Công hàm “Phạm Văn Đồng” – Những khía cạnh pháp lý.

Công hàm PVD. Ảnh: internet

Hiệu Minh Blog. Bác Ai Nghĩ Dùm Tôi sưu tầm được bài viết sau trên internet. HM Blog xin đăng lại để bạn đọc tham khảo. Vì lý do nhậy cảm về biển đảo, đề nghị các bạn comment một cách xây dựng và giữ hòa khí.

Trong hồ sơ chứng minh chủ quyền của TQ tại hai quần đảo HS và TS, công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng là một bằng chứng quan trọng.

Công bố của TQ về lãnh hải ngày 4 tháng 9 năm 1958 gồm 4 điều, nội dung phần quan trọng tóm lược như sau :

Điều 1 : Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)… Điều 3 : Tất cả phi cơ, thuyền bè không được phép của TQ thì không được xâm phạm vào không và hải phận của nước TQ. Điều 4 : Nguyên tắc qui định ở điều 3 (và 2) được áp dụng cho cả HS và TS.

Công hàm Phạm Văn Đồng. Ngày 10 tháng 9 năm 1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận công bố về lãnh hải của TQ, nguyên văn như sau :

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.

Xung quanh chuyện này

Trước đó, năm 1956, ông Ung Văn Khiêm, nhân tiếp phái đoàn ngoại giao TQ, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao có tuyên bố với Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam : chiếu theo tài liệu VN thì HS và TS thuộc về TQ.

Ông Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào : Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống. Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài « Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa ».

Năm 1977 cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích quan điểm của ông về công hàm này như sau : « đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi ».

Sau đó ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 nói như sau : « Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.

Thêm vào đó, vào lúc ấy Việt Nam phải tập trung hết mọi lực lượng vào cuộc chiến chống Mỹ nên cần bạn bè khắp nơi. Tình hữu nghị Việt-Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị.

Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hòang Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.

Đặc biệt, việc này còn nhắm vào nhu cầu cấp thiết lúc đó là ngăn ngừa đế quốc Mỹ không sử dụng các quần đảo đó để tấn công chúng ta. Việc lãnh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung Quốc không có can hệ gì đến chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cả ».

Thông tấn xã Việt Nam ghi lại và đăng ngày 3 tháng 12 năm 1992.

Ý của ông Cầm là vì HS và TS lúc đó thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nên việc công nhận như thế chỉ là « tạm công nhận », không quan hệ gì đến « chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam ».

Nhưng một công hàm quốc gia đâu thể nào công nhận « vào thời chiến » và không công nhận vào thời khác, nói như ông Đồng, hay « tạm công nhận » như ông Cầm như thế được ?

Công hàm của ông Phạm Văn Đồng là văn bản có tầm quan trọng ở mức quốc gia. Quốc gia có tên gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH – gián tiếp) công nhận chủ quyền HS và TS thuộc về quốc gia có tên gọi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Nội dung công hàm này không thể thay đổi theo thời gian hay thay đổi theo tình trạng chính trị. Lời nói chữa lại sau này khó mà có giá trị phủ nhận công hàm ghi trên.

Công hàm của ông Đồng có hai ý nghĩa :

1/ Công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.
2/ Phủ nhận chủ quyền của VNDCCH tại HS và TS.

Lời nói chữa lại của ông Đồng năm 1977 và của ông Cầm năm 1992 củng cố thêm hai ý nghĩa này.

Nhưng dầu vậy, ta có thể hóa giải công hàm này qua một số thủ tục cần thiết.

Bà Monique Chemillier-Gendreau, tác giả cuốn « La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys » có cho rằng công hàm của ông Đồng không có giá trị pháp lý vì lý do « người ta không thể cho cái mà người ta không có ».

Ý kiến này dựa trên tinh thần hiệp định Genève, ông Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc lại. Hai quần đảo HS và TS trong giai đoạn 1954-1975 thuộc quyền quản lý của VNCH. VNDCCN không có thẩm quyền gì ở HS và TS nên tuyên bố của ông Đồng không có giá trị.

Một vài nhà nghiên cứu VN dựa lên thuyết này (estoppel) để khai triển thêm, chứng minh công hàm của ông Đồng không có giá trị về chủ quyền TQ ở HS và TS.

Như thế, theo thuyết này công hàm của ông Đồng không có giá trị, TQ không có chủ quyền tại HS và TS. Nhưng chủ quyền của VNDCCH có được xác lập tại nơi đây hay chưa ? Không có gì chắc chắn hết.

Bà M. Chemillier-Gendreau dựa lên thuyết « liên tục quốc gia » để cho rằng VNDCCH có thể kế thừa VNCH để có quyền chủ quyền tại HS và TS.

Nhà nước VNCH, tiếp nối nhà nước thực dân Pháp, vốn là đại diện triều đình nhà Nguyễn, quản lý liên tục và khai thác HS và TS. Như thế chủ quyền của VN tại HS và TS liên tục từ nhiều thế kỷ, từ chúa Nguyễn, Tây Sơn, nhà Nguyễn, thực dân Pháp cho đến thời VNCH. Sau 1975, chính phủ lâm thời CHMNVN chưa bao giờ tuyên bố HS và TS thuộc về TQ.

Như thế, sau khi hiệp thuơng thống nhất đất nước 1976, CHXHCNVN có thể lựa chọn lập trường của VNCH và CPLTCHMNVN để khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS.

Nguồn: Ai Nghĩ Dùm Tôi

Advertisements

56 Responses to Công hàm “Phạm Văn Đồng” – Những khía cạnh pháp lý.

  1. xhanh says:

    noi chung la minh cu ko nhat quan nen de 3 tau no laoi dung no cuoi cho

  2. nha khoa says:

    nha khoa…

    […]Công hàm “Phạm Văn Đồng” – Những khía cạnh pháp lý. « Hiệu Minh Blog[…]…

  3. sanh says:

    tôi định viết nhưng thấy bài này viết cũng quá đủ rồi
    http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-20-cong-ham-1958-voi-chu-quyen-hoang-sa-va-truong-sa-cua-viet-nam

  4. phucnguyen says:

    Thua cac bac, co ai da doc bai nay cua bac Truong Nhan Tuan chua? rat ky va sau sac:
    http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=771&prev=796&next=763

    • Quý Vũ says:

      àha, thì ra……….

    • O.L says:

      OMG…

    • jan says:

      quote:
      Op woensdag 22 juni 2011 16:46 schreef Chooselife het volgende:
      Ja hoor, daar zijn ze weer: De VS. Die regelen het wel even.

      Ik zit te wachten tot het moment ze Mars en Saturnus claimen.
      vâng ,họ lại đến đấy :Nước Mỹ sẽ làm(giàn xếp) .
      De VS heeft nog helemaal niks gezegd, Vietnam heeft ze alleen maar gevraagd om zich er mee te bemoeien en daar zijn ze tot nu toe ook nog niet op in gegaan (en ik verwacht eerlijk gezegd ook niet dat ze dat gaan doen).
      woensdag 22 juni 2011 @ 16:59:38 #22
      Nước Mỹ hoàn toàn chưa nói gì,Việt Nam chỉ hỏi họ can thiệp vào mà thôi và cho
      đến giờ họ chưa có làm (và thật lòng mà nói tao cũng ko mong họ làm ).
      China is de historische vijand van Vietnam, al duizenden jaren. Dus zo raar is het niet dat ze zelfs liever de Amerikanen daar zien dan de Chinezen.
      Trung Quốc là kẻ thù lịch sử của VN ,đã hàng ngàn năm .Vậy ko có gì lạ là họ muốn
      (thích hơn) là nhìn thấy người Mỹ ở đấy hơn là nhìn thấy người TQ .
      Đây là mấy phản hồi trên trang mạng AD Hà Lan .

  5. Quý Vũ says:

    Thưa các bác, như comment trong bài trước, tôi có viết: tranh luận mà có lợi cho tàu thì chẳng ai muốn cả. Mong các bác lượng thứ. Tôi xin bỏ chạy trước………

  6. Quý Vũ says:

    Anh em nhà A, B đang tranh nhau căn nhà bố mẹ để lại. Bên hông nhà có eo đất M mà B đang trồng rau.

    Lão C hàng xóm tham lam, lân la:

    – Ê, này chú A, cái chỗ B nó trồng rau vốn là của tớ, chú mày ở đây lâu năm chắc biết. Thôi thì để rõ trắng đen, chú A mày viết cho tớ mấy chữ.

    Vốn kẹt với lão C vì đang nhờ lão ấy mấy việc, A ok ngay: Ừ, chỗ thằng B trồng rau là của anh, tôi CÔNG NHẬN điều đó.
    ……………….. vài năm sau ………………………

    A chiến thắng trong việc tranh căn nhà của bố mẹ, sau đó, lên tòa án đòi lại miếng đất trồng rau, theo các bác, tòa án xử thế nào?

    • Quý Vũ says:

      Xin nói rõ thêm: Eo đất trồng rau đó không có trong…. sổ hồng nhà AB.

      • Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

        he…he…cái phần nói rõ thêm lại là phần tối tăm nhất.. 😛

    • Nguoi Viet says:

      Ấy bác Quý Vũ cứ ở lại tranh luận tiếp, đừng bỏ chạy như thế. Cứ coi như bác đóng vai quân xanh để bà con ta tập dượt chiến đấu với bác. Tranh luận trong nhà mà không xong thì làm sao bước ra đấu trường QT được.

      Cái ví dụ bác đưa ra không ổn vì bác xây dựng trên giả định là hai anh AB có toàn quyền quyết định mọi việc liên quan đến chủ quyền ngôi nhà và miếng đất. Tôi sẽ không phản đối bác nếu bác ví với 2 gia đình (a và b) cùng một huyết thống đang có xích mích với nhau. Ông A (một trong những vị có vai vế trong gia đình a) sau khi nghe những lời dụ dỗ ngon ngọt của gã C đã suy nghĩ: “ừ nhỉ, cái miếng đất bọn nhà b đang sử dụng chả đem lại lợi lộc gì cho mình. Hơn nữa hàng ngày bọn nó đem nước tiểu ra tưới rau mùi khai bay sang cả nhà mình. Thôi thì viết đại vài chữ ủng hộ thằng C. Nó to con thế mỗi lần đánh nhau với nhà b có nó đứng đằng sau cũng đỡ”.

      Cái miếng giấy ấy thực ra không có giá trị trước toà vì không được các thành viên khác trong gia đình a tán thành. Vì vậy nếu các thành viên nhà ab đều một lòng tuyên bố: “Chúng tôi phản đối; chúng tôi chưa bao giờ công nhận miếng đất ấy là của thằng C; tay A đã lạm quyền làm bậy”… thì chắc chắn toà sẽ trao lại mảnh đất cho gia đình ab. Còn nếu trước toà mọi thành viên nhà ab đều im lặng hoặc cãi nhau chí choé thì phần thắng sẽ thuộc về C.
      Điều quan trọng là gia đình a phải dũng cảm xoá bỏ mặc cảm “xấu chàng hổ ai”, còn gia đình b phải độ lượng với những sai lầm trong quá khứ của tay A, không nên tận dụng cơ hội trước tòa “làm xấu mặt bọn nó một phen cho bõ tức”.

      Còn cái “phần nêu rõ thêm” của bác thì tôi ko đồng ý. Đúng là tối om om.

      • Quý Vũ says:

        Tại thằng……đánh máy đó bác, vạn lần xin lỗi các bác…….

  7. Nguoi Viet says:

    Rất vui vì càng ngày càng có nhiều người quan tâm đến chuyện này. Thiết nghĩ đây là vận mệnh quốc gia nên những người yêu nước không thể vì lý do “chủ đề nhạy cảm” mà tránh không bàn tới, bởi vì như vậy là nhường hoàn toàn sân chơi cho tụi tàu tác oai tác quái.
    Cá nhân tôi nghĩ giữa người Việt với nhau vẫn còn nhiều nhiều dị biệt về cách tháo gỡ CH PVĐ. Điều này dẫn đến thiếu sự phối hợp, hoặc đôi lúc cãi/chửi nhau giữa người Việt trên các forum QT. Đây là thực trạng rất đáng buồn.
    Tôi cũng hay vào các forum QT để tranh luận với bọn tàu. Bao giờ cũng vậy, bọn tàu luôn đưa CH PVĐ ra làm át chủ bài để KL rằng “không hề có tranh chấp chủ quyền về HS và TS vì chính phủ VN đã công nhận đó là lãnh thổ TQ”.

    Thường thì cuộc tranh luận diễn ra như sau

    -Tôi: Cái CH đó không có giá trị vì “anh không có quyền công nhận hoặc cho những gì không thuộc quyền quản lý của anh”.
    -Tàu khựa: ông PVĐ thay mặt chính phủ VNDCCH (báo ND cũng đã đăng toàn văn CH đó), sau khi VN thống nhất cũng chính phủ đó đã thay mặt nhân dân VN quản lý toàn bộ đất nước.
    -Tôi: Ông Đ không phải là tiếng nói đại diện cho toàn thể DT VN. Cái CH đó chưa bao giờ được thông qua bởi QHVN, cơ quan có quyền QĐ những vấn đề liên quan đến lãnh thổ.
    -Tàu khựa: không chỉ có ông Đ, ông Ung Van Khiem cũng từng chính thức công nhận các đảo đó là của TQ (mẹ nó chứ, đến lúc này thì không thể kìm được nên phải chửi thề).
    -Tôi: Trong lịch sử VN thời nào cũng có những kẻ ăn lộc tàu và làm những điều đi ngược lại với lợi ích của đất nước (các cụ liên quan nếu có hắt hơi ở dưới mồ cũng đừng trách nhá, chủ quyền của đất nước phải được ưu tiên). Tuy nhiên họ không bao giờ là đại diện cho ý chí của DT VN. Năm 1975 sau khi VN thống nhất Mr Le Duan đã yêu cầu TQ trả lại đảo HS. Năm 1979 BNG VN lại một lần nữa chính thức tuyên bố HS và TS là lãnh thổ không thể tranh cãi của VN. Điều đó cho thấy quan điểm và chính sách nhất quán của chính phủ VN về các quần đảo đó.

    Đại khái là như vậy. Nếu các bạn vừa muốn thắng trong tranh luận lại vừa muốn giữ nguyên hình ảnh cho những ai đó thì các bạn đang làm một việc impossible.

    • KTS Trần Thanh Vân says:

      Tôi tán thành ý kiến này. Trở lại vấn đề đã bàn:
      – Hiệp định Geneve 1954 giảm một nửa chiến thắng cuộc KC chín năm chống Pháp.
      – Để xẩy ra cuộc chiến tranh chống Mỹ 1954 – 1975 để bảo về TQ & LX , để dân ta đổ bao xương máu là tội lỗi.
      – CH PVĐ 1958 không có giá trị, dù TT PVĐ “bị ép buộc”, “bị lừa dối” “là ngây thơ chính trị” hay vì bất cứ động cơ gì cũng là hậu quả của một thứ TÌNH QUỐC TẾ VÔ SẢN KIỂU TRUNG QUỐC và bị TQ ĐIỀU KHIỂN ( ABS đã công bố lập trường của ô Lê Duẩn, ô Lê Duẩn rành mạch hơn )
      – Để cho quân TQ vào đào hầm, làm đường chiến lược xưa kia hay cho CA TQ vào nước ta ngày nay là NỐI GIÁO CHO GIẶC

    • Kim Dung says:

      Chít cười vì cách dẫn giải của Người Việt
      Tuy nhiên, khi đọc các comm, KD thấy mỗi ý kiến đều có lý có lẽ căn cứ trên cớ sở pháp lý mang đặc điểm hoàn cảnh lịch sử lúc đó. Cảm ơn mọi người, cho dù có những tranh luận khác nhau dưới các góc độ khác nhau

      Mọi so sánh đều khập khiễng. Nhưng phải nói, sự kiện Công hàm PVD nó giống như quan hệ dân sự của người VN, về chuyện đất đai, trong bối cảnh Luật Đất đai còn nhiều khiếm khuyết, chưa hoàn thiện.

      CH đó cho thấy VN yếu về cơ sở pháp lý. Nhưng cái yếu đó sẽ chuyển hóa thành cái mạnh, nếu biết cách hóa giải, như ANDT đã phân tích. vì anh ko thể cho cái mà anh ko có quyền sở hữu lúc đó.

      Phía TQ, cũng yếu về cơ sở pháp lý, mà ko chuyển hóa được, dù họ lu loa cái công hàm này. Vì họ ko thể sở hữu cái mà người cho họ ko có quyền. Vì khi đó, dù muốn dù ko, VNCH vẫn tồn tại như một thực thể có thực.

      Vì vậy, chỉ có thể đưa ra trước luật pháp quốc tế và minh bạch mọi điều trong quá khứ xung quanh vụ công hàm. Vì che giấu cũng ko thể được, trong thế giới phẳng. Càng giấu vì e ngại nọ kia, TQ càng áp đảo, VN càng ở thế yếu. Và nhân dân thì phân tâm

      Điều cơ bản, phải có những nghiên cứu bài bản, hệ thống và những chứng cứ mang tính pháp lý về chủ quyền HS- TS của VN. Vì TQ vốn có chiến lược xâm lăng dài lâu, cách làm lại bài bản từ cái lớn nhất, đến cái nhỏ nhất. trong khi rất tiếc, VN mình thường ở thế “ăn sổi ở thì”, luôn bị động và “ đi theo sự việc”.

      • Hà Linh says:

        chỉ có thể đưa ra trước luật pháp quốc tế và minh bạch mọi điều trong quá khứ xung quanh vụ công hàm…
        ——-
        Điều cơ bản, phải có những nghiên cứu bài bản, hệ thống và những chứng cứ mang tính pháp lý về chủ quyền HS- TS của VN

        ———-
        Em nghĩ ý kiến của chị Kim Dung rất chí lý, em hoàn toàn nhất trí!

    • he says:

      Bác nói “Năm 1975 sau khi VN thống nhất Mr Le Duan đã yêu cầu TQ trả lại đảo HS. Năm 1979 BNG VN lại một lần nữa chính thức tuyên bố HS và TS là lãnh thổ không thể tranh cãi của VN. Điều đó cho thấy quan điểm và chính sách nhất quán của chính phủ VN về các quần đảo đó.” hài hước thế . Giống y như chuyện ông Thiệu mạng mấy chục tấn vàng ra nước ngoài, Mấy chục tấn chứ đâu phải mấy chục ký mà muốn mang đi đâu thì mang, thế mà vẫn nhiều nhiều rất nhiều người VN, cả 1 chục thế hệ VN, tin đến sái cái cổ vẫn tin. Khi cuộc chiến 79 nổ ra , VN mới đòi lại HS nhé.Đếch bao giờ tin được kể cả thằng TQ.

      • Nguoi Viet says:

        @he
        Tôi nên tin bạn hay nên tin các học giả như Prof. Carlyle A. Thayer?
        Rất lạ là một số người Việt như bạn không chịu tìm hiểu học hỏi mà lại rất thích phán bậy.

        Nếu bạn biết tiếng Anh nên tìm đọc cuốn “Vietnamese foreign policy in transition” của Carlyle A. Thayer hay “The Soviet-Chinese-Vietnamese Triangle in the 1970s:
        The View From Moscow” của Stephen J. Morris. Những tài liệu đó cũng có thể tìm thấy trên mạng.

  8. Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

    Đây là bài viết không bàn trực tiếp về công hàm Phạm Văn Đồng, nhưng có những nhận định cực kỳ…nghiêm chỉnh trong vấn đề đàm phán lảnh hải với TQ. Định chỉ ném link lên thôi, nhưng thấy bài viết hay nên bôi cả bài lên đây để giúp đến những bác cũng…lười như tôi…(xin lỗi HM đã chiếm dụng đất và những ai phải kéo chuột mỏi tay)

    “Cuộc chiến” không cân sức giữa giới học giả VN và TQ
    16/03/2009 14:01 (GMT + 7)
    (TuanVietNam) – Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam.

    Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

    Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

    Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự.

    Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa – Trường Sa (HS-TS), do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế

    Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

    Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

    Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

    Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

    Trung Quốc “chiếm sóng”

    Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

    Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học.

    Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.

    Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và HS-TS. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển – tạp chí của Thừa Thiên – Huế) . Số lượng bản in hạn chế – 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp.

    Việt Nam… yếu thế

    Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về HS-TS, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành – Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý – lịch sử – chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)…

    Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

    Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo HS-TS (Lưu Văn Lợi, NXB Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, NXB Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít.

    Với kênh thứ ba – thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. – thì sự tham gia của giới khoa học Việt Nam càng yếu ớt hơn.

    Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, TS Từ Đặng Minh Thu (ĐH Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè “Vấn đề tranh chấp Biển Đông” (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng.

    Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

    TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: “So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội”.

    Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và HS-TS lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí.

    Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v… Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

    Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu “nhạy cảm” là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.

    Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: “Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về HS-TS và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả”.

    Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là “nhạy cảm”, “mật”, và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để “xin” được nghiên cứu về HS-TS hay chủ quyền đất nước.

    Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu – thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.

    Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: “Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài”.

    Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” – như khẳng định của Bộ Ngoại giao.

    Chúng ta có thể làm gì?

    Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện “công ích” như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

    Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước.

    Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước “xã hội hóa” công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ…) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí “luật hóa”, để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

    Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế…Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.

    Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách “ngoại giao nhân dân”, tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.

    Đoan Trang
    http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieu…361/index.aspx [www.tuanvietnam.net]

  9. abcvietnamese says:

    TQ luôn mộng xâm chiếm VN, tuy nó mạnh nhưng không có lý.
    ĐCS VN không nên sợ, vì mình có chính nghĩa, bạn bè thế giới sẽ ủng hộ.
    Nguyên cớ gây rối đã bộc lộ dã tâm TQ.
    Cần dứt khoát xem ai là bạn ai là thù mới có hướng đi tiếp.
    Thù ngoài không nguy hiểm bằng thù trong, trước tiên cần tiêu diệt bọn bán nước trước rồi mới bàn đến chuyện đánh giặc ngoài.
    Cần gom sức mạnh toàn dân để đối phó kẻ thù.

  10. NGUYỄN ĐÌNH HƯNG says:

    Không phải nói lấy được,lý giải thế này là đúng đắn,khách quan:

    ” Bà Monique Chemillier-Gendreau, tác giả cuốn « La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys » có cho rằng công hàm của ông Đồng không có giá trị pháp lý vì lý do « người ta không thể cho cái mà người ta không có ».

    Ý kiến này dựa trên tinh thần hiệp định Genève, ông Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc lại. Hai quần đảo HS và TS trong giai đoạn 1954-1975 thuộc quyền quản lý của VNCH. VNDCCN không có thẩm quyền gì ở HS và TS nên tuyên bố của ông Đồng không có giá trị “.

  11. Nguoi Viet says:

    Trưng cầu dân ý về CH PVĐ nếu làm được thì tốt quá, nhưng vấn đề là ai sẽ đứng ra tổ chức. Tất nhiên là chính quyền hiện thời không bao giờ chấp nhận rồi. Đơn giản hơn cả là quốc hội ra tuyên bố cái công hàm đó vi hiến, mà việc này thì xem ra còn khó hơn cả đưa người lên mặt trăng. Chỉ khi nào VN có một chính quyền dám đoạn tuyệt với quá khứ thì mới mơ đến chuyện đó.

    Tiện đây xin đăng lại tuyên bố của bộ NGVN năm 1979 về quần đảo HS và TS. Ở đây có 2 điểm đáng chú ý:
    1. Tại điểm 2 BNG VN cãi rằng CH PVĐ chỉ công nhận lãnh hải 12 hải lý của TQ mà thôi (rất dở vì chỉ là cãi chầy cãi cối);
    2. Tại điểm 3 tuyên bố có phân trần về cái “May 9, 1965 statement” nào đó của chính phủ VNDCCH. Có bác nào biết cái statement này nó ra làm sao mà BNG phải phân trần không?

    **********************************************
    STATEMENT
    BY THE MINISTRY OF FOREIGN AFFAIRS
    OF THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
    ON THE HOANG SA AND TRUONG SA
    ARCHIPELAGOES
    (AUGUST 7, 1979)
    On July 30, 1979, China made public in Peking some documents in an attempt to justify its claim of sovereignty over the Paracels and Spratly archipelagoes.
    As regards this issue, the Ministry of Foreign Affairs of the Socialist Republic of Viet Nam declares:
    1. The Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes are part of Vietnamese territory. The Vietnamese feudal states were the first in history to occupy, organize, control and exploit these archipelagoes in their capacities as Statees. This ownership is effective and in conformity with international law. We have sufficient historical and legal documents proving Viet Nam’s indisputable sovereignty over these two archipelagoes.
    2. The Chinese interpretation of the September 14, 1958 note by the Prime Minister of the Democratic Republic of Viet Nam as recognition of China’s ownership over the archipelagoes is a gross distortion since the spirit and letter of the note only mean the recognition of a 12 -mile limit for Chinese territorial waters.
    3. In 1965, the United States intensified its war of aggression in South Viet Nam and launched a war of destruction by air and naval forces against North Viet Nam. It declared that the combat zone of the U.S. armed forces included Viet Nam and an adjacent zone of about 100 nautical miles from Viet Nam’s coast line. At that time. in their anti-U.S. struggle for national salvation the Vietnamese people had to carry out their fight in all forms to defend their territorial integrity. Moreover, Viet Nam and China then maintained friendly relations. The May 9, 1965 Statement by the Government of the Democratic Republic of Viet Nam had its raison d’黎re only with this historical background.
    4. Since 1972, following the Shanghai Joint Communiqu・ the Chinese rulers have colluded with the U.S. aggressors and betrayed the Vietnamese people, causing more and more obstacles to the war of resistance of Viet Nam. Early in January 1974. just before the Vietnamese people won complete victory in Spring 1975, China occupied by armed forces the Hoang Sa archipelago then administered by the Saigon administration.
    The Republic of South Viet Nam then clearly stated its position as follows:
    – Sovereignty and territorial integrity are questions sacred to every nation.
    – As regards territorial border questions, there often exist between neighboring countries disputes left by history, which may extremely complicated and should be thoroughly studied.
    – The countries concerned should consider this question in the spirit of equality, mutual respect, friendship and good neighborliness and settle it by negotiations.
    5. At the talks held on September 24, 1975 with the Vietnamese Party and Government Delegation on a visit to China, Chinese Vice-Premier Deng Xiaoping admitted that there were disputes between the two sides on the problem of the Paracels and Spratly archipelagoes and that the two sides should later discuss with each other to settle the problem.
    6. By illegally occupying the Hoang Sa archipelago by military force, China has encroached upon the territorial integrity of Viet Nam and trampled underfoot the principles of the United Nations Charter which calls for settlement of all disputes by peaceful negotiations. After launching a large-scale war of aggression against Viet Nam, the Chinese side again raised the question of the Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes while creating an increasingly tense situation along the Vietnamese border and refusing to discuss urgent measures to ensure peace and stability in border areas of the two countries. It is clear that the Chinese rulers have not given up their attempt to attack Viet Nam once again. Their actions pose a serious threat to peace and stability in Southeast Asia and expose more clearly their expansionist ambitions, big-nation hegemonism. bellicose nature, their volte-face and their traitorous character

    Ha Noi, August 7, 1979.

  12. KTS Trần Thanh Vân says:

    Tôi biết Blog HM là một Blog tránh nói đến những vấn đề nhậy cảm. Thế mà HM post cái Entry này lên, tức là HM nhắc mọi người động chạm đến một góc nhậy cảm lắm lắm đó.
    Cho phép tôi nói ý kiến của mình nhé. Bà con đọc đến, nếu thấy tôi nói thẳng thắn quá thì xin bỏ qua cho. Tính tôi thích đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề mà không thích vừa chạy vừa vờn vờn như chó vờn trăng.
    Từ nhiều năm qua, chúng ta cố giữ một thói quen rất trân trọng, tín nhiệm, rất yêu quý cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người thứ hai sau Hồ Chủ tịch, ta coi trọng Cố TTPVĐ về đạo đức, trí tuệ, tài năng và lòng yêu dân yêu nước. Nhưng hôm nay ta đã quá biết, từ hội nghị Geneve 1954, phái đoàn VNDCCH do cố TTPVĐ dẫn đầu đã hoàn toàn phải làm theo cái gậy chỉ huy của Liên Xô và Trung Quốc. Bởi thế, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhiều người trong chúng ta ngày càng hiểu ra rằng Hiệp đinh Geneve là một thất bạn lớn của dân tộc ta, nó dẫn đất nước ta vào một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn trong suốt 30 năm..Một cuộc nội chiến tàn khốc mà sự đau thương mất mát đến nay chưa xóa được. Lâu nay chúng ta đã dần hiểu điều đó, nhưng mấy ai đã dám nói ra? Ít lắm, dè dặt lắm. Người đầu tiên dám nói thẳng là nhà báo Đoan Trang ở Vietnamnet. Nhưng Đoan Trang đã ngồi nhà đá cả tuần vì sự thẳng thắn đó, cuối cùng, Đoan Trang đã rời VNN ra đi.
    Vấn đề là ở chỗ đó. Sau hàng ngàn năm coi PK Phương Bắc là kẻ thù số 1, bỗng nhiên Chủ nghĩa Cộng sản xuất hiện, phe Xã hội Chủ nghĩa hình thành và “tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản” đã để ra Công hàm 1958, để TQ chiếm Hoàng Sa 1974, để lính TQ sang xây hầm bí mật và kho vũ khí đạn dược trong rừng sâu và cả những chuyện lố bịch hôm nay nữa.
    Có điều, sai thì phải sửa. Đời ta không sửa hết thì con ta phải sửa

    • 7xGens says:

      Tôi không nghĩ người cao tuổi như bác Vân lại không biết Hiệp định Geneve 1954 nếu Ngô Đình Diệm không xé nó để năm 1959 lê máy chém (chém không cần xét xử với phương châm: giết nhầm hơn bỏ xót). Tội ác này tôi nghĩ hiện nay ở VN vẫn còn nhân chứng sống đến con số hàng triệu (Những người sinh trước năm 1954~ >55 tuổi). Nghiêm túc hiệp thương, tuyển cử tự do tòan Quốc, thống nhất Việt Nam xóa bỏ giới tuyến tạm thời (vĩ tuyến 17) thì vận nước sẽ theo hướng khác.

      Giả dụ tiếp: Nếu sau WWII, Anh không giúp Pháp quay lại Đông Dương, và Mỹ không sai lầm đánh giá thấp Việt Nam, nghiêm túc quan hệ bình đẳng theo thư mong muốn của ông Hồ thì Việt Nam có chính quyền ‘tam quyền’ đúng nghĩa trước Trung Quốc ít nhất 4 năm. Nên nhớ cuộc bầu cử năm 1946 là bầu cử tự do đúng nghĩa nhất trên tòan cõi Việt Nam tính đến nay. Kiến trúc sư không ai khác là ông Hồ- người từng sống ở Anh/Pháp, qua xem ‘nữ thần tự do’ Mỹ, nghiên cứu Hiến Pháp Mỹ, Pháp đã được thể hiện trong ‘Tuyên ngôn độc lập’.

      Hoặc sau Điện Biên Phủ trên đất (1954) nếu Mỹ không can thiệp sâu thì Việt Nam cũng sẽ khác.

      Các vấn đề trên là từ ngòai đem đến VN chứ không phải Nhân Dân VN lựa chọn (hiểu theo nhĩa đa số hoặc số những người nhận thức sâu sắc là nhiều hơn).

      Nếu các giả thiết trên (yếu tố bên ngoài) sảy ra thì TQ không có cơ hội chọc ngoáy sâu vào VN mà thực chất mọi giúp đỡ của họ là để ‘trói’ VN- theo đúng nghĩa đen, hoặc nhằm giúp chính họ.

      Thôi, không giả sử những điều đã không sảy ra với dân tộc Việt Nam từng đau khổ nữa.

      Từ những suy tư trên tôi tối nay mở GoogleEarth ngắm kỹ ‘dáng đứng Việt Nam’ xem có gì mà nó thu hút nhiều Thú Hoang thế.

      Qua một hồi thì mò ra đường link sau: http://www.panoramio.com/user/1912001/slideshow?tag=Vietnam%20-%20Spratlys.
      Bộ sưu tập ảnh thực tế trên các đảo thuộc Trường Sa- và biển VN của một bác lấy níck ‘Người buôn ký ức’- (cao tuổi rồi chăng?).

      Các bác xem qua nó thì đấy chính là điều khảng định chủ quyền mạnh mẽ nhất (99,9%), chứ không phải thứ Mouth Job như bẩn bựa khựa vẫn làm. Để duy trì nó thì không cách nào khác là cứ phải ‘cồm cộn sau lưng’ như bác HM từng viết. Nhìn đàn bò và gia cầm thấy sau này số xương bò/gà/chó/lợn mà quân và dân Việt trên các đảo dùng sẽ tạo ra ‘đảo xương’ mà khựa có muốn cũng không thể có. Vì chúng từ cổ cho đến nay cũng mới chỉ cướp đọat được 1 số đảo chìm (năm 1988)- trên quần đảo TS.

      Nên nhớ văn bản quốc tế được nhiều bên ký kết- DOC (chưa ráo mực), khựa nó còn đái lên nữa là nói chi cái văn bản ngọai giao (không phải văn bản ký kết ít nhất 2 bên).

      • chinook says:

        Toi co vai thac mac ve comment cua ban 7xGens

        Toi lon len o Mien Nam, luc Tt Ngo dinh Diem bat dau cam quyen, toi dang hoc Trung-hoc va doc bao hang ngay. Toi nho la Ba Cut (tuong Le quang Vinh cua Hoa Hao) la nguoi duy nhat bi xu bang may chem, sau khi da duoc xet-xu . Vay neu duoc xin Ban 7xGens lam on cho biet co nhung ai khac bi Chinh phu Ngo dinh Diem xu bang may chem trong giai doan do de giai-toa thac-mac lau nay cua toi, cung nhu nhieu nguoi sinh-truong trong Mien Nam

        Co the noi la Chinh -quyen Ngo dinh Diem khong ton-trong , nhung khong the noi Chinh-quyen nay xe hiep-dinh Geneve vi chinh-quyen quoc-gia tien-nhiem ( chinh phu Buu Loc)khong he ky vao hiep-dinh nay

        Xin Cam on

      • Quý Vũ says:

        hehe, cái dzụ “cồm cộm sau lưng” là của tớ, còn “cồm cộm phía trước” là của….lão gia chủ

        https://hieuminh.org/2010/08/08/bien-dong-tu-sui-tam-den-nhiem-xa/#comment-6567

      • Phù Nam says:

        7xGens đã bị cuốn lịch sử giáo khoa, điều chế ra trong phòng thí nghiệm như anh hùng lê văn tám,Stalin quang minh chính nhân quân tử, bác Mao anh cả,… của đỉnh cao trí tuệ nhà ta chế ra , làm cho 7xGens ngủ quên hay dốt lịch sử!

      • Quang Vỹ says:

        Hehehe…tôi thì thuộc thế hệ sau không biết chính xác là bên nào xé hiệp định Geneve trước. Nhưng có một chi tiết mà sau này chính báo ta đăng tải là đáng lẽ bác Lê Duẫn theo hiệp định thì phải tập kết ra bắc, nhưng theo lời kể của bác Cao Đăng Chiếm thì nữa đêm theo chỉ đạo bác Lê Duẫn đã bí mật quay vào bờ ở lại miền nam???? như vậy là không đúng tin thần hiệp định Geneve rồi phải không??

    • OANH OANH says:

      Hồi ấy có ai nghĩ được rằng những kẻ nói mình theo MÁC-LÊ NIN mà thâm hiểm,đểu cáng thế? Nếu chị TTV làm công tác ngoại giao thời đó,chị cũng phải nói như các vị tiền bối thôi.

      “Bốn phương vô sản đều là anh em” ,việc anh em ăn thị nhau,ở Việt nam vô cùng hiếm.

      Thế và lực ta trước 1954 cũng có vậy.

      Về TS và HS: “NGƯỜI TA KHÔNG THỂ CHO CÁI GÌ MÀ NGƯỜI TA KHÔNG CÓ”-Công hàm 1958 của CỤ PHẠM VĂN ĐỒNG không có giá trị gì về TS và HS,2 quần đảo này do chính phủ MIỀN NAM VIỆT NAM quả lý,được hiệp nghị GIƠ NE VƠ phân định từ 1954.

  13. Le Duy says:

    Chủ quyền biên giới quốc gia không thể căn cứ vào một công hàm hay lời tuyên bố của bất kỳ lãnh đạo nhà nước nào. Điều này phải do Quốc hội quyết định.

  14. Guest Who says:

    Vấn đề là phải công nhận VNCH là một chính thể hợp pháp đã từng tồn tại trên một phần lãnh thổ Việt Nam chứ không phải là “Ngụy” như bấy lâu nay. Vấn đề này kéo theo phải công nhận cuộc chiến VN là cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” giữa hai chính thể hợp pháp chứ không phải là cuộc chiến giải phóng đất nước khỏi Mỹ xâm lược như bấy lâu nay. Người ta có dũng cảm để làm điều đó??

  15. ti4mat says:

    Kính thưa các bác tôi hoàn toàn là người ngoại đạo về Luật, nhưng cũng xin một chút lạm bàn ở đây, mong các bác chỉ giáo:
    – Trước hết chúng ta nên thẳng thắn thừa nhận Công hàm của TT.PVĐ là một sai lầm của chính phủ ta (Chúng ta cũng chẳng cần phải phán xét vì sao có các sai lầm này, vì điều quan trọng hiện nay chúng ta đang cần phải đoàn kết mọi con dân nước Việt để đối phó với TQ)
    – Tuy nhiên theo tôi chúng ta có thể dựa vào các lý luận, hành động sau để làm giảm thiểu các sai lầm này:
    1/ Những tuyên bố của CP VNCH trong trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 để khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam – Tôi đã cố tìm nhưng chưa thấy một tuyên bố nào của TQ bác bỏ hay lên án CP VNCH xâm lược Hoàng Sa – Trường Sa sau trận hải chiến 1974 nếu bác nào tìm được nên đưa lên – xin cảm ơn nhiều.
    2/ Công hàm của TT.PVĐ dù có tính Pháp lý nhưng chắc chắn nó phải nhỏ hơn hiến pháp, lòng dân vậy chúng ta cũng có thể làm như các nước lập ra tòa án để xác nhận công hàm này là vi hiến và bác bỏ giá trị của công hàm này (buồn thay ở ta còn nhiều cái lớn hơn hiến pháp nên điều này không thể thực hiện được) hoặc là làm theo bác Nhân Ngôn, Quý Vũ đề nghị là phải công khai minh bạch mọi thứ và tổ chức trưng cầu dân ý không chỉ của người dân Việt đang ở tại đất nước, mà còn của tất cả người Việt trên toàn thế giới để ra tuyên cáo không thừa nhận tính pháp lý của công hàm này (Có lẽ chúng ta cũng nên công khai cả những gì thứ trưởng HSX mới thảo luận, thống nhất với TQ để tránh lập lại sai lầm một lần nữa)
    3/ Tôi cũng không đồng tình với ý kiến hiến pháp năm 1946 vẫn còn hiệu lực đến năm 1958 ở miền nam vì tại hội nghị Genève 1954 trong số các phái đoàn tham dự có cả phái đoàn VNDCCH do PVĐ là trưởng đoàn và có cả phái đoàn Quốc gia Việt Nam do Nguyễn Quốc Định sau đó là Nguyễn Trung Vinh và cuối cùng là Trần Văn Đỗ làm trưởng đoàn, và sau đó sự di cư, tập kết qua lại của người dân hai miền để chọn một chế độ mà họ thừa nhận, và việc hai chính phủ ở hai miền đã được thừa nhận (sau này còn có chính phủ của mặt trận giải phóng miền nam) cùng tham gia ký hiệp định Paris. Vì vậy nếu nói hiến pháp năm 1946 của VNDCCH có giá trị ở miền nam tới năm 1958 thì không hợp lý

  16. cua đồng says:

    Đơn giản là nhờ cụ Đồng hi sinh một ít tiếng tăm vì dân tộc.
    Nhưng chủ yếu phải câu giờ,Làm cho ta mạnh lên chứ vay của ai thì phải trả chứ.(trả Hoàng Sa rồi kể ra cũng sòng phẳng)

    • ti4mat says:

      Một tấc đất của lãnh thổ cũng là thiêng liêng, cũng là xương máu của tổ tiên, dân tộc, ai dám vay, ai dám trả mà nói chuyện sòng phẳng ở đây, nói vậy là có tội với những người đã nằm lại ở Hoàng sa – Trường Sa

  17. NHÂN NGÔN says:

    Vấn đề này đã được nhiều học giả cũng như cộng đồng mạng “mổ xẻ’ từ vài năm nay. Các còm sĩ cũng đã điểm qua nhiều ý kiến xác đáng. NN tôi xin lạm bàn bổ sung vài ý nhỏ, có gì chưa thỏa đáng, xin được chỉ giáo thêm!
    * Cho đến năm 1958, hiến pháp 1946 của nước VNDCCH vẫn còn hiệu lực trên toàn lãnh thổ của VN (bao gồm cả miền Nam). Do vậy, theo tôi, công hàm của ông TT PVĐ chắc chắn có giá trị pháp lý theo luật pháp quốc tế.
    * Đến năm 1959, miền Bắc VN mới có hiến pháp mới.
    * Trên thực tế quan hệ giữa VNDCCH và CHNDTH đã từng có việc TQ trả lại đảo BẠCH LONG VĨ, đây cũng là bằng chứng cho thấy nước ‘lạ” đâu chỉ luôn có dã tâm thôn tính lãnh thổ VN?
    * Lập trường của VN đối với TQ thiếu nhất quán, thay đổi theo từng giai đoạn, ví dụ như: nội dung của hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992…
    * Ngoài quan hệ trên danh nghĩa quốc gia giữa VNDCCH (sau này là CHXHCNVN) và CHNDTH, chắc phải còn những thỏa thuận, cam kết giữa 2 Đảng cộng sẢn cầm quyền nữa mà…
    * Chúng ta hãy đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, tạm gác lại khác biệt ý thức hệ trong quá khứ, cố gắng k0 nên phân biệt ý kiến của phía nào (trong nước hay hải ngoại…). Muốn đấu tranh với Tàu, trước hết cần đoàn kết giữa mọi người con mang dòng máu Lạc Hồng có tinh thần ái quốc.

    Kết luận: theo tôi, chỉ có công khai minh bạch mọi thông tin liên quan và nếu cần thì trưng cầu dân ý mới có thể giải quyết ôn thoả vụ việc này!

    • Dân đen says:

      To bác Nhân Ngôn:
      Theo những tài liệu tôi được đọc thì ý kiến thứ nhất của bác rất không thỏa đáng. Vì lẻ năm 1946 chỉ mới có nước Pháp công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng và là một thành viên trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp. Chứ tại thời điểm ấy Liên Hiệp Quốc(Liên Hiệp Quốc chính thức được thành lập ngày 24 tháng 10 năm 1945), tổ chức quốc tế có giá trị pháp lý cao nhất lúc ấy, chưa hề công nhận sự tồn tại của VNDCCH. Và như vậy hiến pháp của VNDCCH lúc ấy chưa có giá trị trên trường quốc tế.

      Còn về đảo Bạch Long Vĩ, bác có ý ca ngợi ý tốt của khựa thì khôi hài quá. Tôi xin tóm lược thông tin về BLV:
      * Trước TK19, do không tìm ra nước ngọt nên không ai không định cư, đảo còn có tên Vô Thủy và một tên khác là Phù Thủy Châu.
      * Theo Công ước Pháp-Thanh 1887, Bạch Long Vĩ – nằm phía tây kinh tuyến 105°43′ tính từ Paris (tức 108°43′) trong vịnh Bắc Bộ – thuộc về nước An Nam (xứ bảo hộ của Pháp).
      * 1920, sau khi tìm được nước ngọt, dân vùng Quảng Yên – Việt Nam tới đây sinh sống, bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt và khai thác hải sản.
      * 1937, vua Bảo Đại phái người tới đảo lập đồn canh phòng và xây dựng chế độ lý trưởng.
      * Thế chiến II, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và cho quân ra đảo tước khí giới của binh lính Bảo Đại. Năm 1946, Pháp quay trở lại Đông Dương tiếp tục khôi phục lại chế độ cai trị trên đảo.
      * 1949, Quốc dân đảng Trung Quốc thua Trung cộng đã chạy ra Đài Loan, tiện thể chiếm Bạch Long Vĩ. T 7-1955, quân Trung cộng đánh chiếm đảo.
      * 16/01/1957, VNDCCH đã tiếp quản đảo, khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với đảo, vùng biển, vùng trời và thềm lục địa xung quanh đảo. Trước khi giải phóng, trên đảo có 135 hộ dân với 518 người sinh sống.
      Thực tế mà nói lúc ấy Trung cộng trả đảo lại cho VNDCCH là vì nó chỉ là 1 nước nghèo, chưa có nhu cầu về nguyên – nhiên liệu. Còn ngư trường lúc ấy thưa thớt tàu khai thác, công suất – kỹ thuật yếu kém. Nó lại chưa tính được nhu cầu vào TK 21 nên mới trả lại. Bằng chứng rõ ràng là khi bác Triết nhà sản ra đảo tuyên bố về nhu cầu bảo vệ biển đảo của VN thì Trung cộng cho mụ Du la lên về quyền của nó ơi ới đấy thôi!

      thân mến

      • NHÂN NGÔN says:

        Tôi ghi nhận những thông tin và ý kiến phản biện của bạn. Để làm rõ thêm, xin lưu ý là tôi xét theo góc nhìn “chính thống” của VNDCCH (và sau này là CHXHCNVN), theo đó:
        • Nước VNDCCH ra đời 1945 và Hiến pháp 1946 là kết quả bầu cử dân chủ tự do của toàn thể dân VN lúc đó. Do vậy, cho đến 1959 thì hiến pháp này vẫn còn hiệu lực trên toàn thể lãnh thổ VN. Hiệp định Geneve k0 nhằm tách VN thành 2 quốc gia (đã dự tính tới tổng tuyển cử 1956). Việc Mỹ và TT NĐD thành lập VNCH ở miền nam được coi là “ly khai” và chính quyền NĐD là ngụy… Vì vậy, chính phủ VNDCCH tự coi mình là chính quyền hợp pháp (theo hiến pháp 1946) nên có quyền “quản lý” toàn lãnh thổ, biển đảo của VN. => Công hàm của TT PVĐ hoàn toàn có giá trị pháp lý.
        • Xuất phát từ lập luận trên đây thì việc “ghi nhận & thán thành…” trong công hàm của TT PVĐ đâu phải là “người ta không thể cho cái mà người ta không có » như quan điểm của bà Monique Chemillier-Gendreau.
        • Về vấn đề đảo Bạch long Vĩ, ý của tôi là: khi đánh giá các sự kiện lịch sử, chúng ta cần/nên cẩn trọng, khách quan và tránh cực đoan.. Dù chính quyền TQ trên thực tế có rất nhiều việc làm rất xấu xa, thâm độc… đối với VN, nhưng chúng ta cũng k0 thể phủ nhận, né tránh những gì họ đã làm tốt/có lợi cho chúng ta…

        Nice Day!

  18. Hà Linh says:

    Việc lãnh đạo ta tạm công nhận như thế với Trung Quốc không có can hệ gì đến chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cả
    ———–

    em nghĩ nếu muốn chứng minh “không có can hệ gì” thì phải đưa ra chứng cứ rõ ràng là văn bản nói trên không có giá trị pháp lý…

  19. F361 says:

    Những anh “hải ngoại” luôn lôi cái chuyện Công hàm 1958 nhằm 2 việc :

    + Che bớt và biện minh cho chuyện bán nước thời VNCH Ngô Đình Diệm và Nguyễn văn Thiệu.
    + Nhục mạ một người đã thắng họ.

    Tại sao họ không nghỉ về mặt tích cực dưới góc độ công pháp quốc tế của công hàm là khẳng định HS và TS chưa bao giờ của 3Ship. Đừng tranh cãi để cho tui 3 Tàu khoái chí. Còn nếu ai muốn tự sướng việc này thì hãy vào các web 3 Tàu mà nịnh nọt chúng.

    Mong rằng tất cả các web, blog Việt đừng nói tới công hàm này nữa. Hãy dành thì giờ tìm kiếm các chứng lý càng mạnh cho chủ quyền Biển đông của Việt Nam.

    F361

    • Quý Vũ says:

      Tôi không muốn viết comment vừa rồi đâu bác, nhưng Công hàm 1958 là việc thật, dũng cảm đương đầu với hệ lụy của nó để đấu tranh cho lẽ phải là việc phải làm. Có những việc khó quá thì phải dựa vào toàn dân tộc.

      Tôi nghĩ, chỉ có “trưng cầu dân ý”, chỉ có nhân dân thực hành quyền tối cao của mình mới có thể tuyên cáo Công hàm 1958 vô hiệu.

    • misa says:

      Cái này là văn hoá “đà điểu”, thấy kẻ thù, chạy không được là vùi đầu xuống cát. Làm thế thì bị cắt ku lúc nào không biết.
      Muốn mạnh mẽ thì phải thẳng thắn. Giấu diếm, trí trá thì không thể trở mạnh mẽ lâu dài được.

      mi$a

    • Dân đen says:

      To F361:
      Thiết nghĩ F361 nên thận trọng khi dùng cái tôi rỗng để che phủ cái khiếm khuyết về kiến thức.
      Về cái công hàm 1958 mà PVĐ lỡ ký cho khựa, thì F361 nên đọc cho thật hiểu rồi hãy nói.
      Công hàm nói rằng :
      “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
      Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.
      Với nội dung PVĐ đã thừa nhận quyền của khựa như vậy mà F361 lại phát biểu rằng “công hàm là khẳng định HS và TS chưa bao giờ của 3Ship” thì đúng là F361 có đầu óc không bình thường!
      F361 nên nhớ rằng KẺ LUÔN LÔI CÔNG HÀM ĐÓ RA DÙNG CHÍNH LÀ KHỰA. Nó dùng là để biện hộ cho hành vi ăn cướp của nó từ thời 1974 cho đến 1988. Chứ mấy chú hải ngọai dùng cái công hàm này vào việc gì được mà phải lôi ra hả F361?

      Còn chuyện thời VNCH, đề nghị F361 càng phải đọc để hiểu biết thêm, kẻo nói bậy quá thì không hay. F361 la làng lên là ông Diệm và ông Thiệu bán nước? Ủa mấy ổng bán nước hồi nào vậy cà? mà bán cho ai?
      F361 nên biết rằng, hiệp định Geneve có các khoản như sau:
      Bắt đầu được ký kết vào 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève về Đông Dương có nhiều văn kiện, chủ yếu là:
      – Ba hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam, Lào và Campuchia
      – Bản tuyên bố cuối cùng của hội nghị (Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956) nhưng do không có chữ ký của các bên tham dự nên điều này cũng không bị ràng buộc về pháp lý.

      Ngoài ra còn những tuyên bố riêng và những văn kiện ngoại giao riêng giữa các nước tham gia như :
      Bản tuyên bố riêng ngày 21 tháng 7 của Mỹ tại Hội nghị Genève
      Bản tuyên bố của chính phủ Pháp ngày 21 tháng 7, trong đó nêu rõ Pháp sẵn sàng rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào, Campuchia theo lời yêu cầu của chính phủ những nước có liên quan trong một thời gian do các bên thoả thuận.
      Các công hàm trao đổi giữa Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France.

      Và phái đoàn Mỹ + tiền thân VNCH đã không ký hiệp định.
      Hiệp ước Genève không có điều khoản nào quy định về việc Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam. Khi ông Diệm không thừa nhận cs và không chấp nhận tổng tuyển cử thì chỉ có thể kết luận ổng không muốn thống nhất qua đường bầu cử, chứ không thể kết luận ổng bán nước như xưa nay cs vẫn tuyên truyền.

    • jan says:

      F361
      Ai bán Nước ,ai yêu Nước ? Lịch sử sẽ phán xét !

  20. montaukmosquito says:

    Tôi đồng tình với lời giải thích của qx trong bài trước, tức là bản công hàm này “công nhận” bản tuyên bố của TQ tức là “công nhận” chủ quyền của TQ trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và không phải chỉ ông Phạm Văn Đồng mà là toàn bộ nhà nước .

    Tôi nhấn mạnh một lần nữa “CÔNG NHẬN” không ý nghĩa chuyển nhượng . Nó có ý nghĩa (tạm gọi) miền Bắc sẽ không có hành động ngăn cản gì nếu TQ tuyên cáo chủ quyền trên các vùng được nêu trên, và câu II khẳng định chính phủ miền Bắc lúc đó sẽ chỉ đạo các nhân lực bên mình tôn trọng chủ quyền của TQ trên các vùng được nêu trên . Nhóm chữ chết người là “Chính phủ nước VN DCCH ghi nhận và tán thành”, có nghĩa đây là sự đồng thuận mang tính cách quốc gia, vì vậy đưa bản công hàm lên giá trị luật pháp quốc tế . Và hành động “công nhận” không cần biết là sở hữu của những vùng đất đó của ai . Có thể suy ra thêm từ đây nhưng chắc sẽ được tặng mũ ý thức hệ .

    Những lời giải thích trên chỉ như nó là, giải thích tình huống, không mang giá trị luật quốc tế . Không ai có thể xử dụng những tính từ như “ấu trĩ”, “ngây thơ” để có thể hủy giá trị một văn bản quốc tế . May lắm nó chỉ có thể xoa dịu dư luận công trong nước .

    Sẽ có những bài dễ dàng phản bác bài này nhưng chắc sẽ không được đăng ở chỗ này .

  21. Quý Vũ says:

    Không tính viết thêm về đề tài này, lại thấy chủ nhà treo tiếp lần nữa.

    Tôi xin trình bày vắn tắt.

    Quan điểm của Nước VNDCCH (miền Bắc trước 1975) là:
    – Miền Nam VN bị Mỹ xâm lược.
    – Chính thể VNCH là bán nước, bù nhìn, và là chính thể tay sai.
    – Chính thể VNCH không đại diện cho bất kỳ bộ phận nào của dân tộc VN.
    – Không thừa nhận mảnh đất nào của Tổ quốc VN là của VNCH. Những gì do VNCH tạm quản lý đều là của Tổ quốc VN mà VNDCCH là chủ thể chân chính và duy nhất.

    Nếu không ai bác bỏ các nội dung trên, thì có phải công hàm 1958 đã:
    – Xác nhận HS-TS là của tàu, bởi vì nếu của VNCH (sở hữu tạm) tức đồng nghĩa của VNDCCH.
    – Năm 1976, Nước CHXHCNVN không thể chọn lập trường của VNCH (lý do đã dẫn bên trên).

    Nếu tàu hỏi ta như vậy, phải trả lời sao, biết rằng vì hoàn cảnh, VN đã mắc mưu của chúng.

    Không thể trách TTg PVĐ vì thực ra đây là quyết định của tập thể lãnh đạo, tôi nghĩ vậy. Và, công hàm ấy do hoàn cảnh lịch sử của đất nước. Vấn đề đặt ra không phải quy trách nhiệm cho ai, mà xác định cái gì mình đang ở thế yếu, để tìm ra phương án giải quyết.

    • Hà Linh says:

      Vấn đề đặt ra không phải quy trách nhiệm cho ai, mà xác định cái gì mình đang ở thế yếu, để tìm ra phương án giải quyết.
      ———
      nhất trí với ý kiến anh Quý Vũ!

    • NHÂN NGÔN says:

      Xin bổ sung cho anh QV:
      * Cho đến năm 1958, hiến pháp 1946 của nước VNDCCH vẫn còn hiệu lực trên toàn lãnh thổ của VN (bao gồm cả miền Nam). Do vậy, theo tôi, công hàm của ông TT PVĐ chắc chắn có giá trị pháp lý theo luật pháp quốc tế.
      * đến năm 1959, miền Bắc VN mới có hiến pháp mới.
      * Trên thực tế quan hệ giữa VNDCCH và CHNDTH đã từng có việc TQ trả lại đảo BẠCH LONG VĨ, đây cũn là bằng chứng cho thấy nước ‘lạ” đâu chỉ luôn có dã tâm thôn tính lãnh thổ VN?
      * Lập trường của VN đối với TQ thiếu nhất quán, thay đổi theo từng giai đoạn, ví dụ như: nội dung của hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992.

      Kết luận: theo tôi, chỉ có công khai minh bạch và nếu cần thì trung cầu dân ý mới có thể giải quyết ôn thoả vụ việc này!

      • THẠCH TÍN says:

        Bạn NHÂN NGÔN ơi! Từ 25/10/1955 thì Hiến pháp 46 có giá trị gì ở miền nam nước VIỆT?Lúc đó nam VIỆT NAM đã thành lập “nước”Việt nam cộng hòa!Một quốc gia nghiêm chỉnh đã được 86 quốc gia khác công nhận,vậy công hàm 1958 của TT PVĐ làm gì có giá trị với HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA?
        ***
        Bà Monique Chemillier-Gendreau, tác giả cuốn « La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys » có cho rằng công hàm của ông Đồng không có giá trị pháp lý vì lý do « người ta không thể cho cái mà người ta không có ».

      • qx says:

        Xin phép được thêm bó củi:

        1. Trung quốc trả đảo nhỏ Bạch Long Vỹ và vài hòn đảo bé tí ở Móng Cái sau một thời gian giữ dùm ta.

        2. Trung quốc giúp ta từ cái muỗng nhựa đến mạng sống của các chuyên viên chiến tranh và tuyên giáo trong cuộc chiến với thế giới ngoài Trung quốc.

        3. Những công trình Trung quốc giúp ta trong thời chiến trở thành cay đắng như nhà kho chứa thóc Nam Định ngập lụt, như đường ray hữu nghị quan lấn sâu vào hàng trăm kí lô mét tơ, VÂN VÂN.

        4. Trong lúc ta hì hục xung phong, ở hậu phương trên khắp miền Bắc cổ kính, công binh Trung quốc đào xới và ngày đêm chở về nước những gì không ai biết vì xe tải bít bùng chạy suốt ngày đêm. Chuyện này xin sợt bên mạng Trần Nhương để xem lời kể từ một nhân chứng.

        5. Trung quốc bật đèn xanh cho Mỹ dội bom 12 ngày đêm tàn phá miền Bắc vào năm một nghìn chín trăm bảy hai.

        6. Trung quốc tấn công và chiếm đóng Hoàng Sa năm một chín bảy tư

        6. Trung quốc xúi Khmer tấn công biên giới, diệt chủng người Việt tại biên giới Tây Nam năm một nghìn chín trăm bảy tám.

        7. Trung quốc xua quân xâm lăng Việt Nam ở biên giới phía Bắc năm một nghìn chín trăm bảy mươi chín, tàn sát dã man bất kể dân lành hay binh sĩ.

        8. Trung quốc tàn sát bảy chục con người trên biển và chiếm các đảo Trường Sa năm một chín tám tám.

        9. Trung quốc tàn sát ngư dân Quảng Bình năm 2005

        10. Trung quốc tiếp tục giết lẻ tẻ binh sĩ Việt Nam trên biển Đông, tàn sát và cướp bóc ngư dân ngư cụ từ 2005 đến nay.

        11. Trung quốc vào thềm lục địa Việt Nam cắt cáp tàu thăm dò địa chấn vào tháng 5 và tháng 6 năm hai ngàn không trăm mười một

        12. Trung quốc nói Việt Nam gây hấn và phải dạy bảo dân chúng Việt Nam nhớ ơn Trung quốc.

        N. …

        Vậy thôi, tui xin góp bấy nhiêu củi để hâm nóng lại lòng tốt còn in sâu, lắng đọng trong tâm khảm các bác.

        qx

    • jan says:

      Em hoàn toàn đồng ý với bác QV .Đau đớn quá !
      Lúc đầu tiếp xúc với các bác VNCH (nguỵ) em rất
      sợ .Nhưng rồi thời gian đã chứng minh họ là những
      người yêu nước .Phần lớn các bác ấy rất giỏi ,có tâm ,có
      tầm …lâu nay chúng ta hiểu sai về họ …khi hiểu rồi thì
      quá muộn rồi .

  22. Duc says:

    Tem sau, không còm…

  23. Tem trước, còm sau…

%d bloggers like this: