ra các lý lẽ làm nền tảng cho các yêu sách của họ, theo tiêu chuẩn của luật quốc tế, họ sẽ bớt ngang ngược hơn, và sẽ tỉnh thức mà thấy là một đại cường muốn được kính trọng và có uy tín, tức là những thành tố của vai trò và ảnh hưởng của cường quốc, thì họ phải cư xử có trách nhiệm, có tốt lành, tôn trọng nền pháp trị, chứ không như kẻ côn đồ ngoài vòng pháp luật. Đức Đạt Lai Lạt Ma có nói rằng: “Đương đầu với Trung Quốc cần phải cương quyết giữ vững lập trường, không sợ hãi, mà cũng không tỏ sự tức giận”. (ii) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Trọng tài Luật Biển (ATLS) a. Kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý Quốc tế về chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Hoàng Sa – mà Trung Quốc đang xâm chiếm của Việt Nam từ năm 1974, thì phải vượt qua được sự từ chối trình diện tòa của Trung Quốc vì họ sẽ không ký điều khoản nhiệm ý (optional clause) để nhận thẩm quyền của Tòa, do đó tòa sẽ có thể không thụ lý vụ kiện. Nhưng thiết nghĩ có hai cách vượt trở ngại này. – Trước hết, trong vụ Case Concerning United States Diplomatic and Consular Staff in Teheran II (US v. Iran) (ICJ 1980), khi một quốc gia từ chối trình tòa để phản đối thẩm quyền tòa, Tòa vẫn tuyên án được theo quy tắc sau: Nếu Tòa án Công lý Quốc tế thấy quốc gia vắng mặt trước đó, trong một văn kiện, như Hiệp ước thân hữu chẳng hạn, đã có ưng thuận nào đó về thẩm quyến tòa và hơn nữa quốc gia nguyên đơn có trình hồ sơ đầy đủ và có tính thuyết phục cao, Tòa có thể tuyên án dù quốc gia kia vắng mặt. Vậy Việt Nam mà trình bày đủ chứng cứ lịch sử và luận cứ pháp lý vững chắc về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, thì có thể xin một bản án có lợi, nếu có thể tìm ra sự ưng thuận ra tòa có trong Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc vào năm 2000. Hoặc có thể bắt chước Trung Quốc trong vụ kiện của Philippines không ra tòa án trọng tài nhưng xuất bản mấy ngàn trang sách về nội dung lập trường của mình, như một biện pháp vận dụng dư luận quốc tế; Việt Nam có thể chuẩn bị kỹ hồ sơ chủ quyền lãnh thổ trên Hoàng Sa mà đem nạp trong đơn kiện ở Tòa án Công lý Quốc tế, kèm lời mời Trung Quốc chấp nhận thẩm quyền của tòa để làm sáng tỏ vấn đề. Giáo sư Jerome A. Cohen trong Hội thảo quốc tế Hoàng Sa, Trường Sa – Sự thật lịch sử, tổ chức ở Đà Nẵng ngày 20.6.2014 mong đợi các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á cứ đến gõ cửa Tòa án Công lý Quốc tế rồi mời Trung Quốc (nếu họ tin là lẽ phải về phần mình), thì ra tòa mà bàn luận. Dù Việt Nam có nạp hồ sơ và bị từ chối xét xử vì Trung Quốc không chịu trình tòa, thì cũng như đã “treo” được hồ sơ trước cửa Tòa cho thiên hạ đọc, và đạt được thắng lợi tuyên truyền trước công luận quốc tế. – Thứ hai, Việt Nam hay một nước bạn của Việt Nam có ảnh hưởng mạnh, có thể yêu cầu Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hay một cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc xin một bản án cho ý kiến (advisory opinion)về bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa thì Tòa án Công lý Quốc tế cũng có thể cho. Thí dụ như trong án Advisory Opinion on the Western Sahara (ICJ 1975), do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc yêu cầu xin một bản án ý kiến về một yêu sách lãnh thổ, thì Tòa án Công lý Quốc tế đưa ra quy tắc là Tòa không cần sự ưng thuận của một quốc gia liên hệ mà vẫn cho một bản án ý kiến về một tranh chấp lãnh thổ. b) Kiện Trung Quốc ra Tòa án Trọng tài Luật Biển. Một quốc gia có thể dùng thủ tục bắt buộc (compulsory procedure) quy định trong các Điều 286 và 288 của UNCLOS để yêu cầu tòa giải thích và áp dụng các điều khoản của UNCLOS. Ngay trong tranh chấp về các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn mà một quốc gia, khi gia nhập UNCLOS, đã làm bảo lưu gạt bỏ ra khỏi sự ưng thuận ra tòa của họ, thì quốc gia khác, dựa vào khoản 4 Điều 298, cũng có thể đưa tranh chấp với quốc gia đã làm bảo lưu ra tòa theo thủ tục bắt buộc. Như đã nói ở trên về các vi phạm của Trung Quốc mà Việt Nam có thể liệt kê như các điểm khiếu tố ra tòa (counts), Việt Nam có thể viện dẫn trong thủ tục bắt buộc trước Tòa án Trọng tài Luật Biển các vi phạm hay các điểm khiếu tố sau: – Trung Quốc, trong các hành vi quanh giàn khoan HD-981 vừa qua, đã vi phạm khoản 1a Điều 297, vì đã ngăn cản, với tư cách quốc gia cận duyên, sự tự do lưu thông hàng hải và hoạt động khác như đặt cáp ngầm của quốc gia cận duyên khác. – Trung Quốc có hành vi hung hãn bá quyền, không chịu thương lượng trong tinh thần hiểu biết và cộng tác, hay áp dụng các biện pháp tạm thời, dù Việt Nam đề nghị cả 30 lần. – Trung Quốc có thể bị dân chài Viêt Nam kiện vi phạm nhân quyền của họ, trong một vụ họ kiện riêng, với sự ủy quyền của nhà nước Việt Nam, theo đúng tinh thần của UNCLOS. (iii). Sự can thiệp chính trị của các tổ chức quốc tế – ASEAN, với Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông luôn luôn có ích, và nên nỗ lực đạt tới Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông. – Can thiệp của Tổng Thư ký hay Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể làm hạ nhiệt sự hung hãn của Trung Quốc, nhất là có kèm theo các lời phê bình của các đại cường, như lời Thủ tuớng Nhật Bản Shinzo Abe hay lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hagel phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 2014. Sau khi Đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, trong tháng 5.2014, yêu cầu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon can thiệp, và viết công hàm ngọai giao và ra thông cáo báo chí, than phiền là giàn khoan vi phạm luật quôc tế, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, nếu cần, sẽ dùng biện pháp tự vệ, thì Trung Quốc gợi ý nên có thương lượng giữa hai nước, nhất là về việc định ranh giới biển công bình, mà hai bên chưa làm. Trung Quốc cũng tuyên bố không dùng tàu chiến bảo vệ giàn khoan. Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc tỏ ra lạc quan. Và quả nhiên, nay thì giàn khoan rút đi. Kết luận Dư luận quốc tế, nhất là các nước phương Tây và Nhật Bản, Ấn Độ đã bênh vực cho lẽ phải của Việt Nam. Philippines thì mong Việt Nam khởi kiện sớm. Nay Việt Nam đã lỡ dịp kiện do giàn khoan đã rút đi, thì trong tương lai, phải chuẩn bị sớm và kỹ để lập tức kiện khi Trung Quốc gây sự lần nữa, ngõ hầu có dịp xác lập chủ quyền, chứ nếu không lại lỡ dịp nhờ pháp luật quốc tế để đẩy mạnh quyền
    • Người đánh dậm says:

      @ Cảm ơn Daffodillies. Tải về có đến 14 trang chữ nhỏ. Mặc dù đây đó đã có nhiều bài về chủ đề này, nhưng quả là bài viết đỉnh cao.

      • Người đánh dậm says:

        Ý quên !, Cảm ơn TC cho đăng tải một luận văn rất hữu ích.

        • Daffodillies says:

          Cảm ơn các Bác đã chia sẻ. Rất xin lỗi vì khi copy đã không kịp kiểm tra lại. Xin được đọc (điền) thêm mấy chữ “(quyền) lợi quốc gia của mình” vào dòng cuối của bài viết cho đúng câu chữ của GS (không hiểu tại sao lại bị mất khi post).

          Cũng xin được thêm là sau cùng GS đề ngày 18-7-2014 cho bài viết của mình.

          Thanks very much again.

    • levinhhuy says:

      Bác Daffodillies@:

      Lần sau, bác vui lòng cho xin cái link là đủ. Chẳng hạn như cái còm lê thê trên, có thể rút gọn lại thành:
      http://anhbasam.wordpress.com/2014/07/24/2787-chung-cu-lich-su-va-khia-canh-luat-phap-ve-chu-quyen-cua-viet-nam-tai-hai-quan-dao-hoang-sa-truong-sa-va-quyen-chu-quyen-o-vung-bien-chung-quanh/
      là chính xác và bảo đảm đầy đủ rồi ạ!

      Lại nữa, gõ comment là để bày tỏ ý riêng của mình. Khi nghe bác bảo Tổng Cua là chưa rõ ràng gì đó, tôi cứ khoái trong bụng (hễ có ai bật lão Cua là tôi khoái, lạ thế!); nhưng bác đã làm tôi mừng hụt, vì toàn chỉ nghe ông Tạ Văn Tài nói. Sao kỳ vậy bác, ông Tài có phải là phát ngôn nhân của bác đâu?

      Và điều đại kỵ nữa là bác chép nguyên bài của người ta mà lại chẳng cho lời bình nào. Bác nên cho biết cách bác đánh giá cái link mình đã dẫn chứ, đôi dòng thôi cũng được, rằng bác tâm đắc/ bất bình v.v… với nội dung trong đó, để chứng thực rằng bác đã… có đọc hết nội dung mình dẫn.

      Xin bác đại xá cho kẻ quê mùa thô lỗ này nếu có gì không nên không phải ạ!

      • Daffodillies says:

        Cám ơn bạn đã viết ra những ý nghĩ rất thẳng thắn. Nhưng bạn có chủ quan lắm không? Có narrow-minded lắm không? Tôi chẳng bao giờ kết luận vì tôi chỉ biết bạn qua mạng ảo. Vì thế, thực lòng những gì bạn phản ứng lại hay nhận xét về tôi như thế nào tôi không quan tâm đâu. Bạn khen không làm tôi tốt hơn. Bạn chê không làm tôi xấu hơn. Người mà có thể chọn cách ứng xử như thế thì có thể là người như thế nào nhỉ? Tùy bạn nghĩ.

        Xin lỗi Bác Hiệu Minh về phản hồi này. Tôi sẽ im lặng với bất kỳ dòng nào thêm từ bạn.

        • BINH says:

          sao lai the. he ai noi dong toi minh thi im lang a?

        • Albatross says:

          Thế người chê có làm bạn tốt hơn không?

        • levinhhuy says:

          Daffodillies@, bác có phản hồi hay không, tôi vẫn cứ phải nói thêm cho rõ ý. Là tôi nhắc nhở bác ứng xử cho phải phép đấy:

          – Dẫn link chứ không sao chép cả bài viết trong comment. Đây là phép lịch sự tối thiểu. Những ai quan tâm vấn đề bác nêu, tự họ sẽ click vào link ấy để đọc, và những ai không quan tâm có thể nhẹ nhàng cuốn con lăn phát một cho qua.

          – Để người khác quan tâm đến link mình dẫn, bác nên bày tỏ chính kiến rõ ràng với nội dung trong đó.

          – Và một điều sơ đẳng nữa, là phải luôn luôn ghi rành mạch, nội dung mình sao chép đó có nguồn từ đâu.

          Thế nhé!

      • TungDao says:

        @Daffodillies:
        Dù rất tôn trọng và mếm bác nhưng tui vẫn phải nói rằng tui ủng hộ ý kiến của bác Ly.
        Những ý kiến đóng góp của bác Ly là những nguyên tắc cơ bản khi tham gia một diễn đàn online khi trích dẫn nguồn.
        “…Bạn khen không làm tôi tốt hơn. Bạn chê không làm tôi xấu hơn…”. Đó là điều không cần phải chối cãi nhưng với cộng đồng, theo tui những lời góp ý kể cả góp ý thẳng thắn luôn là các ý kiến tốt cần lắng nghe và tôn trọng. Theo tui đó cũng là điều cần thiết trong văn hoá ứng xử văn minh, nhất là tại HC này.
        Kính bác.

        • Daffodillies says:

          Tôi giữ lời không bao giờ có bất kỳ dòng nào thêm từ levinhhuy.

          Cảm ơn bạn. Tuy không cần thiết nhưng vì thiện ý của bạn, có lẽ tôi nên bổ sung thêm vào câu trả lời ở trên, “Bạn khen tôi cám ơn. Bạn chê tôi cũng cám ơn” chăng?

          Với tôi “Ý tại ngôn ngoại” bạn a. Văn cũng là người. Câu trả lời của tôi thể hiện đủ những gì một người có thể được đòi hỏi về ứng xử văn hóa trong một thế giới văn minh.

          Một chút thế giới ảo ở đây. Tôi yêu quí và mến trọng Bác Hiệu Minh nên vào đọc ở trang của Bác ấy. Thỉnh thoảng thời gian cho phép thì tham gia ít nhiều. Còn biết bao điều khác ở cuộc đời này ai biết mèo nào cắn mỉu nào, phải không bạn?

    • Trần says:

      Hoan nghênh bác Daffo dẫn bài của GS Tạ Văn Tài về các khía cạnh pháp lý đối với chủ quyền VN- Hoàng Sa- Hoàng Sa.
      Tôi cũng có đọc đôi bài của GS Tài trong đó có bài viết chung cùng ông Vũ Quang Việt. Và cũng đọc bài của ông Trương Nhân Tuấn phản bác phản biện.
      Quả tình hiểu biết luật hạn chế và nghĩ theo dõi những bài này đòi hỏi phải tỉ mẩn nên gần như tôi chỉ đọc cho biết chứ để hiểu thì thấy mông lung.
      Cảm nhận chung họ là những người giỏi, tuy nhiên thiển nghĩ, VN đưa vấn đề “Biển Đông” ra tòa quốc tế phải thận trọng và cần, rất cần thuê thày cãi Tây,
      Trân trọng.

    • tieuphidao says:

      Bạn levinhhuy nói rất đúng, chỉ cần cho link là được rồi. Comment kiểu nầy là cực kỳ vô lý và vô duyên. Vậy mà còn lý với sự nữa.

    • Daffodillies says:

      “Chọn bạn mà chơi” nên đời có những kẻ 1/1000 cái ánh nhìn tôi cũng không mảy may.

      “Văn là người” nên có những loại cách xa nhiều dặm không gian vẫn sặc mùi “… thổ tả”. (Very sorry the Nobel writer Gabriel Garcia Marquez).

      • Nguoi Qua Duong says:

        Tôi thấy bác Daffodillies quá nhạy cảm, nói chính xác hơn là “thin skin”. Một lời phê bình góp ý có tính xây dựng của bác levinhhuy nên đáng được trân trọng hơn là cách phản ứng “xù lông nhím”, “mèo nào cắn mỉu nào” của bác. Những người có tinh thần cầu thị thường đánh giá cao những lời chê hơn những lời khen mình.

        • Daffodillies says:

          Cảm ơn Nguoi Qua Duong. Bạn đã viết như vậy thì tôi cần có câu trả lời.

          Với tôi, luôn luôn vẫn là “Chọn bạn mà chơi”, “Văn là người” và “Ý tại ngôn ngoại” giữa nhiều lời dạy sâu sắc khác nữa của cổ nhân, tiền nhân, etc, bao gồm cả “Mèo nào cắn mỉu nào”.

          Có ba câu hỏi tôi đặt ra khi trả lời levinhhuy: “…Nhưng bạn có chủ quan lắm không? Có narrow-minded lắm không?… Người mà có thể chọn cách ứng xử như thế thì có thể là người như thế nào nhỉ?…”. Tuy nhiên, tôi đã không nhận thấy một sự động não nào hay cũng có thể còn có cái gì đó che khuất đi chăng?

          Trước khi copy and paste bài viết của GS Tạ Văn Tài mà (xin lỗi) ít nhất cũng phải cỡ học trò GS mới có thể biết rằng để viết được một bài như thế người viết phải ở trình độ trí tuệ và nhọc công lao động đến mức nào (chưa bàn đến những yếu tố khác).

          Những người thực sự có hiểu biết và cầu thị, không phải ba cái loại “thùng rỗng kêu to” hay “cả vú lấp miệng em” như thế – trong điều kiện của Việt Nam và diễn tiến gần đây ở Việt Nam – thậm chí có thể đọc từng câu, từng dòng, từng chữ trong bài viết của GS. Không quan tâm thì không đọc. Quan tâm nhưng đọc mà không hiểu, chưa hiểu thì phải đọc đi đọc lại, lưu lại mà đọc sau, etc. Không lao động thực sự, nhiều khi còn là lao động khổ sai nữa, thì không bao giờ có được trí tuệ thực sự. Ở phương diện này, mọi loại bằng cấp có được do mua bán chỉ là rác rưởi.

          Tất cả các khía cạnh khác về văn hóa ứng xử, kể cả việc xin phép Bác chủ trang liên quan đến bài viết của GS Tạ Văn Tài, hoàn toàn có thể được tìm thấy ở những câu tôi viết trước khi đăng tải toàn bộ bài viết của GS Tạ Văn Tài, bạn ạ. Con người ta như thế nào phần lớn do giáo dục mà nên, giáo dục trong gia đình và giáo dục ở nhà trường, phải không bạn?

          Không biết câu trả lời của tôi có thể làm bạn vừa lòng nhưng tôi phải kết thúc ở đây. Vẫn xin được nhắc lại rằng thực sự tôi tâm đắc “Mèo nào cắn mỉu nào” thậm chí ngữ cảnh rộng nhất. Để kẻ nào đó nên hiểu rằng “cao nhân có cao nhân trị”, luật trời mới là cao nhất ở trên đời.

          P.S. Về nguồn của bài viết thì thật nực cười cho ba cái đầu trống rỗng ấy là tôi không hề đọc trang Basam. Tôi cũng không thừa thời gian để giao tiếp theo bất kỳ cách nào với một số loại “cỏ cây hoa lá” theo cách gọi tôi học được từ một người khác (xin được xin lỗi tất cả những người chính trực và có chính kiến riêng của mình).

  34. Brave Hoang says:

    Nếu xét trong quan hệ ông chủ cừu VN và ông chó sói TQ thì thấy việc tặng cừu này không ổn. Đã tặng biết bao nhiêu cừu rồi, nhưng ông sói vẫn muốn hơn. Mỗi lần ông sói thèm ăn là ông cừu lại dâng lên đã làm ông sói nhờn luôn nhân tính. Hay là ông sói nhận cừu mà lại không có con cái để chăm cừu?
    Chắc ông cừu phải dùng kẽm gai ngăn lại thì mới làm sói không thể thịt được. Dùng điện chích thì sói chết, sói sẽ thù hơn. Nhưng nếu dùng kẽm gai thì có khi nào ông sói bao vòng quanh không cho cừu cựa quậy được nữa.
    Giải pháp có lẽ là ông cừu mang một ông hổ về để canh chừng chó sói. Dĩ nhiên thì hổ cũng ăn cừu, nhưng vì trong vườn nhà mình và mình quản lý hổ, mình dễ có cách trị nó hơn.

  35. dungtraco53 says:

    Một đầu tàu chạy lệch sẽ kéo cã con tàu xuống hố,CSVN còn chờ đợi gì nũa mà không chĩnh lại đường đi

  36. Luong Thien says:

    Cầu mong cho những nhà lãnh biết chọn bạn để chơi, xác định đúng kẻ thù mà phòng. Đừng mù quáng vì lợi ích của một đảng mà hại cả một dân tộc. Để người dân hết khổ và sẽ được lưu danh hậu thế hơn là để lịch sử nguyền rủa.

    • Albtross says:

      Lợi ích cúa ĐCSVN chưa bao giờ đồng hành cùng lợi ích dân tộc, có lúc còn ngược lại.Điều bạn “cầu mong” dân tộc này đã ,80 năm có lẻ rồi,dừng cầu mong được chưa?

      • Luong Thien says:

        Hiện nay nhiều nhân sĩ trí thức cũng chỉ kiến nghị, thư ngỏ, chưa ai dám đứng lên hành động để đòi lại cái quyền tư do dân chủ cho người dân. Mà mấy ngày trước có Tâm thư của ông Hồ Ngọc Nhuận kêu gọi phải hành động, nhưng biết đến khi nào? Nên giờ đây, tôi cầu mong họ làm sao thức tĩnh được như Myanmar, chuyển qua đồng minh với Mỹ và chuyển đổi ôn hòa cho dân nhờ thôi. Nhưng cầu mong cũng như hái sao trên trời, cầu mong chỉ là cầu mong!

  37. Cafe Tranh says:

    Thấy nó sao…sao trong cách ví von!

  38. KTS Trần Thanh Vân says:

    Cách đây 700 năm, Vua Trần Nhân Tông đã dậy dân ta rằng Bọn Phương Bắc không bao giờ là bạn, mà chỉ có thể là kẻ thù truyền kiếp.

    Đầu thế kỷ 20, Chủ nghĩa cộng sản xuất hiện ở Liên xô và đưa ra khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” khiến nhiều nhà yêu nước ở VN ta theo chủ nghĩa cộng sản và ngộ nhận thù là bạn ( tất nhiên bạn trở thành thù )

    Nay chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô đã sụp đổ, ai còn dương cao ngọn cờ “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” là “đại ngu”, ai vẫn còn luyến tiếc hào quang của những năm tháng nhần lẫn giữa bạn và thù còn ngu hơn cả “đại ngu”.

    • A. Phong says:

      Cứu cánh của đảng viên CS là tất cả các lợi quyền đều qua tay mình. Đất Nước, nhân dân đều là phương tiện xử dụng để đạt cứu cánh. Ngu sao được?

    • ngua mom says:

      Việt nam ta thời nhà tiền Hồ lấy tên là Đại Ngu mà. Nay thời hậu Hồ phát huy tinh thần dân chủ, nên bàn mãi vẫn không đổi được tên nước, quốc ca, v.v… thôi thì cứ hành xử đại ngu thì có gì lạ đâu á.

      • Ba Phi says:

        Từ điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn có giải thích từ Ngu, trong đó có một nghĩa nghĩa là Vui, nên xem lại, có từ “ngu thân” là làm cho cha mẹ vui, thời nhà Hồ cũng là một điểm sáng trong lịch sử về cải cách XH song bị cái bóng Tàu nó đè nặng quá nên không thoát được, không nhẽ việc đặt tên nước mà không cân nhắc, chắc chắn là có ý tứ sâu xa trong hai từ “Đại Ngu” tôi tin như vậy.

%d bloggers like this: