Đất đai – vấn đề trọng đại và lâu dài

Sân golf chiếm dụng đất canh tác.

KTS Trần Thanh Vân vừa gửi một bài viết của PGS, TS Tạ Hòa Phương. Tuy bài đã đăng trên báo Hà Nội mới từ 5-2008 (ba năm), nhưng tính thời sự vẫn nguyên giá trị. HM xin đăng lại để bạn đọc thêm ý kiến.

Cảm ơn TS Tạ Hòa Phương và KTS Trần Thanh Vân.

Quy hoạch, sử dụng đất đai hợp lý – vấn đề trọng đại, lâu dài

Tác giả: PGS TS Tạ Hòa Phương.

(Hà Nội mới 28/05/2008 13:00) – “Tấc đất tấc vàng” – câu ngạn ngữ từ ngàn xưa càng ngẫm càng thấy đúng. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu giá trị đích thực của từng loại đất. Và khi đã không hiểu ngọn ngành về điều này, người ta dễ đi đến những quyết sách sai lạc về quản lý và sử dụng dạng tài nguyên đặc biệt thuộc sở hữu của Nhà nước này.

Nhìn từ góc độ chính trị, lịch sử, chủ quyền, mọi mảnh đất của Tổ quốc đều có ý nghĩa lớn lao, vì để khai khẩn và bảo vệ chúng, bao mồ hôi và xương máu của cha ông ta đã phải đổ xuống. Nhưng xét về giá trị thực dụng, mỗi loại đất lại có ý nghĩa khác nhau.

“Tấc đất tấc vàng”

Câu ngạn ngữ “Tấc đất tấc vàng” càng đúng đối với những nơi khan hiếm đất trồng, như vùng cao nguyên đá Đồng Văn chẳng hạn. Nơi đó hầu như chỉ có đá và đá. Nhưng chính cao nguyên Đồng Văn lại hàm chứa những giá trị to lớn, đáng khao khát của bao quốc gia trên thế giới. Đó là nơi có địa hình đá vôi (karst) trùng điệp, muôn hình vạn trạng, có thung lũng sông Nho Quế đẹp như mộng với những hẻm vực hoành tráng bậc nhất Đông Dương, có những tượng đài địa cảnh đáng giá cho du khách vượt muôn dặm đường xa đến ngắm nhìn, thưởng lãm…

Xét về tiềm năng du lịch, nếu ở đó xây dựng được một Công viên Địa cảnh (Geopark) đẳng cấp quốc tế thì giá trị của cao nguyên sẽ được nâng lên nhiều lần. Vấn đề là phải biết đánh thức tiềm lực đất đai… Vậy mà cho tới nay đất nước Việt Nam tươi đẹp chưa hề có một di sản địa chất nào được công nhận – một sự chậm chân đáng tiếc so với khu vực và quốc tế.

Xét riêng về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nước ta có hai vựa lúa lớn là đồng bằng châu thổ sông Hồng (1.486.241 ha) và đồng bằng châu thổ sông Mê Kông (4.060.478 ha). Trước nay đoạn sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ Việt Nam vẫn được gọi là sông Cửu Long do sông này có 9 cửa đổ ra Biển Đông. Tuy nhiên, hiện nay tên gọi đó dường như không còn thích hợp nữa: 1 cửa sông đã bị bồi lấp kín hẳn (cửa Bát Sắt), một cửa sông khác đã bị ngăn lại bởi một con đập (cửa Ba lai).

Như vậy, trên thực tế sông Mê Kông chỉ còn 7 cửa đổ ra biển một cách tự nhiên. Các đồng bằng kể trên với đất đai phì nhiêu, thuận tiện cho việc trồng lúa nước, là những tài nguyên thiên nhiên có giá trị bậc nhất của nước ta. So với chúng, giá trị của những mỏ dầu ngoài thềm lục địa phía Nam và những mỏ than antraxit quý giá của bể than Quảng Ninh dường như thật nhỏ nhoi. Theo những đánh giá lạc quan nhất, trong vòng 100 năm nữa loài người sẽ rút lên từ lòng đất những giọt dầu mỏ cuối cùng…

Còn bể than Quảng Ninh được đánh giá có trữ lượng 3,3 tỉ tấn (tính đến độ sâu 300m, trong đó trữ lượng kinh tế chỉ đạt 1,2 tỉ tấn), được khai thác từ ngót 100 năm nay, với sản lượng chiếm tỉ lệ khoảng 90% tổng sản lượng than toàn quốc. Tuy nhiên hiện nay những mỏ than lộ thiên lớn đều sắp cạn kiệt, dù có thời kỳ sản lượng than của chúng lên đến 80% tổng sản lượng. Điều kiện khai thác than tầng sâu ngày càng khó khăn, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ngày càng cao. Dự đoán, sau năm 2020 chúng ta sẽ phải xem xét đến khả năng khai thác than ở tầm sâu 150-300m.

So với hai loại tài nguyên khoáng sản giá trị kể trên, đất trồng (thổ nhưỡng) của các đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Mê Kông là những giá trị trường tồn nếu chúng ta biết bảo vệ và khai thác một cách hợp lý. Đất sản xuất nông nghiệp thực tế của đồng bằng Sông Hồng chỉ có 764.024 ha, còn ở đồng bằng sông Mê Kông là 2.579.463 ha (số liệu thống kê 2005, đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt).

Đó là những tài nguyên thiên nhiên quý giá bậc nhất mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta, là nơi người dân quê cần cù từ bao đời nay đã sống và làm ra hạt lúa nuôi cả cộng đồng. Cũng chính trên các đồng bằng châu thổ đó, nền văn minh lúa nước đã được nhen nhóm từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc. Có học giả cho rằng nền văn minh lúa nước của Đông Nam Á đã xuất hiện sớm nhất trên hành tinh.

Đầt – tài nguyên thiên nhiên hàng triệu năm bồi đắp

Nếu tìm hiểu ngọn ngành, chúng ta sẽ biết rằng để có một tấc đất trồng lúa nước ở đồng bằng ngày nay, thiên nhiên đã phải tốn đến hàng triệu năm. Sau đây, chúng ta hãy thử cùng đi ngược thời gian, xem đồng bằng Sông Hồng đã được hình thành ra sao?.

Trước hết, lùi lại mốc thời gian cách đây 59 triệu năm, vào cuối kỳ Paleocen của kỷ Đệ Tam, khi mảng lục địa Ấn Độ đã xô húc vào mảng Tây Tạng của lục địa Âu – Á. Từ đó, bắt đầu quá trình nâng lên của dải đất mà ngày nay đã trở thành mái nhà thế giới – dãy núi Hymalaya với đỉnh Everes cao 8.848m.

Cũng chính quá trình tạo núi Hymalaya đó đã khiến lớp vỏ Trái Đất bị tổn thương, tạo nên nhiều vết nứt vỡ kèm theo sự dịch trượt của đất đá ở 2 bên vết nứt, được gọi là các đứt gẫy địa chất. Một đứt gẫy lớn kéo dài từ Tây Tạng, qua Mianmar, Vân Nam (Trung Quốc) rồi xuyên cắt vào lãnh thổ nước ta.. Nương theo đới đứt gẫy sung yếu ấy của vỏ Trái Đất, một dòng sông đã được hình thành, kéo theo đất đỏ terra-rossa của những vùng nó đi qua làm cho nước sông được nhuốm màu hồng đặc trưng.

Đó chính là sông Hồng – con sông gần như chia đôi lãnh thổ Bắc Bộ. Vào kỷ Neogen, cách nay 23,5 đến 1,75 triệu năm, sông Hồng còn trẻ, mới để lại tầng trầm tích lòng sông tuổi Neogen mà ngày nay đã chìm sâu dưới những tầng trầm tích mới. Nhưng sang kỷ Đệ Tứ, từ mốc 1,75 triệu năm trước đây, con sông đã bước vào thời kỳ già. Những tầng bồi tích đầu tiên hình thành đã khai sinh ra đồng bằng châu thổ Sông Hồng.

Từ đó, cùng với các chi lưu của mình, từng chút một, sông Hồng cần mẫn chở phù sa, vun đắp đồng bằng châu thổ. Quá trình hình thành đồng bằng châu thổ Sông Hồng có sự tương tác giữa sông và biển. Sông gom góp từng chút phù sa bồi đắp đồng bằng và lấn dần ra biển. Ngày nay, nhìn từ ảnh vệ tinh tại vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng, chúng ta vẫn có thể quan sát quá trình “lấn biển” đó. Mà không phải con sông nào cũng có khả năng này. Ví dụ sông Bạch Đằng ở Bắc Bộ, sông Hàn ở Hàn Quốc, vì có cửa sông dạng phễu (estuary) nên chúng không tạo ra được đồng bằng châu thổ của mình.

Vào thời Minh Mạng, quan Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ có công lớn khai khẩn hai vùng đất ven biển, lập làng và bố trí hệ thống thủy lợi hợp lý, thau chua rửa mặn… để vùng đất hoang ven biển có thể sử dụng trồng lúa nước. Những vùng đất đó đã được triều đình nhà Nguyễn cho lập thành hai huyện Tiền Hải (1828) và Kim Sơn (1829). Những tên gọi đó có nghĩa “Biển Bạc” và “Núi Vàng”. Công mở đất của Nguyễn Công Trứ được người đời ghi tạc. Hiện nay đền thờ ông vẫn còn trên những miền đất mà ông đã có công khai khẩn.

Như vậy, sự hình thành một tầng đất thích hợp với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, là cả một quá trình dài lâu, gian khổ của thiên nhiên và con người. Quá trình phong hóa và tạo thổ nhưỡng từ các loại đá của vùng đồi núi còn khó hơn nhiều. Ai đã từng nhìn thấy cảnh một người dân tộc H’Mông gùi đất lên cao, bỏ vào từng hốc đá trên cao nguyên Đồng Văn, rồi tra vào đó mấy hạt ngô, mới thấy hết giá trị của đất trồng đối với con người.

Nguy cơ khủng hoảng lương thực thế giới trong dịp tháng tư vừa qua buộc chúng ta phải dừng lại và suy ngẫm. Từ chỗ thiếu, rồi tự túc đủ lương thực vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Nhiều dự báo cho thấy vào những thập niên tiếp theo, sự khan hiếm lương thực sẽ trở thành nỗi lo thực sự của nhiều dân tộc trên thế giới. Chính vì thế, đất đai nông nghiệp, đặc biệt là những diện tích trồng lúa nước đã và sẽ luôn là tài sản vô giá, cần được bảo vệ và phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng.

Cảnh báo đất nông nghiệp đang bị thu hẹp

Trên thế giới, nhiều nước đã quy hoạch phát triển đô thị lên những vùng đồi thoải, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp cho các dự án phi nông nghiệp. Nên nhớ rằng, miền đồi núi của Việt Nam chiếm đến ¾ diện tích đất nước. Diện tích đồng bằng thực tế không nhiều lắm. Do vậy, khi quy hoạch tổng thể cần quan tâm bảo vệ những diện tích vốn là vựa lúa, đặc biệt là hai đồng bằng châu thổ Sông Hồng và Sông Mê Kông. Điều đó dường như chưa được chú trọng xem xét trong thực tiễn quy hoạch lãnh thổ thời gian qua ở nhiều địa phương. Chính cách quản lý, điều hành lỏng lẻo của các cơ quan chức năng đã tạo nhiều kẽ hở cho những kẻ đầu cơ trục lợi. Tình trạng sử dụng đất không trúng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng chủ động về an ninh lương thực quốc gia.

Không cần đi đâu xa, chỉ trên quốc lộ số 5, dài khoảng 100km, nối hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng, nhiều người đã thấy đau lòng khi không biết bao nhiêu diện tích trồng lúa nước hai bên đường đã phải nhường chỗ cho những dự án đủ loại: công nghiêp, dịch vụ, giải trí, đô thị. Có cả những “dự án ma” nằm “đắp chiếu” nhiều năm trời. Sắt thép, bê tông găm vào, phủ lên không thương tiếc những mảnh đất phì nhiêu mà thiên nhiên đã tốn cả triệu năm tạo ra, và rất thích hợp cho việc trồng lúa nước. Đất đai nông nghiệp bị thu hẹp nhanh đến chóng mặt.

Theo số liệu của Bộ Tài nguyên – Môi trường, trong 7 năm qua, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp đã vượt qua ngưỡng 500.000ha (chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử dụng). Riêng trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000 ha. Điều đáng lưu ý là có đến 50% đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong những vùng canh tác trọng điểm và 80% trong số đó thuộc loại đất màu mỡ.

Đất đai bị thu hồi cho những dự án ấy khiến bao gia đình nông dân bị trắng tay. Số tiền đền bù tuy không nhiều, nhưng cũng quá lớn đối với người dân vốn chỉ biết cày sâu cuốc bẫm. Họ có thể xây nhà, mua xe từ số tiền đền bù đó, nhưng rồi bỗng trở thành đội quân thất nghiệp. Một bộ phận nông dân không tránh khỏi sa vào những tệ nạn xã hội, bị tha hóa. Vì đã có mấy địa phương, mấy doanh nghiệp thực sự quan tâm đào tạo ngành nghề mới phù hợp cho những người dân vốn chỉ quen chân lấm tay bùn? Họ bị coi là đối tượng được đền bù, chứ không phải là đối tượng cần quan tâm, phát triển trong đà phát triển chung của xã hội.

Cần có giải pháp để đất hồi sinh

Những điều “đau đớn lòng” kể trên đã và đang diễn ra, trong bối cảnh nước ta có đủ diện tích vùng trung du, vùng “bán sơn địa” phù hợp để triển khai các dự án công nghiệp, đô thị… Nếu đầu tư cơ sở hạ tầng, đường xá, cầu cống và các công trình phúc lợi công cộng song hành với các dự án khác nhau vào những vùng đất cằn khô, nghèo khó đó sẽ vừa giúp cho những vùng đất đó hồi sinh, vừa cứu thoát những cánh đồng phù sa màu mỡ khỏi bị chôn vùi dưới bê tông, sắt thép. Bài toán ở tầm vỹ mô ấy hẳn không ít người nhìn ra, nhưng có vẻ tất cả đều bất lực. Vì họ không phải là những người có quyền quyết định. Mà những người có đủ thẩm quyền, hoặc không nhận ra, hoặc cố tình làm ra vẻ như thế.

Đã đến lúc bài toán vĩ mô ấy cần được giải quyết triệt để và kiên quyết. Dù biết rằng phá ruộng để phát triển công nghiệp và các lĩnh vực phi nông nghiệp khác là “tiện” nhất và “phất” nhất. Nhưng đó là cách làm “ăn sổi ở thì”, là có tội với các thế hệ tương lai của đất nước. Một số doanh nghiệp, một số cá nhân có quyền, có chức có thể được hưởng lợi lớn vì điều đó, nhưng xã hội nói chung và người nông dân nói riêng phải chịu thiệt thòi. Có những sai lầm sửa chữa được, nhưng những sai lầm kiểu đó là vô phương cứu chữa. Không ai nghĩ rằng trong tương lai một khu công nghiệp đồ sộ nào đó có thể bị “nhổ đi” để trả lại diện tích cho lúa nước.

Kinh nghiệm quý báu của một số nước châu Âu khi khai thác khoáng sản mà vẫn bảo tồn tài nguyên đất, bảo vệ môi trường sinh thái là điều chúng ta cần tham khảo và áp dụng. Ví dụ, để khai thác một mỏ than trong lòng đất tại một vùng có thảm thực vật xanh tươi, hoặc cánh đồng cây lương thực trên nền đất tốt, người ta đã chia lô, khai thác mỏ theo kiểu cuốn chiếu.

Trong lô đầu tiên, trước hết người ta cho thu hoạch hoa màu, di dời những cây non đến những vùng lân cận trong điều kiện có thể. Tiếp theo – vét tầng thổ nhưỡng bên trên, chuyển đến vị trí thích hợp rồi mới tiến hành khai thác khoáng sản. Sau khi khai thác hết khoáng sản trong lô đầu tiên, người ta chở đất đồi đổ xuống mong khai thác bù cho phần khoáng sản đã bị lấy đi. Công việc cuối cùng là trải lại lớp đất trồng trọt lên bề mặt và trồng lại cây cối, hoa màu, khôi phục cảnh quan sinh thái vốn có.

Lô thứ hai, thứ ba… cũng lần lượt được khai thác theo những bước như thế. Khi toàn bộ mỏ than được khai thác hết, cũng là lúc lớp đất trồng và thảm thực vật trong phần lớn vùng mỏ đá trở lại trạng thái ban đầu.

Việc khai thác bể than nâu khổng lồ có trữ lượng ước tính khoảng 210 tỉ tấn nằm trọn dưới đồng bằng châu thổ Sông Hồng ở độ sâu 100 – 3.500 m là điều không tránh khỏi trong tương lai. Thiết nghĩ, việc làm đó phải được tính toán thật kỹ lưỡng, sao cho về cơ bản độ phì nhiêu của đất, sức sống của đồng bằng châu thổ Sông Hồng không bị xâm hại.

Đất nông nghiệp của những đồng bằng châu thổ nếu bị chuyển đổi cho những mục đích sử dụng khác không hợp lý là một mất mát có thể nói không gì bù đắp được. Thiết nghĩ vấn đề trọng đại này cần được nghiên cứu, kiểm tra và xử lý nghiêm minh. Chỉ có như vậy chúng ta mới không để tình trạng chảy máu “đất xám” ngay trước mắt mình, trên lãnh thổ của mình. Tấm gương sáng khai khẩn và mở mang đất nông nghiệp của Nguyễn Công Trứ từ gần một thế kỷ trước còn treo đó, và lớp con cháu chúng ta hôm nay cần soi vào đó để răn mình, để làm tốt hơn công tác quản lý và sử dụng đất đai.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời đại ngày nay là cực kỳ quan trọng, không phải bàn cãi. Song từ trong sâu thẳm tâm hồn, người Việt Nam vẫn tự hào là cư dân của cái nôi lúa nước nhân loại. Việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, việc giữ vững vị thế cường quốc của lúa gạo thế giới hẳn là điều chúng ta cần nghĩ tới, cho hôm nay và cho mai sau.

PGS. TS Tạ Hòa Phương

Advertisements

19 Responses to Đất đai – vấn đề trọng đại và lâu dài

  1. vd says:

    Các bác bàn chuyện sử dụng quỹ đất nói chung, có nhiều ý kiến khác nhau nhưng chưa ai đề cập đến vấn đề tăng dân số.

    Em nhớ thời đi học phổ thông, trong thời kỳ chiến tranh, bài học nói miền Bắc nước ta có 18 triệu dân, miền Nam có 17 Triệu dân, trước CMT 8 cả nước có ước chừng 25 triệu dân, chả hiểu họ thống kê kiểu gì mà có con số đó.

    Thế mà bây giờ người ta ước tính dân số VN khoảng gần 90 triệu người. Mà đất đai có sinh ra thêm không?

    Không tranh dành đất đai mới là lạ. Hiện tượng này, hậu quả này rồi tương lai tiếp diễn nữa là tại ai, do ai???

    Có phải do ông nội ta, bố ta? Những người đẻ hồn nhiên , vô tư, trung bình mỗi nhà có từ 5 đến 10 đứa con? Ai cũng muốn có con đàn cháu đống, ai cũng thích có nhiều con để được nhờ…

    Theo hiểu biết của em, Malaysia là một đất nước có diện tích tương đương với VN nhưng dân số hiện nay là khoảng 25 triệu người nên họ có cuộc sống tốt hơn chúng ta.

    Bàn vui, có thể hồ đồ, các bác cứ ném đá.

  2. Đinh Lê says:

    Vấn đề bức xúc hơn cả là về quyền sở hữu đất đai đang gây ra đau thương cho vô số con người với những vụ khiếu kiện không bao giờ được giải quyết. Mời quý bạn đọc tìm hiểu qua loạt tài liệu dưới đây :

    PHẢI TRẢ LẠI QUYỀN TƯ HỮU ĐẤT ĐAI CỦA NGƯỜI DÂN

    TÔI TÌM HIỂU LUẬT ĐẤT ĐAI
    Đỗ Thuý Hường
    http://danluan.org/node/5184#comment-16030

    Cô sinh viên luật đọ sức với các nhà lý luận cộng sản
    Bùi Tín viết riêng cho VOA – Thứ Ba, 28 tháng 7 2009
    http://www1.voanews.com/vietnamese/news/a-19-2009-07-28-voa13-81727577.html

    Luật Đất Đai : sản phẩm của tư duy phản động
    Hà Đông Xuân, Trần Hiền Thảo và nhóm sinh viên – Tháng Chín 20, 2009
    http://phandongonline.wordpress.com/2009/09/20/luật-dất-dai-sản-phẩm-của-tư-duy-phản-dộng/

    PHẢI TRẢ LẠI QUYỀN TƯ HỮU ĐẤT ĐAI CỦA NGƯỜI DÂN
    Tạ Phong Tần – Nov 16, ’10 3:42 AM
    http://suthatcongly.multiply.com/journal/item/167

    Đất đai – nguồn sống và hiểm họa
    TS Nguyễn Thanh Giang – 01:01:am 15/11/10
    http://www.danchimviet.info/archives/21415

    Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ I)
    Luật sư Nguyễn Tiến Lập – 01:58-19/10/2010
    http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=3571&CategoryID=42

    Bài 3: Dỡ “rào cản” sở hữu đất đai
    Ngày 29.09.2010, 18:31 (GMT+7)
    http://sgtt.vn/Ban-doc/130239/Bai-3-Do-%E2%80%9Crao-can%E2%80%9D-so-huu-dat-dai.html

    “Công thổ quốc gia” hay sự “sáng tạo” kì quặc về sở hữu? – Nguyễn Quang A – 14/09/2010 06:00 GMT+7
    http://tuanvietnam.net/2010-09-12-cong-tho-quoc-gia-hay-su-sang-tao-ki-quac-ve-so-huu-

    “Sở hữu toàn dân”, cơ hội béo bở cho lợi ích nhóm?
    Lê Nhung – Cập nhật lúc 08:48, Thứ Ba, 14/09/2010 (GMT+7)
    http://vietnamnet.vn/chinhtri/201009/So-huu-toan-dan-co-hoi-beo-bo-cho-loi-ich-nhom-935354/

    Chính phủ nên từ bỏ vai tổng quản với tài sản công
    Tác giả: TBKTSG – Bài đã được xuất bản.: 09/09/2010 06:00 GMT+7
    http://tuanvietnam.net/2010-09-08-chinh-phu-nen-tu-bo-vai-tong-quan-voi-tai-san-cong

    Nạn tham nhũng trong lĩnh vực đất đai đã trở nên phổ biến ở Việt Nam
    Đức Tâm – RFI – Thứ năm 25 Tháng Mười Một 2010
    http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101125-nan-tham-nhung-trong-linh-vuc-dat-dai-da-tro-nen-pho-bien-o-viet-nam

    Hệ thống quản lý đất đai ở Việt Nam là mồi ngon cho tệ nạn tham nhũng
    DCVOnline – Tin DPA – 25-11-2010
    http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=8019

    Pháp luật đất đai hiện nay: Rào cản của phát triển kinh tế – Ngày 18.03.2011, 12:45 (GMT+7)
    http://sgtt.vn/Goc-nhin/141882/Rao-can-cua-phat-trien-kinh-te.html

    SỞ HỮU TƯ NHÂN VỀ ĐẤT ĐAI LÀ TẤT YẾU (TS Đặng Hùng Võ) – Ngày 19.03.2011, 07:59 (GMT+7)
    http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/03/so-huu-tu-nhan-ve-at-ai-la-tat-yeu-ts.html

    TƯ HỮU ĐẤT ĐAI, TẠI SAO KHÔNG ? (RFA) RFA 2011-03-25
    http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/03/tu-huu-at-ai-tai-sao-khong-rfa.html

    Một thí dụ cho thấy hệ quả của tam quyền phân lập
    LS Ngô Ngọc Trai – chungta.com – Cập nhật lần cuối: 04/05/2011 07:50:07 PM
    http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luat-Phap/Mot_thi_du_he_qua_tam_quyen_phan_lap/
    .
    .
    .
    .

  3. Thùy Dương says:

    Nước mình bây giờ sốt dự án. Cấp nhà nước thì có dự án nhà nước, cấp tỉnh có dự án tỉnh, cấp thành phố có dự án thành phố…nói tóm lại người ta thích lập dư án và tham gia dự án. Cả nước như cái công trường: san ủi, lấp nền, xây dựng nhà cửa, mở khu công nghiệp, xây đập thủy điện khắp nơi. Bên cạnh những dự án thiết thực mang lại hiệu quả kinh tế cho xã hội có rất nhiều dự án lãng phí làm thất thoát tiền của. Tôi đọc kĩ bài viết của anh HM và tất cả comment, dù phát biểu ở góc độ khác nhau nhưng mọi người đều cho rằng chúng ta đang lãng phí tài nguyên đất. Hiện tượng chiếm đất nông nghiệp để mở rộng đô thị, xây khu công nghiệp, làm sân gôn, … trở thành phổ biến. Người dân bị giải tỏa, nhận tiền đền bù, ra thành phố hay di cư vào miền Nam thuê nhà ở trọ làm công nhân khu công nghiệp rất nhiều. Đó là chính sách ưu tiên phát triển bề nổi, chạy theo tăng trưởng mà không quan tâm đến phát triển bền vững của đất nước và những vấn đề an sinh xã hội. Đặc biệt chưa quan tâm đến khu vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp.

  4. quangdung says:

    Rất đồng ý với KTS Vân .1 số ý kiến cho rằng Bác Vân nói suông ? không suông đâu các bác. Các bác khi nào cũng nhai lại ý kiến người khác thôi, lúc thì HTX là tốt nhất, thì các bác cũng bảo tốt nhất, đài báo , nhà văn cũng nhảy vào tung hô.Lúc lại bảo HTX là không hiệu quả, là sai lầm , các bác nhảy vào cũng la làng y chang, rồi báo , đài cũng la làng rồi quay lại tung hô 1 số người mà trước kia các bác đánh cho tơi tả. Người giỏi là người nhìn ra nhưng khiếm khuyết,không chịu nghe họ nói ,các bác cứ thích nói năng cho sướng cái miệng , trong khi cái não thì không hoạt động

  5. […] 3. Chuyện sử dụng đất trồng trọt để phát triển đô thị, phát triển công nghiệp, thương nghiệp không phải chỉ có mỗi ở ta. Hợp lý hay không hợp lý cần phải nắm rõ dự án đó như thế nào. Chuyện tham nhũng, công trình đắp chiếu nằm chờ thuộc về vấn đề quản lý, không nên quàng nó vào chuyện sử dụng đất. Mọi cuộc cách mạng cần phải chấp nhận mất mát có thể. Cuộc cách mạng phát triển đất nước cũng không ngoại lệ. Nếu hy sinh những quyền lợi nhỏ của một vài nông dân vì dự án là cần thiết cho công cuộc kiến thiết và xây dựng đất nước thì cũng nên làm. Đó là nói về phương diện dự án, vấn đề có những kẻ lợi dụng dự án để “ăn cướp” của dân thì chuyện cần bàn khác là làm sao để xây dựng thể chế pháp quyền để bảo vệ lẽ công bằng. Hà Linh says: […]

  6. Trịnh Xuân Nguyên says:

    Thời em đi học thì theo sách giáo khoa Việt Nam ta là đất nước nông nghiệp với hơn 80% dân số làm nông nghiệp. Giờ thì chả biết là bao nhiêu % nhưng em biết chắc là giờ đây nông dân bị mất ruộng rất nhiều và bao nhiêu khiếu kiện đều liên quan đến đất cát. Thật buồn khi có lẽ 80% quan cũng đều xuất thân từ chân lấm tay bùn vậy mà họ lại không yêu đất.

  7. cua đồng says:

    Các bác nói oan cho chính phủ rồi.Họ rất lo việc nông nghiệp đấy.
    Lịch sử sử dụng đất trồng lúa ở đồng bằng BB trước thời pháp thuộc:Rất nhiều đất hoang,địa chủ cũng chỉ làm được mươi mẫu còn phát canh thu tô.Đến thời HTX nhà em cũng vỡ hoang được gần mẫu ruộng.
    Thời nay nhờ thủy lợi,giống mới nên mới dư gạo.Cái việc làm thủy lợi là ăn nhất đấy nên rất tích cực.
    Còn lấy ruộng để xây nhà máy là không thể khác được:
    Tiến sĩ không muốn lên rừng làm việc.Tây chọn chỗ đẹp nó mới vào.Công nhân cần hạ tầng xã hội tốt họ mới đến.Nhiều nhà máy mới hút được lao động nông thôn.
    Mấy bác TS hay nói xuông vì các bác không phải doanh nhân ít nhất cũng không phải nông dân.
    Doanh nghiệp nông nghiêp họ quan tâm đến đất trung du và miền núi, đất đồng bằng rất đắt.

  8. KTS Trần Thanh Vân says:

    Hai bạn vừa Còm, Viêt và Hà Linh vừa nói ở trên đều rất đúng tâm trạng của nhiều người hiện nay khi nhìn vào “Đất nước bốn nghìn năm TA lại là TA”
    Ôi chữ TA to tướng! Buồn thay.
    Tôi là người cóp bài này khi nó vừa ra cách đây đúng 3 năm và cũng chính tôi vừa gửi cho Trang chủ HM ngày hôm qua. Tôi muốn giải thích tại sao tôi đã làm như thế? Tình trạng đất nước đang bị phá phách, đất nông nghiệp mất dần, người nông dân bị bần cùng hóa, an ninh lương thực bị đe doa… mà những người ra những quyết định ấy, các quan tỉnh quan huyện ấy là ai?, phần đông họ lại là những người sinh trưởng ở nông thôn mới chết chứ.
    Cho nên, theo tôi, tác giả cũng muốn có một lời khuyên đến những độc giả uyên bác đang nắm vận mệnh đất nước lắm chứ. Tôi cho rằng, trước khi đưa lời khuyên để mong họ nghe theo, tác giả muốn giải thích có bài bản cho đám người đó hiểu ĐẤT TRỒNG TRỌT – HỔ NHƯỠNG ( tức là SOIL ) là quý giá như thế nào? là phải mất hàng triệu năm mới hình thành được, chứ không phải là ĐẤT ĐAI ( tức là LAND ) , để người ta cứ việc khoanh vùng đào bới, san lấp thoải mái và đổ bê tông tràn lan lên đó.
    Về điều này, tôi không rõ bạn Việt hiểu biết ra sao, chứ KTS tôi thì mãi đến năm 1981, khi phải trả lời câu hỏi bài kiểm tra môn Khoa học này, khi định nghĩa “What is soil?” tôi phải nhờ một người bạn cùng lớp là một Ts Nông học người Ân độ “gà” cho thì mới làm được bài. Ở mỏ Than nâu thành phố Cosbut trên đất Đức, tôi thấy người ta khai thác kiểu cuốn chiếu rất tuyệt vời. Đầu tiên người ta hớt lớp đất mầu sâu khỏang 1m ở ô khhai thác thứ nhất mang về một “Kho” dự trữ, khai thác xong nơi đó, người ta san lấp như cũ, rải đất mầu lên, người ta lại trồng khoai, trồng hoa. Sang ô thứ hai, lại lần lượt như thế. Không ai đào bới nham nhở như Vùng than Quảng Ninh.
    Còn về băn khoăn của Hà Linh khi thấy nông dân ta lần lượt bị đuổi ra đường, tôi cũng trăn trở không kém, xin hứa sẽ thảo luận trong mấy ngày tới.

    • Đúng là nghịch lý:

      Quan xuất thân nông dân, suy nghĩ kiểu nông dân, tàn phá nông thôn, hủy hoại đất, mất mùa, thiếu lương thực …nhưng hàng ngày lại vẫn thích ăn “rau sạch” và xài thực phẩm… núi rừng.

      Chỉ cần nghe những bài hát của “Gã nhà quê” Lê Minh Sơn chúng ta thấy rõ bức tranh Công nghiệp hóa, hay hiện đại hóa Nông thôn, giàu hóa Nông dân. Trong những ca khúc của LMS ai cũng nghe được sự khắc khoải, suy tư về những sự đổi thay của làng quê mà gã luôn luyến tiếc, muốn níu kéo, để giữ lại nét đẹp đã ăn sâu vào ký ức:
      “Tìm bài hát quê mình là câu ca mẹ.
      Tìm điệu múa song tình cánh cò lả lơi.
      Thình thình thình thình trống hội ngoài đình.
      Tình tình tình tình ánh mắt em đưa”
      (“Ôi quê tôi”)
      hay “Bên cạnh làng tôi đất bán hết rồi,
      chỉ còn nho nhỏ nghĩa địa xa xa.
      Bên cạnh làng tôi yếm thắm lụa đào,
      ngực cao nhu nhú đã vội đi xa.
      Ngày xưa…
      lũ chim về đây,
      những bông cỏ lau lay động bờ đê.
      Ngày xưa tiếng ru mẹ ru,
      tiếng ru mỏng manh lay động nhà tranh.
      Rặng tre hót giữa trưa hè,
      tiếng con sáo sậu,
      gốc rễ về đâu.
      Đàn trâu lững thững qua cầu,
      đất bán hết rồi,
      đàn trâu về đâu…”
      (“Á í a”).

      Ngoài ra còn nghe câu của Lê Minh Sơn viết về Sơn nữ “không biết nói tiếng Kinh, Tiếng Việt mà chỉ biết nói tiếng … Núi rừng”.

      Những đổi thay của làng quê có lẽ mọi người đều thấy, nhưng để cảm nhận được như thế này, chắc chắn phải bằng sự tinh tế, trái tim nghệ sĩ nhạy cảm, sâu sắc và một tình yêu rất lớn. Chính điều này khiến cho nhạc của anh lay động lòng người.
      Có thể thấy, chất quê trong âm nhạc của anh là ký ức tuổi thơ, là sự suy tư, là những nỗi khắc khoải. Mỗi ca khúc là câu chuyện rõ ràng, đi đến tận cùng những cảm xúc.

      Gã nhà quê này luôn đau đáu …một nỗi niềm với Nông thôn và Nông dân xứ mình!
      HTH xin bầu cho Gã này 1 phiếu cho chức danh … Thống chế NNPTNT vậy.

  9. Ich Due says:

    Người ta đang hiểu sai về chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Thay vì hỗ trợ cho nông nghiệp phát triển thì người ta biến những “bờ xôi ruộng mật” thành khu công nghiệp với bất cứ giá nào ở khắp các tỉnh, thành.
    Tại sao tỉnh nào cũng phải phát triển công nghiệp xây dựng, công nghiệp hóa chất, xi măng… Tại sao lại xây dựng sân gôn, phát triển các khu nghỉ dưỡng, các khu chung cư trên đất nông nghiệp.
    Tại sao bờ biển lại trở thành của riêng của một số ít người chứ không phải của toàn dân. Khắp nơi, người có tiền gom đất, xây tường bao quanh rồi để đấy chờ thời cơ bán lại.
    Có đại gia nào ở nước ta không giầu lên từ đầu cơ đất không? Có đấy, nhưng ít lắm.
    Người ta đang “nhốt” đất trong các bức tường, sau các hàng rào đủ kiểu. Người ta đang bê tông hóa đất nước này. Cứ đà này sẽ còn rất ít đất cho giới sinh vật sinh sống.
    Đất bị bê tông hóa sẽ sinh ra ngập lụt khắp nơi. Đất bị bê tông hóa, đất bị chiếm đoạt, đất nghẹn lời, khó thở.
    Đất kêu lên: Trời ơi! Nhưng Cao xanh thì ở xa quá, cao quá dưới này toàn người là người thôi. Người ta đang lao vào cuộc chiến chiếm đất và “nhốt” đất lại.
    Sẽ đến lúc không còn đủ đất để trồng lúa nữa. Nước ta sẽ lại nhập khẩu lương thực thôi, Nhưng đến lúc đó ta có tiền để nhập lương thực không? Có mấy nước khi đó có sự dư giả về lương thực?
    Tấn công vũ bão vào Đất mẹ, vào thiên nhiên để làm giàu mà là làm giầu trước hết cho một số người, loài người đã phát triển theo một triết lý sai lầm.
    Loài người ơi, có cách làm khác không?

    • Viet says:

      😀 Nghe cứ như lời bài hát ấy nhể.

      • Ich Due says:

        Bạn Việt ơi! Hãy để mọi người được nói lên cảm nhận của mình. Đừng kích bác người ta nhé!
        Có cái để mà kể lể cũng tốt, Ngồi suy nghĩ mông lung cũng hay.
        À quên, bạn Việt thích viết gì cứ viết nhé!

  10. Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

    1.Bài viết tâm huyết nhưng nó sẽ thuyết phục hơn khi tác giả đưa ra được những con số để so sánh. ví dụ như một hecta đất ruộng nông nghiệp nếu để trồng trọt thì một năm sẽ mang lợi bao nhiêu. Nếu cũng hecta đất đó được sử dụng với mục đích ngoài nông nghiệp (công, thương…) thì một năm sẽ làm lợi bao nhiêu. Hãy cho chúng tôi những con số!!!

    2.Đối với người nông dân được đền bù ruộng đất bị nhà nước qui hoạch là một cơ hội để cho họ đổi đời. Nếu không thì thế hệ này sang thế hệ khác vẫn phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, có khá lên nổi đâu?. Vấn đề những người nhận tiền trợ cấp để tiêu xài, phung phí để trở thành “những đội quân thất nghiệp”, hay tha hoá, sa vào những tệ nạn xã hội là trách nhiệm và là số phận của họ. Đâu phải dân ai cũng phải làm …lông mới sống được. Đồng ý là cần có những chính sách an sinh, xã hội, nhưng nhà nước không thể có con mắt của thượng đế để quan tâm, và bảo bọc cho tất cả mọi số phận. Có một số bài viết đề cập đến vấn đề này, nhưng chưa thấy ai đưa ra những con số tổng kết tỉ lệ những “nạn nhân” như thế này là bao nhiêu. Không khéo thấy vài cây đã vội vàng kết luận là rừng.

    3. Chuyện sử dụng đất trồng trọt để phát triển đô thị, phát triển công nghiệp, thương nghiệp không phải chỉ có mỗi ở ta. Hợp lý hay không hợp lý cần phải nắm rõ dự án đó như thế nào. Chuyện tham nhũng, công trình đắp chiếu nằm chờ thuộc về vấn đề quản lý, không nên quàng nó vào chuyện sử dụng đất. Mọi cuộc cách mạng cần phải chấp nhận mất mát có thể. Cuộc cách mạng phát triển đất nước cũng không ngoại lệ. Nếu hy sinh những quyền lợi nhỏ của một vài nông dân vì dự án là cần thiết cho công cuộc kiến thiết và xây dựng đất nước thì cũng nên làm. Đó là nói về phương diện dự án, vấn đề có những kẻ lợi dụng dự án để “ăn cướp” của dân thì chuyện cần bàn khác là làm sao để xây dựng thể chế pháp quyền để bảo vệ lẽ công bằng.

    Ối giời còn nhiều…nhiều vấn đề quá…ngồi liệt kê ra đây mất bố hết cả thời gian lướt mạng. Em xin lượn đây! chúc các bác vui. 🙂 😉 😡
    Ai Nghĩ Dùm Tôi

  11. Hà Linh says:

    Em thỉnh thoảng hay nghĩ về những người nông dân mà đất ruộng nếu nói tài sản thì là một phần nhưng quan trọng chính là công cụ sản xuất-là kế sinh nhai của họ, bị thu hồi cho những dự án này khác. Em có quen nhiều người bạn mà gia đình họ có đất ruộng bị thu hồi cho các dự án, khi được đền bù thì họ có khoản tiền to lớn so với nhọc nhằn mỗi vụ mùa của họ, nhưng bởi nông dân thường nghèo và thiếu thốn tiện nghi nên nếu có tiền là họ mua sắm các thứ họ khao khát: xe máy, máy tính…làm việc này việc kia..vv..”Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”- cục tiền đền bù dù to thì cũng bị tiêu rất nhanh..Và những người nông dân trở thành vô sản, họ k có ruộng để cày cuốc kiếm sống, tài sản dù có cũng sẽ phải “đội nón” ra đi nếu gia chủ túng thiếu..Từ đây, những bi kịch bắt đầu..
    Em nghĩ bao giờ mà các nhà đầu tư của mình thật sự suy nghĩ cho nông dân lâu dài hơn là chỉ ” quẳng” cho họ một ” nắm tiền” rồi thì ” sống chết mặc bay…”. Em thấy ở nước ngoài thường khi có dự án ở vùng nào đó thì người ta phải nghĩ ngay đến ưu tiên tạo công ăn việc làm cho người dân ở đó..cho nên khi tính một dự án là người ta tạo ra một ” con đường sống” cho những người dân..Ở mình nhiểu dự án là dự án treo, hoặc dự án để kinh doanh bất động sản về thực tế cho nên không thực sự tạo ra cơ hội cho nhiều người mà song song với việc đưa lại lợi nhuận cho một số ít người thì có vô số người đối mặt với những nguy cơ nghèo đói…
    Nếu người dân không thực sự được có quyền với ruộng đất thì em nghĩ bài toán đất đai mãi sẽ không có lời giải. Khi đất đai thuộc sở hữu tư nhân thì bất cứ khi Nhà nước hay tổ chức nào muốn có quyền sử dụng mảnh đất đó đều phải dựa trên thương lượng thỏa mãn quyền lợi của người sở hữu đất vì thế sẽ không gây nên những thay đổi bất lợi mà phần nhiều là mang đến những tệ hại cho họ.
    Cầu mong những người nông dân chân lấm tay bùn được đỡ khổ!

    • Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

      Kể ra cán bộ ngân hàng (NN&PTNT chẳng hạn) ngửi được ra chỗ nào nông dân sắp có tiền, đến đấy mà giới thiệu cho người ta biết đường mở tài khoản gửi tiền vào. Lâu lâu NH lại làm quả tư vấn đầu tư này nọ, cho họ vừa bỏ tiền vừa tự làm. Thế có phải tốt không!

      Nhưng mà đi thì cũng nghĩ lại, người ta là nông dân, chúa bảo thủ và xin lỗi cách suy nghĩ tính toán thì cũng vẫn còn ở trong tầm luỹ tre làng, mình bày ra cách này cách kia chưa chắc họ đã hiểu và đã nghe. Trông chờ vào các ông khác nghĩ ra làm cái này cái kia tạo công ăn việc làm cho họ thì còn mệt. Mà có khi bày việc ra, các bác nông dân lại bảo “bây giờ có tiền rồi đi làm làm quái gì” đối với những việc kiểu lao động phổ thông, còn những việc đòi hỏi có bằng cấp hoặc kỹ năng thì các bác lại không đáp ứng được. Khổ thế chứ. 🙂 😡 😉

  12. Viet says:

    Đọc bài báo thì thấy rằng sau một hồi kể lể, kết cục vẫn là đường cụt. Ko có ý tưởng gì mới hoặc khả thi, dù chỉ là ý tưởng.
    Riêng cái đoạn tiếc thương cho đất nông nghiệp bị thu hẹp mà mới chỉ nói đến việc mất đất nông nghiệp mà ko nói đc một câu nào về việc sử dụng những mẩu đất còn lại sao cho tốt thì đủ thấy tác giả cuối cùng cũng chỉ biết kể lể thôi.

    Còn riêng về chuyện đất đai thì… ít cũng phải 20 năm nữa mới có cái gì đó định hình được, chỉ cần ngồi bàn nước với mấy vị “tương đối to” ở các tỉnh để nghe các vị ý bàn về đất đai là đủ thấy miếng bánh sẽ còn bị băm nát đến thế nào. Em có vài cơ hội hầu chuyện như thế, nẫu lắm.

%d bloggers like this: