Công hàm 1958 đã vi hiến?

0

Hieu Minh Blog. Du khách Lý Quý Vũ đã thực sự thấy thực sự đáng chú ý khi khám phá ra Hiến pháp năm 1946 cũng như câu chuyện liên quan đến Công hàm năm 1958 của Nguyên thủ Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai.

Hiện nay, các trang blog cũng như các bài báo của cả hai bên đã thực sự đánh giá kỹ lưỡng bối cảnh của Công hàm 1958 và những hậu quả không chắc chắn đối với chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Có nhiều quan điểm cho rằng, hồi đó học sinh cũng như học viên tiến sĩ thuộc Việt Nam Cộng hòa (VNCH), thì việc Nguyên thủ Phạm Văn Đồng đồng ý “cung cấp” cho Trung Quốc vô điều kiện là không đúng. thực tế là mọi người không thể cung cấp những gì không phải của họ. tôi.

Ngoài ra, theo lời của Công hàm, không thể thừa nhận là do nhầm lẫn hay cố ý mà phía VNDCCH chỉ thừa nhận lãnh hải của Trung Quốc là 12 hải lý mà không thảo luận về cả hai quần đảo TS cũng như HS. Và rất nhiều quan điểm khác.

Tuy nhiên, ý kiến ​​của Lý Quý Vũ là một phát hiện mới mà thực tế vẫn chưa có người chỉ ra. Để tạo sự đa chiều nhất định, blog Hiểu Minh xin đăng lại Lời khẳng định và ghi nhớ của Trung Quốc năm 1958.

Xác nhận ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về lãnh hải

Lãnh hải của các nước Trung Hoa Dân Quốc rộng 12 hải lý. Sự sắp xếp này đặt trên toàn bộ lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm cả phần đất liền là Trung Quốc cùng với các bờ biển của các đảo, với Đài Loan và các đảo xung quanh bị chia cắt khỏi phần đất liền bởi các vùng biển quốc tế, các đảo thuộc vị trí Penghu, quần đảo Dongsha , quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và cả những gì đến từ các đảo của Trung Quốc.

Lãnh hải của lục địa Trung Quốc và bờ biển của các đảo được tính theo đường thẳng nối các mốc ven biển làm chuẩn, vùng nước từ đường cơ sở này ra ngoài 12 hải lý là lãnh hải của Trung Quốc. Dân tộc. Phần nước của tiêu chuẩn này hướng vào bên trong, bao gồm Vịnh Bột Hải, thành phần ở vị trí biển Quỳnh Châu, thuộc nội thủy của Trung Quốc.

Các đảo thuộc biên giới chuẩn này giao dịch với nội bộ, bao gồm đảo Đồng Đàn, đảo Cao Đăng, đảo Mã Tổ, đảo Bạch Khuyển, đảo Điếu Khách, đảo Kim Môn lớn và nhỏ, đảo Nhị Đàm, và cả đảo Động Đình. đến từ hòn đảo. các đảo trong vùng biển nội địa của Trung Quốc.

Tất cả các máy bay quân sự nước ngoài và cả tàu thủy, nếu không có sự chấp thuận của chính phủ liên bang của Trung Hoa Dân Quốc của các cá nhân, có thể không được xâm nhập lãnh hải ngay vào phòng trên lãnh hải. Bất kỳ tàu quốc tế nào chạy trong lãnh hải của Trung Quốc đều phải tôn trọng các quy chế thích hợp của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc.

Dựa trên các khái niệm của quy định 2 và 3, quy định về cả Đài Loan và các đảo xung quanh của nó, các đảo ở khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, chuỗi đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về các đảo của Trung Quốc.

Đài Loan cũng như các khu vực Penghu hiện đang bị tấn công bằng vũ lực của Mỹ. Đây là một hành động bất hợp pháp xâm phạm chủ quyền và sự trung thực của khu vực Trung Hoa Dân Quốc của các cá nhân.

Đài Loan và Bành Hồ đang chờ được thu hồi, chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tận dụng mọi phương pháp thích hợp vào đúng thời điểm để có được những khu vực này, đây là vấn đề nội bộ của Trung Hoa Dân Quốc. Trung Quốc không cho phép gây xáo trộn quốc tế. Ghi nhớ được sự ủy quyền của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tạm gọi là Ghi nhớ 1958).

“Thưa Đại tướng, Chúng tôi có vinh dự được giáo dục Ngài rằng Chính phủ Việt Nam Tự trị Cộng hòa ghi nhận và cũng cho phép tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về lãnh hải của Trung Quốc.

Chính phủ Liên bang Việt Nam Cộng hòa Tự trị coi trọng sự lựa chọn đó cũng như sẽ tư vấn cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm coi trọng toàn diện lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hoa trên biển. Chúng tôi xin gửi đến các đồng chí lời chào Tổng quát.

Theo Lý Quí Vũ, năm 1958, Việt Nam Tự trị Cộng hòa (VNDCCH) tuân theo Hiến pháp năm 1946 (HP1946). Người đứng đầu chính phủ Liên bang Việt Nam là Nguyên thủ quốc gia, không phải Nguyên thủ quốc gia (TTg), TTg chỉ là thành viên nội các.

Hiến pháp năm 1946 quy định:.

  • Bài báo ngắn 43: “Cơ quan hành chính cao nhất của cả nước là Chính phủ nước Việt Nam tự trị cộng hòa”.
  • Bài 44: “Chính phủ có Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Chủ tịch nước và Nội các.
  • Tủ có Nguyên thủ quốc gia, các Bộ trưởng, Bộ trưởng thay thế. Có thể có Nguyên thủ quốc gia thay thế. ”.

Đảo Núi Le ở Trường Sa. Hình ảnh: internet.

Như vậy, việc Tổng Bí thư PVD ủy quyền Công hàm 1958 mà không có phụ đề: “Theo lệnh của nguyên thủ VNDCCH” trái ngược với sự sắp xếp của HP1946, điều này cho thấy Công hàm 1958 có thể đã vi hiến. Nhân tố:.

Điều 49, HP1946 đề cập rõ ràng:

Quyền hạn của Nguyên thủ quốc gia Việt Nam tự trị cộng hòa:.

a) Thay mặt đất nước …

h) Các hiệp ước về chỉ định với các nước …

Điều 53 ngắn gọn bổ sung nhấn mạnh quyền lực của Chủ tịch nước: “Mỗi sắc lệnh của Chính phủ cần được sự ủy quyền của Chủ tịch nước Việt Nam”.

Nên nhớ 1958 là một loại hiệp ước biên giới nên theo HP1946, người có thẩm quyền hiến pháp phải là Chủ tịch nước VNDCCH. Hoặc nếu không, Nguyên thủ quốc gia cần thêm câu “Theo lệnh của Nguyên thủ quốc gia …” và cũng do Nguyên thủ quốc gia ủy quyền.

Đúng hay sai, hãy cho phép các nhà làm luật chính thức nói liệu Công hàm 1958 có vi hiến hay không nếu Hiến pháp năm 1946 được áp dụng.

Nội dung web HP1946 ngay tại đây:.

Chính phủ liên bang đã thực sự chăm sóc tất cả. Cho phép cảm thấy tự tin.

Một cái bàn trong blog như thế này là để mỗi chúng ta duy trì một cuốn nhật ký trí tuệ, hướng dẫn con cháu chúng ta những bài học cơ bản về chủ quyền quốc gia và thể hiện tình yêu đối với dân tộc.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây