Nguyễn Tiến Hưng: ‘8-8-1974 – Ngày khởi đầu hoàng hôn của VNCH’

TT Nixon. Ảnh: BBC VN

TT Nixon. Ảnh: BBC VN

Bài trên BBC VN. Nguyễn Tiến Hưng.  Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Mỹ.

Tổng thống Richard Nixon mất chức sau vụ scandal nổi tiếng Watergate vào 8/1974.

“It’s so sad, it’s so sad”(Thật là buồn, thật là buồn), tôi nghe thấy Pat lẩm bẩm nói bâng quơ… Không ai nói năng gì nữa. Cũng chẳng còn hạt nước mắt nào để mà khóc. Tôi ngả đầu vào lưng ghế và nhắm mắt lại,” Tổng thống (TT) Richard Nixon viết để kết thúc cuốn Hồi Ký đài 1,120 trang.

Đây là lúc ông ngồi trên chiếc trực thăng rời Washington sau khi từ chức ngày hôm trước. Bà Patricia là phu nhân Tổng thống.

Trước 10 giờ sáng ngày thứ Năm, mồng 8 tháng 8, 1974, Phó Tổng thống Gerald Ford cùng với Phụ tá John Marsh chủ toạ lễ trao Huân Chương Danh Dự Quốc Hội cho gia đình của bảy người quân nhân tử trận ở Việt Nam.

Lễ nghi diễn ra tại Blair House, nhà khách của Tổng Thống [chúng tôi xin mở ngoặc để ghi lại là TT Thiệu đã lưu lại nơi đây vào tháng 4, 1972 khi TT Nixon mời ông tới Washington; chúng tôi có ghé thăm ông].

Lễ nghi vừa xong, ông Ford liền được tướng Al Haig, Chánh Văn Phòng cho biết Tổng Thống Nixon muốn gặp ông ngay. Ông vội vàng bước qua đường Pennsylvania sang toà Bạch Ốc.

Khi ông vừa tới, TT Nixon đứng lên bắt tay rồi ngồi xuống ngả lưng vào ghế. Hai tay nắm chặt vào nhau để trên đùi, trông mặt ông thật căng thẳng vì vừa trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn.

Với một giọng nghiêm nghị nhưng kiềm chế, ông chậm rãi nói với ông Ford: “Tôi đã quyết định từ chức, quyền lợi đất nước đòi hỏi như vậy. Tôi không muốn nói tới chi tiết những lý do nên hay không nên làm như vậy, nhưng tôi đã đi tới quyết định rồi.” Buổi tối hôm ấy TT Nixon lên TV tuyên bố từ chức.

Chúng tôi gọi ngày này là “Ngày Song Bát,” ngày lịch sử của Hoa Kỳ, cũng là ngày đánh dấu buổi hoàng hôn của nền Cộng Hòa Việt Nam.

Watergate là tên của một tập hợp những cao ốc đẹp nằm trên đường Virginia cạnh bờ sông Potomac lãng mạn. Đây là một khuôn viên gồm khách sạn, chung cư sang trọng và một cao ốc văn phòng. Nơi đây có trụ sở của ‘Ủy Ban Quốc Gia Đảng Dân Chủ.’

Nhân viên của Tổng thống Nixon đã cho người đột nhập vào trụ sở này vào ngày 17 tháng 6, 1972 để cài đặt đường giây nghe lén vào mùa vận động bầu cử Tổng thống 1972. Sau khi đổ bể, Quốc Hội điều tra, TT Nixon chối đi là ông không dính dáng gì đến việc này. Cuộc điều tra tiếp tục. Từ chuyện này dẫn tới chuyện khác. Tuy nhiên cũng chưa có bằng chứng nào kết tội Tổng thống.

Tới trên hai năm sau, vào ngày 24 tháng 7, 1974 thì có bước ngoặt: Tối Cao Pháp Viện phán quyết Tổng Thống Nixon phải chuyển cho chánh án Sirica băng thu 64 cuộc nói chuyện tại văn phòng Toà Bạch Ốc. Trước đó luật sư của Tòa Bạch Ốc đã tranh đấu để không chuyển băng. Hai bên giằng co rất quyết liệt vì những băng này có liên quan tới việc xét xử sáu quan chức trong vụ Watergate.

Chỉ ba ngày sau thì có biến cố lớn. TT Nixon kể lại về ngày 27 tháng 7, 1972:

“Tôi đang tắm ở bãi biển Red Beach gần San Clemente khi Ủy ban Tư Pháp Hạ Viện bỏ phiếu điều khoản thứ nhất của thủ tục bãi chức tổng thống (impeachment). Điều khoản này buộc tội tôi đã có những hành động cản trở việc điều tra Watergate. Số phiếu thuận là 27 và chống là 11, đúng như tôi vẫn e sợ.

“Tôi đang mặc quần áo trong chiếc xe trailer thì chuông điện thoại kêu và (phụ tá) Ziegler báo tin cho tôi. Đây là giây phút tôi biết mình sẽ là Tổng thống thứ nhất trong 106 năm bị đề nghị bãi chức. Lúc ấy tôi đang đứng trong chiếc xe trailer trên bãi biển, đi chân không, mặc cái quần xà lỏn, một cái áo chemise Banlon và một cái áo ở ngoài có vẽ Dấu ấn của Tổng Thống.”

Cuốn băng “Smoking Gun”

Ngày 5 tháng 8, Tòa Bạch Ốc bắt buộc phải chuyển giao băng thu cuộc họp ngày 23 tháng 6, 1972 . Băng này đã ghi lại rõ ràng là chỉ mấy ngày sau vụ đột nhập Watergate, chính TT Nixon đã họp với Phụ tá Haldeman để bàn tính việc ngăn chận cuộc điều tra.

Theo kế hoạch thì Haldeman sẽ để cho CIA thông báo đại với FBI là vụ này dính tới an ninh quốc gia nên không điều tra nữa. “Một cách để xử lý vụ này,” Haldeman nói với Tổng thống, “là ta cho Walters (CIA) gọi đại cho Pat (FBI) để chỉ nói ‘Chớ có dính líu gì tới việc này… việc này, chà…chúng tôi không muốn các anh đi sâu hơn nữa’ ” (Stay the hell out of this…this is ah, business here we don’t want you to go any further on it).

Kissinger và Nixon. Ảnh: BBC VN

Kissinger và Nixon. Ảnh: BBC VN

TT Nixon chấp thuận kế hoạch. Ông chỉ thị Haldeman “Được rồi, tốt, tôi hiểu hết rồi… Anh gọi bọn họ vào. Tốt, cách xử lý tốt đấy. Phải cho thật cứng rắn. Đó là cách họ đối xử với chúng ta và cũng là cách chúng ta sẽ đối xử với họ.”

Nghe băng này, các luật sư của Tòa Bạch Ốc thấy hết đường cứu chữa! Đây là bằng chứng đi ngược lại với những lời phủ nhận của TT Nixon và ngược lại với những lý luận của các luật sư trước đó.

Như vậy TT Nixon đã có tội là ‘cản trở việc thi hành luật pháp.’ Người ta gọi cuốn băng này là “Smoking Gun,” nòng súng có khói (bằng chứng là súng đã có bắn).

‘Đề phòng Kissinger’

Trong những giờ phút cuối cùng, TT Nixon vẫn còn quan tâm đến VNCH. Ông viết về cuộc họp với ông Ford sáng ngày 8 tháng 8: “Chúng tôi nói tới những vấn đề ông Ford sẽ phải đối đầu khi ông lên chức Tổng thống đúng 24 giờ nữa. Quan trọng nhất là chớ có để cho những người lãnh đạo ở Moscow hay Bắc Kinh nắm lấy việc từ chức của tôi để thử thách Hoa Kỳ tại Việt Nam và những nơi khác trên thế giới.”

Sau đó TT Nixon đã căn dặn người kế vị rằng nên dùng ông Kissinger nhưng phải cẩn thận đối với ông này. TT Ford kể lại lời trối trăn trong Hồi Ký ‘A Time To Heal’ :

“Tổng Thống Nixon đã khuyên tôi nên tiếp tục một chính sách mạnh mẽ về Việt Nam và Campuchia và nhấn mạnh vai trò của Henry Kissinger trong việc này.”

Ông thêm rằng “Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông không phải chấp nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể rất hữu ích, và trung thành, nhưng ông không thể để cho Kissinger hoàn toàn tự do làm theo ý mình.”

Như vậy TT Nixon đã hối hận vì để cho Kissinger lộng hành? Tuy người tiền nhiệm đã dặn dò như vậy, nhưng TT Ford vẫn khoán trắng cho ông Kissinger.

Trở về văn phòng, việc đầu tiên ông Ford làm là gọi điện thoại cho Kissinger: “Henry, tôi cần ông, đất nước cần ông. Tôi muốn ông tiếp tục ở lại. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để làm việc với ông.”

Kissinger trả lời “Thưa Ngài, sẽ không có vấn đề gì. Bổn phận của tôi là làm việc cùng với Ngài chứ không phải là Ngài cùng với tôi.” TT Ford mời ông Kissinger tiếp tục kiêm nhiệm cả hai chức vụ cùng một lúc: Ngoại Trưởng và Cố Vấn An Ninh: tha hồ mà thao túng.

Miền Nam rung động

Tuy đã tiên đoán là Tổng Thống Nixon sẽ phải từ chức, nhưng khi nghe tin này, Tổng Thống Thiệu vẫn bàng hoàng. Gặp ông ngay buổi chiều hôm ấy, chúng tôi thấy ông không giấu nổi sự lo lắng. Vụ Watergate bắt đầu từ tháng 6, 1972 nhưng TT Nixon vẫn thắng cử nhiệm kỳ hai vào mùa Thu năm ấy.

Tuy nhiên sau Hiệp Định Paris thì TT Thiệu đã thấy có điều gì không ổn. Ông kể lại là sau cuộc họp tại San Clemente ngày 3 tháng 4, 1973, khi TT Nixon chào tạm biệt để tiễn ông lên trực thăng (cùng chiếc Mariner One) thì “hồn vía ông ta như để ở đâu đâu; trực thăng vừa cất cánh thì ông đã quay gót trở lại. Vội vã đi vào nhà.”

Những lần trước khi hai người gặp nhau, dù ở đảo Midway hay ở Sàigòn (1969), lễ nghi tiễn biệt đã kéo dài, TT Nixon vui vẻ giơ tay vẫy chào thật lâu (‘Khi Đồng Minh Tháo Chạy,’ Chương 4). TT Thiệu bắt đầu e ngại nhưng vẫn còn chút hy vọng vì đã có được những cam kết tuy bí mật nhưng hết sức vững vàng của người lãnh đạo tối cao Hoa Kỳ. Mặc dù Hiệp Định Paris, TT Nixon cũng không nỡ lòng nào bỏ rơi Miền Nam. Ông vẫn tranh đấu cho viện trợ. Nhưng sau ngày Song Bát thì khác.

Đang lúc bối rối như vậy thì TT Thiệu nhận ngay được một lá thư của tân Tổng thống Ford gửi cho ông. Thư đề ngày 10 tháng 8, 1974 đã khẳng định: “Thưa Tổng Thống … tất cả những gì mà Hoa Kỳ đã cam kết với VNCH trong quá khứ thì vẫn còn hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.”

Ông Thiệu lên tinh thần đôi chút. Nhìn lại lịch sử, chúng tôi cho rằng đây chỉ là một mưu lược rất tinh xảo của ông Kissinger nhằm trấn an ông Thiệu. Vì Kissinger đã dấu nhẹm đi không cho TT Ford và Quốc Hội biết gì về những cam kết của TT Nixon, bây giờ ông phải tìm cách để tiếp tục che dấu.

Nếu để ông Thiệu nại đến những cam kết này khi bị Quốc Hội cắt xén quá nhiều viện trợ thì sẽ gây nhiều tranh luận, đưa chính ông Kissinger vào chỗ kẹt. Điều hay nhất là làm sao giữ cho Sàigòn cứ yên lặng, làm sao cho mọi chuyện được êm ả cho tới lúc hạ màn.

Đó là điều ông Kissinger đã từng cố vấn TT Nixon: “Thưa Tổng thống, chúng ta chỉ cần tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, rồi sau đó thì Việt Nam sẽ trở thành một bãi hoang vu.” (‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu,’ Chương 15).

(Hết phần I)

BBC VN. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng hòa (1973-1975) và là tác giả của các cuốn sách “Khi đồng minh tháo chạy” và “Tâm tư Tổng thống Thiệu”. Mời quý vị đón theo dõi phần hai được BBC giới thiệu trong thời gian tới đây.

HM Blog. Xem ảnh TT Nguyễn Văn Thiệu gặp TT Nixon, thấy ông cũng dùng phao… Khổ thân cho chính khách xứ mình.

 Ảnh: BBC VN

Nỗi khổ chính khách Việt – TT Thiệu cầm giấy đọc từng dòng. Ảnh: BBC VN

Watergate Hotel. Ảnh: HM

Watergate Hotel. Ảnh: HM

Advertisements

26 Responses to Nguyễn Tiến Hưng: ‘8-8-1974 – Ngày khởi đầu hoàng hôn của VNCH’

  1. says:

    Một số nhân vật hai bên trong cuộc chiến 20 năm.

    Phỏng vấn Ngô Đình Luyện ngày 31-1-1979 (tiếng Pháp)

    Phạm văn Đồng

    Phỏng vấn cựu Trung tướng VNCH Trần Văn Đôn ngày 7-5-1981 (tiếng Pháp)

    Nguyễn Thị Bình

    Tôn Nữ Thị Ninh

    • Hiệu Minh says:

      Mấy đường link của bà Nhu, Trần văn Đôn và Ngô Đình Luyện không làm việc. Bác xem lại nhé.

      Tôi có feeling là giới lãnh đạo thời 20 năm chiến tranh Mỹ Việt ngoại ngữ khá hơn bây giờ.

    • says:

      Phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu ngày 11-2-1982

      • Hiệu Minh says:

        Tôi sửa lại bằng link khác, có phụ đề tiếng Việt. Tiếng Anh của bà Nhu là Anh – Pháp 🙂

        • says:

          Cám ơn Bác HM. Không hiểu sao khi tôi open the link từ máy PC của tôi thì không có vấn đề gì cả nhưng khi post lên thì link các ông Ngô Đình Luyện, Tướng Trần văn Đôn bị error không làm việc được.

  2. Ngự Bình says:

    Tôi không mặn mà lắm với quan điểm cho rằng số phận VNCH sẽ khác đi nếu không có vụ Watergate. Theo tôi, số phận VNCH đã được chuẩn bị với việc Nixon đi Tàu và sau đó là Hiệp Định Paris. Và có nhiều yếu tố đóng góp vào việc định đoạt số phận VNCH chứ không phải chỉ có môt yếu tố.

    Quan trọng nhất là tính đặc thù của chiến tranh VN khi phe địch (cộng sản) và phe ta (quốc gia) nhiều khi hoà lẩn vào nhau khó phân biệt. Thí dụ rất phỗ biến là nhiều gia đình ở miền Nam có người theo CS và có người theo quốc gia, nên đã che dấu và che chở cho phe địch. Sự kiện đó đưa tới tình trạng gọi là khó nhận diện kẻ thù để chiến thắng.

    Yếu tố thứ hai là chiến lược sai lầm của Mỹ khi can thiệp trực tiếp vào chiến tranh VN, nhất là khi VN mới thoát khỏi vòng nô lệ với một nước phương tây, tạo điều kiện cho viêc thành lập Phong Trào Giải Phóng Miền Nam VN.

    Yếu tố thứ ba là tình trạng tham nhũng ở miền Nam, dù không quá phổ biến như hiện nay, nhưng cũng đủ cho cụ Trần văn Hưong phải lên tiêng “nếu diệt hết tham nhũng thì lấy ai làm việc.” Mặc dù thường dân ít khi bị trực tiếp đòi hỏi phải hối lộ, nhưng tham nhũng thời VNCH đục khoét ngân sách và viện trợ, nhất là viện trợ quân sự. Tôi dám nói những sĩ quan công binh có chức vụ điều khiển đều ít nhiều ăn xi măng, sắt thép và kẽm gai. Những thứ đó trên nguyên tắc được dùng để xây cầu đường, lô cốt, cơ sở hạ tầng hổ trợ cho chiến tranh thì bị ăn cắp đem bán cho các nhà thầu thư nhân, và có khi còn lọt vào tay địch. Kế đó là vũ khí bị ăn cắp đưa vào chiến khu. Có lần báo đăng tin động trời là một ông chuẩn tướng hay đại tá gì đó bán nguyên một chiếc xe tăng hay xe thiết giáp cho VC.Ở các đơn vị tác chiến có tình trâng ăn tiền lính kiểng lính ma hay bán vỏ đạn của một số sĩ quan cấp chỉ huy. Vỏ đạn bị bán trái phép cho lái buôn người Tàu để chúng chuyển ra qua Trung Quóc để làm . . . đạn.

    Yếu tố thứ tư là tình hình kinh tế khó khăn, đa số công nhân viên chức lãnh đồng lương không đủ sống, đưa tới tình trạng mất tin tưởng vào chế độ. Bố tôi là công chức hạng trung, làm trưỏng phòng nhân viên ở một nha trực thuộc bộ tài chánh, và luơng của ông cộng với phụ cấp vợ con chỉ đủ sống cho cả gia đình chưa tới nửa tháng, phần còn lại là do tiền buôn bán của mẹ tôi, có lợi tức nhiều gấp 3 lần lương của bố tôi. Chưa kề chiến tranh khiến đa số bà con ở nông thôn không cày cấy, trồng trọt gì được, nên cuôc sống lầm than, dể nghe lời dụ dỗ của CS.

    Tất cả những yếu tố trên khiến người Mỹ nhận ra chiến tranh VN là cuôc chiến không thể thắng được (unwinnable war), nhất là sau khi trên 50 ngàn quân nhân Mỹ đã tử trận ở VN và phong trào phản chiến ở Mỹ tăng cao. Do đó quôc hội Mỹ đã quyết định kế hoạch rút lui bằng chính sách Việt Nam hoá chiến tranh với việc rút quân về đồng thời cắt giảm cả viện trợ quân sự và kinh tế cho VN đưôc hợp thức hoá bằng Hiêp Định Paris.

    Môt khi chính sách về chíến tranh VN đã được hình thành thì dù có Watergate hay không Nixon cũng không làm thay đổi tình thế được. Thật sự khi chưa có vụ Watergate thì Nixon đã gặp khó khăn trong việc tìm kiếm ngân sách tài trợ cho chiến tranh VN nên đã phải tìm đến nguồn tiền bất hợp pháp do việc buôn bán ma túy quanh vùng Tam Giác Vàng để mở rộng chiến tranh VN qua lãnh thổ Lào hòng qua mặt quốc hội Mỹ. Viêc làm này đã bị phát hiện và Nixon không thể tiếp tục kiến tiền trái phép như vậy.

    • chinook says:

      Tôi cũng không tin là số phận của VNCH sẽ khác đi nhiều nếu không có vụ Watergate , nhưng chắc không thê thảm như đã xảy ra.

      Nhưng chắc hẳn số phận của VNDCCH(Bắc Vietnam) và sau đó là của Vietnam sẽ khác đi.

      Nếu không có Watergate, chiến tranh sẽ kéo dài thêm, VNDCCH sẽ phải trả giá cao hơn à dân Vietnam sẽ còn khốn khổ hơn.

      Đối với một địch thủ sắn sàng đot cháy cả Trường sơn, không ngại thí mạng, còn cái lai quần cũng đánh… Vả lại ới một bàn cờ đã sắp xếp lại…Hoa kì rút ra, Tổng thống Thiệu thất bại trong nỗ lực cuối cùng khi đi tim một nguồn tài trợ mới, kể cả cố gắng “bán lúa non” nguồn dầu và khí đốt mới tìm thấy, số mệnh của VNCH đã được quyết định.

    • D.N.L. says:

      Bác bomho giả định “lịch sử VN.”sẽ khá hơn bây giờ nhưng không hiểu sao
      bác NB.sửa lại là VNCH.sẽ khác nhĩ ? Chẳng lẽ đánh tráo từ ngữ ?
      Dù sao,tôi đồng ý với bác là Mỹ đã cực kỳ sai lầm khi lật đổ TT.NĐD.để chủ
      động giao chiến trực tiếp.Sai lầm là vì họ tưởng nếu giao chiến trực tiếp thì
      sẽ ngăn chận được CS.như trong chiến tranh Triều Tiên.Nhưng chính điểu
      đó đã vô tình góp phần tuyên truyền cho CS.là Mỹ thay thế thực dân Pháp,
      dù thực tế là Mỹ không chiếm VN.làm thuộc địa như Pháp đã làm !

    • says:

      Ngày 8 tháng 6, 1969, Nixon và Nguyen văn Thiệu đã bí mật gặp nhau tại Hòn Đảo Midway nằm giữa Thái Bình Dương. Trong cuộc họp, hai bên bàn thảo kế hoạch Hoa Kỳ bắt đầu rút quân, quân đội VNCH sẽ thay thế quân đội Hoa kỳ trong cuộc chiến, bắt đầu cho kế hoạch Việtnam hóa chiến tranh.

      Nixon cho biết 25,000 quân Mỹ sẽ rút khỏi vn vào cuối tháng 8, quân đội VNCH sẽ tự mình đảm nhiệm cuộc chiến (assume full responsibility for the war).

      Số phận VNCH đã được quyết định dù có hay không có vụ Watergate về sau này.

      • Hiệu Minh says:

        Tôi nhớ có chi tiết TT Thiệu khi gặp các nghị sỹ Mỹ, họ đã sắp xếp bàn tiếp khách và ghế theo kiểu “điều tra xét hỏi” (ghế nóng – phỏng vấn), ông Thiệu phản đối. Bác Lê có biết chi tiết này không, xảy ra ở đâu và khi nào.

        • says:

          Ông Thiệu là lãnh đạo vn thăm viếng Hoa Kỳ nhiều nhất, đến 4 lần. Ông Thiệu có kể lại với gs Nguyễn Tiến Hưng, khi ông đến San Clemente (California), Nixon mời ông ăn thịt bò beef steak. Đỉa thịt bò của ông dai nhách, chưa bao giờ trong đời ông, ông gặp thịt bò dai đến mức ấy.

          Ông không ăn được, ngồi nhìn thôi, trong khi đó, Nixon ăn rất ngon lành. Ông Thiệu biết người ta cố tình làm vậy với ông, chứ nước Mỹ đâu có nghèo đến mức không mua nổi miếng thịt bò đãi khách.

          Câu chuyện Bác HM nói, tôi chưa nghe. Sẽ tìm thông tin, xem câu chuyện ra sao.
          Web site của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có ghi tất cả những cuộc thăm viếng của các lãnh đạo VN, từ Thủ tướng Trần văn Hữu năm 1951 cho đến gần đây nhất là Chủ tịch nước TT Sang năm July 2013.

          http://history.state.gov/departmenthistory/visits/vietnam

    • Trần says:

      Số phận VNCH không thể khác đi dù có hay không có Waterate.
      Chỉ cần nhìn vào việc “sinh ra” hay “tồn tại” một Trịnh Công Sơn với những tình ca pha trộn nỉ non thân phận con người và não nề phản chiến ầu ơ mà không có lấy một bài hát mang hơi thở “tất cả cho tiền tuyến” thì thôi rồi “Mỗi ngày tôi chọn một niềm…Diễm xưa”.

  3. Dove says:

    Tin rằng, nếu R. Nixon trụ lại thì VN bây giờ thượng sách là như Ucraina. Có nghĩa là ông TT. Nguyễn Văn Thiệu đang xua quân tấn công trên suốt phòng tuyến kéo dài từ chùa Bái Đính đến tận quán thịt dê ở đỉnh đèo Tam Điệp để tận diệt tàn dư CS.

    Dân số VN chắc là chỉ ở mức xấp xỉ 30 triệu, trong đó khoảng 20 triệu nhiễm chất độc da cam. 10 triệu còn lại, trong đó có xanghứng ko thiết gì đến trách nhiệm duy trì nòi giống. Thằng Bùm thì đã đứt bóng ở Chùa Bà Đanh do kiệt sức, bởi vì tạng của nó ko tiêu được hạt bo bo vả lại phải dồn máu quá mức để duy trì vũ khí bắn CS ở tình trạng tạm ổn.

    Thay vì ngồi nhà hưởng lương hưu, Dove phải đi dân công dựng hàng rào chống tăng, ước mơ lớn nhất đơn giản chỉ là lìa đời cho đỡ mệt.

    Trung sách là như Afghanistan: xây dựng thể chế hóa vô cùng tốn kém. Nền dân chủ đa nguyên được thiết lập với hằng trăm phe nhóm mà bất cứ phe nào nào cũng sẵn sàng đối thoại với các đối tác khác của thể chế bằng “chó lửa”. Cả hai quần đảo HS và TS được bàn giao hòa bình cho TQ trên tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế. Thỉnh thái thú cấp tướng của Hoa Kỳ bị bắn chết trong buồng tắm hoặc nhà xí như anh em cụ Ngô Đình Diệm ngày xưa. Kinh tế phèo phọt, ngoại trừ sự phát triển vượt bậc của lãnh vực ma túy và công nghiệp tình dục được phổ cập đến trẻ em 10 tuổi và được đánh giá là tột đỉnh của nhân loại.

    Hạ sách là Iraq – Libya – Syria. Phe thổ phỉ Hoàng Pao do Nixon nuôi dưỡng lớn mạnh vượt bậc, chiếm trọn Tây Bắc và Lào lấy cố đô Luang Prabang làm thủ đô. Phe Tin Lành Đề Ga của người thượng sau khi thống lĩnh toàn bộ vùng mái nhà Đông Dương và vùng Đông Bắc Campuchia bèn thọc xuống vùng duyên hải chiếm Cam Ranh làm thủ đô. Hai phe này liên kết với nhau, nhờ tranh thủ sự thống nhất cao của Hoa Kỳ và TQ, họ đã đồng thuận lập nên Nhà nước Hmông – Đề Ga dân chủ tự do. Hà Nôi và Sài Gòn bị thòng lọng siết cổ. Chẳng mấy chốc, thảm họa diệt chủng sẽ diễn ra, ko phải là ở cánh đồng hoang Campuchia mà là đồng thời ở các châu thổ Hồng Hà và Cửu Long – hai châu thổ trù phú và đông dân hàng đầu của châu Á.

    Eo ơi! Kinh hãi quá!

    Hú vía, khi tỉnh ra mới biết đó chỉ là giấc mộng Hang Cua.

    • Ác mộng says:

      Hay quá cụ dove ui

    • Lenny Hoàng says:

      Nếu TT Nixon tại vị, thì VN ta sẽ như Nam/Bắc Hàn. Chấm hết! Cái thí dụ sờ sờ trước mắt mà cứ phải nhìn đi đâu? Hehe

    • chinook says:

      Cụ Dove có một óc tưởng tượng rất phong phú . Trong giấc mơ óc tưởng tượng vốn đã phong phú này còn được nhân rộng lên nhiều lần.

      Ngay từ năm 1954, phía Cộng sản đã chuẩn bị chiến tranh chiếm lại Miền Nam khi chỉ đưa một phần người của mình tập kết. Trong khi phía những người Quốc gia khi di cư đem theo hết cả gia đình.

      Khi đánh miền Bắc, Hoa kì chỉ leo thang từng bước, với mục đích ép miền Bắc để cho Miền Nam, hay đúng ra những người không đồng chính kiến một cơ hội sống chung.

      Không bao giờ Miền Nam (và Hoa kì) có í định tiêu diệt chế độ Miền Bắc. Diều hâu nhứt khi đó là Ô Nguyên cao Kf cũng chỉ muốn tấn công miền Bắc để có thêm lợi thế mặc cả.

      Không có Watergate, Nixon chắc chắn không để miền Bác vi phạm những gì đã cam kết bằng giấy mực tại Paris mà không bị trừng phạt. Nhưng khi miền Nam không còn quan trong trong bàn cờ mới đối ới Hoa kì à với một thể chế và chiến lược không thể ( có thể hiểu là không có đường để thua) , miền Bắc chắc cũng chiếm được miền Nam và cuối cùng Vietnam cũng sẽ không khác hôm nay là mấy.

  4. says:

    Vài clip về ông Thiệu và ông Kỳ trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài.


    ( Ông Nguyễn Cao Kỳ nói tiếng Anh )


    ( Nguyễn văn Thiệu nói tiếng Pháp )

    • Hiệu Minh says:

      Tôi thấy trên mạng nhiều người từ phía SG chê ông Kỳ nói tiếng Anh bồi, riêng tôi, chỉ cần nói được như ông đã là tuyệt rồi. Ông Thiệu nói tiếng Pháp cũng chuẩn, Oui or Non, bạn cũng phải thừa nhận 😛

      • chinook says:

        Hai Ông Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kf đều gốc Kaki.

        Đòi hỏi các Ông nói ngoại ngữ như các Chính trị gia gốc luật sư hay cử nhân Political science liệu có quá đáng ?

      • says:

        Nhiều người hay chê các chính trị gia nói tiếng Anh, Pháp bồi, nhưng không bao giờ chịu chỉ ra chổ nào sai văn phạm. Bà TK, sang Pháp năm 18 tuổi, sống tại Pháp 50 năm, nói ông H. nói tiếng Pháp bồi, nhưng lại không chỉ ra được chổ nào sai văn phạm, ngoài duy nhất một chổ thiếu chữ “du” mà thôi.

        Muốn biết khả năng viết tiếng Pháp ông H., đọc lá thơ xin học École Coloniale ông viết tại Marseille ngày 15 tháng 9, lúc vừa đến Pháp có vài tuần lễ.

        Ông Thiệu nói được tiếng Anh, nhưng accent ảnh hưởng going Pháp, giong ông Nguyễn Cơ Thạch. Tiếng Việt ông nói lưu loát nhưng rất là bình dân. Ông Thiệu có một lần đến nói chuyện bang tiếng Anh, đương nhiên do các phụ tá soạn cho, tại Quốc Hội Hoa Kỳ,

        Bức hình Bác HM đăng là lúc các ông Thiệu, Kỳ, cùng các cố vấn Gs Nguyễn Phú Đức, ls Bùi Kim Phượng, Trần văn Lắm … sang thăm Hoa kỳ năm 1969. Sau cuộc họp với Nixon, có joint statement ( Thông Cáo Chung ?) bang tiếng Anh. Chắc là các phụ tá phải viết ra Anh ngữ cho ông Thiệu cầm đọc, chứ nhớ sao nỗi vì không phải tiếng mẹ đẽ.

        • chinook says:

          Có lẽ phải định nghĩa lại Tiếng Tây , hay Tiếng Anh bồi là gì.

          Theo nhận xét của tôi, người Việt khi học tiếng Pháp hay tiếng Anh chú trọng, rành văn phạm hơn người Pháp người Anh cùng trình độ.

          Những người như Ông Thiệu, Ông Kì, Ông Hồ có thể nói tiếng Anh, tiếng Pháp không lưu loát, nhưng không thể coi là tiếng bồi được.

          Hơn nữa ngôn ngữ luôn thay đổi theo thời gian và không gian.

          Hiện giờ ở Mĩ, để trả lời câu hỏi : How are you ?

          Ta có thể trả lời là : I’m good mà không sợ chê sai.

  5. bomho says:

    Nếu ngày ấy Nixon qua được Watergate, có lẽ lịch sử VN sẽ khá hơn bây giờ!

    • VT says:

      @bomho : Lịch sử làm gì có chữ “nếu”
      Minh vừa đi Mas và Sing 10 ngày và nghĩ rằng ” nếu”người Pháp cai tri thuộc địa như người Anh thi 2 ông râu dài , đầu hói làm sao thâm nhập vao Việt nam được . Và nếu vậy thì lịch sử nước mình cũng khác !!!!

      • Người đánh dậm says:

        Tôi có làm lâu lâu với 1 GS Pháp (ông M.L. ở IBSRAM), có lúc nói chuyện “nếu” thì ông ấy bảo người Anh đi tiên phong trong chủ nghĩa thực dân cũ, nhưng họ cũng tiên phong trong phi thực dân hóa; cách thức xử lý của họ khá ôn hòa. Khôn !. Còn người Pháp chậm nhất; khi các thuộc địa đã hết thời mà Pháp vẫn cố níu lại bằng súng. Dại !.

    • D.N.L. says:

      Tôi nghĩ VN.chắc chắn sẽ khác và khá hơn bây giờ !
      Đọc tài liệu mới nhất về Mỹ Cộng (chữ mới American-Cong) thì thấy lòi ra toàn là
      mấy trự Cộng sản Mỹ nhưng tự xưng mình “thiên tả” hoạt động khuynh loát trong
      nhiều tổ chức “hoà bình” trên danh nghĩa nhưng thực chất là thân cộng,công khai
      ủng hộ miền Bắc CS.và tự nhận…chống đế quốc Mỹ ngay trong nước Mỹ.
      Bọn này đã được miền Bắc tưởng thưởng huy chương vì có công là bạn chiến đấu
      chống Mỹ,”kẻ thù chung”.Hoá ra mấy tay này cũng khoái giấy khen,huy chương y
      như nhiều người dân trong nước !

      người dân trong nước !

%d bloggers like this: