Thôn Ích Duệ và những sỹ tử

Thôn Ích Duệ ngày xưa. Ảnh: Internet

Nhớ lại thời đi trọ học ở Ninh Bình trong thời gian chiến tranh, Blog HM xin giới thiệu một hồi tưởng cá nhân để chia sẻ với bạn đọc. Nếu ai có câu chuyện thời đi học xin comment vào đây để mọi người đọc và suy ngẫm. Cảm ơn các bạn đã đọc entry mang tính cá nhân này.

Vào kỳ 2 của lớp 9 (1969) và bắt đầu lớp 10, do nhu cầu học hành nhiều và chuẩn bị tốt nghiệp nên nhà trường đã yêu cầu học sinh ở xa phải trọ. Học sinh quê Trường Yên khăn gói quả mướp, khoác ruột tượng gạo, gánh củi, nước mắm, muối và nồi niêu để đi ở trọ tại làng Ninh Nhất, Hoa Lư, Ninh Bình.

Thời gian đầu, tôi ở trong một gia đình gần nhà thờ họ Nguyễn Tử (quê hương Nguyễn Tử Quảng, BKAV nổi tiếng). Nhà ấy cũng có hai anh học trong trường nhưng dốt quá. Tôi và vài bạn cố giúp mà không thể được. Hai anh em toàn đánh nhau mà ông bố không thể bảo được. Mẹ mất sớm, cảnh gà trống nuôi con, khó trăm bề.

Bác Chồi ở thôn Ích Duệ có con trai tên là Nguyễn Tử Duy, người từng đi dạy học trên Trường Yên và trọ tại nhà bác ruột tôi là Giang Tử Thành. Anh Duy và anh Giang Tử Nhật, con bác ruột tôi, đi chiến trường mấy năm trước và đã hy sinh. Hai gia đình ấy thân thiết nhau đến mãi tận sau này khi các cụ mất, đám con cháu mới ít đi lại.

Khi biết tôi trọ ở nhà khác, bác Chồi bắt tôi về ở với bác dù nhà đã có hai em lớp dưới (chuyên toán) là Hiếu và một bạn nữa. Đi bộ qua Ninh Hòa nên tôi rất thân với Vũ Đức Ninh (10D). Ninh tỏ ý muốn ở cùng tôi nên bác Chồi phải chứa tới 4 học trò. Hai đứa ở trong buồng ở nhà ngang, tôi và Ninh ở một gian trên nhà thờ. Gia đình có 4 cô con gái và 2 em trai bé tý. Lúc ăn cơm chung ngoài sân, cứ tưởng đây là một tổ sản xuất.

Ích Duệ, cũng như bao xóm khác ở Ninh Nhất, rất nghèo, chỉ có khoai lang, khoai tây và lúa, không có nghề phụ để kiếm tiền. Viết bài tập làm văn về chị Dậu trên lớp nhưng khi về tới nhà trọ ngoài đời, cảnh như trong Tắt Đèn lại hiện lên.

Bố mẹ tôi ở  ngã ba Hoàng Long và sông Chanh đã nghèo, nhưng so với bác Chồi, đói khổ ở vùng tôi chưa thấm vào đâu. Ăn cơm độn khoai, dong riềng, cháo lá rau lang hái ngoài đồng, đôi lúc ăn bánh đúc cháo cám, rồi cả cám lợn.

Chúng tôi góp gạo, giúp gia đình phần nào thêm chút cơm trong nhà cho hai em bé. Hai bạn lớp chuyên toán, ăn bên bếp tập thể của nhà trường, có đỡ hơn. Ninh và tôi ăn chung với nhà bác để cơm cháo có nhau.

Chúng tôi đang tuổi lớn (16-17), ngoài nỗi lo học, lo thi tốt nghiệp, còn lo đói khát. Ước mong được một bữa no cơm sao mà khó thế. Thỉnh thoảng bác chủ mời khoai lang luộc rồi vùi, đói quá xơi cả vỏ. Đôi lúc hoa mắt, Ninh và tôi ra ruộng nhổ trộm khoai lang mới lớn, lấy mấy củ ăn sống.

Có ao cá nhưng chỉ bắt để bán, mua thức khác kể cả đong gạo. Có hôm bác sai Ninh mang lưới xuống ao bắt được khá nhiều cá và bữa đó thành ngày hội vì được chút canh cá chua nấu dưa. Dù nghèo nhưng khi về Tết, bác bắt một con cá to gửi biếu bố mẹ tôi.

Sỹ tử của Ích Duệ...bây giờ

Hai bác rất tốt với học sinh ở trọ, quí như con cái trong nhà. Mỗi lần có giỗ tết, ăn uống ngon bao giờ cũng được phần, đi chợ về cũng chia quà. Đôi lúc, nhìn mâm cơm không có gì, bác gái nước mắt lưng tròng bảo “Từ mai, các anh ăn riêng để đỡ khổ với nhà này”. Nói vậy thôi, chưa bao giờ dám nấu riêng, dù nhà Ninh rất khá giả và gia đình tôi cũng đỡ hơn nhiều so với trước.

Chúng tôi không phải mang củi, chỉ cần mang gạo, nước mắm, đôi khi chút mì chính hay cá thịt kho mà mẹ cố để phần cho đứa con học xa vất vả. Các bạn ở trọ nhà khác thì khá hơn nhưng gia chủ bắt bẻ đủ thứ, kể cả mang củi từ Trường Yên xuống. Sau này có bếp dầu hỏa nên thỉnh thoảng bọn tôi tự bồi dưỡng ôn thi bằng cháo gạo nấu với đường.

Làng này muối su hào cả củ. Ra ruộng nhổ, cắt rễ, lá, để nguyên vỏ, rồi cho vào chum muối để dùng mùa Đông sang Hè. Ngày nào cũng một món su hào muối, Ninh cắt khúc như quân cờ và bảo đây là giò, ăn với cơm trộn khoai hay dong riềng. Hoặc món rau cần muối, bắp cải hay rau lang luộc chấm nước mắm. Có đĩa lạc rang (lạc Ích Duệ nhỏ nhưng bùi) với muối để đưa cơm là sang hơn một chút.

Bể nước mưa hứng từ mái nhà thờ dùng cả năm cho nấu nướng. Lúc nào hết thì dùng nước giếng đỏ ngầu, múc vào chum để lắng cặn và dùng làm nước ăn. Tắm giặt bằng nước giếng hay ra ao.

Sau vài tháng đã thấy thế nào là dùng nước bẩn. Cả 4 đứa bị ghẻ khắp người. Khi đó cả trường đều bị nạn ghẻ hành hạ. Học sinh đầy mùi diêm sinh hay kẽ tay tím mầu thuốc.

Sự nghèo khó cũng không làm tình cảm nghèo đi. Sau này, dù tôi đã đi nước ngoài, công tác ở Hà nội, nhưng ở quê, khi có giỗ chạp, cưới xin hay ngày Tết, mẹ tôi thường mời hai bác lên, hoặc mẹ tôi xuống đó. Đi nước ngoài về (1973, 1977), tôi đến thăm hai bác, mừng tủi biết bao nhiêu. Chợt thấy may mắn như mình có người mẹ thứ hai trong đời.

Tôi đã đi rất nhiều nơi trên thế giới, từng chứng kiến cảnh lầm than của những kiếp người và bản thân từng chịu đói khát. Nhưng quả thật, ăn cơm độn khoai với su hào muối, ăn cháo cám, ghẻ lở vì tắm nước ao tù, đói kém hành hạ, để lại cho tôi ấn tượng thật khó phai suốt mấy thập kỷ.

Ba mươi năm sau (2000) quay lại mái nhà xưa, mọi thứ đã đổi khác. Bác trai đã về trăm tuổi. Các em trong nhà không còn nhớ tôi nhiều. Bác gái chân tay run run nhưng vẫn nhớ rõ về những năm tháng trọ học của đám học trò.

Hoa Lư yêu dấu. Ảnh: anh Duy Mẫn cung cấp.

Đứng trước ngõ thân quen, tôi bỗng như thấy hôm qua. Chợt thương cảm một kiếp người, đói khổ cho đến lúc nhắm mắt, dù là mẹ liệt sỹ, đất nước hòa bình mấy thập kỷ, miền quê cách thị xã Ninh Bình hoa lệ vài cây số. Khi tôi viết những dòng này (3-2009), Ninh Nhất đã về với thị xã Ninh Bình và bác Chồi gái cũng không còn.

Ghi lại câu chuyện này để nhớ ơn những gia đình ở Ninh Nhất đã cưu mang học trò thời đó. Tuy đói rét nhưng lòng thương yêu đồng loại dưới mái tranh nghèo của họ đã sưởi ấm tâm hồn chúng tôi suốt cuộc đời.

Hiệu Minh. 3-2009.

PS. Thôn Ích Duệ ở tại xã Ninh Nhất (Thư Điền), huyện Hoa Lư, gần thị xã Ninh Bình. Gần đó là Tam Cốc, Bích Động, Cố Đô Hoa Lư.  HM đi học cấp 3 Lương Văn Tụy trong suốt 3 năm liền tại thôn này.

Advertisements

76 Responses to Thôn Ích Duệ và những sỹ tử

  1. Nguyễn Thị Minh Ngọc says:

    Sinh ra và lớn lên khi Ninh Nhất không còn quá khổ,nhưng tình yêu quê hương Ninh Bình đặc biệt Là Ninh Nhất yêu dấu thì lúc nào cũng ở trong tim.

  2. 0987896640 says:

    Cháu xin cảm ơn chú HM đã đăng bài. Là con cháu trong dòng họ và cũng là cháu của bà chủ nhà đáng mến đã khuất cháu cảm thấy rất vui, rất xúc động và rấ rất tự hào vì đươc là cháu con của bà. Cháu cầu mong bà sống khôn thác thiêng phù hộ độ trì cho những người bà thương yêu quý mến luôn mạnh khỏe, bình an và may mắn trong cuộc sống này. Một lần nữa cháu xin cảm ơn chú đã nhớ đến bà. Cháu chúc chu và gia đình luôn mạnh khỏe.

  3. 195612 says:

    toanctxd4250@yahoo.com qua khu buon goi lai lam gi minh la dan ninh nhat day nha gan gac chuong ao ca bac ho thinh thoang van hay ve tuoi mmoi ngay mot lon tat ca deu xa xu

  4. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  5. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  6. Nguyễn Đức Hiếu says:

    Chào chú Hiệu Minh đọc bài viết của Chú cháu nhớ quê quá, rời xa quê hương năm 12 tuổi (1982), hôm nay đọc bài của chú xúc động quá. nhà bà ngoại cháu ở Ích Duệ, nhà cháu ở Đề lộc gần gác chuông, cạnh ao dài, cháu họ Nguễn Tử.. Cảm ơn chú nhiếu lắm

    • Nguyễn Tử Thư Điền says:

      Hiếu ạ, Đang làm khách nhà cụ HM (có cả cụ Khổng Tử, Khổng Minh ngồi kia kìa !); các cụ đang bàn chuyện trên trời dưới biển. Nói nhỏ thôi, kẻo vô lễ. Theo thứ bậc có khi cháu phải gọi là bác (Nguyễn Tử Siêm, hệ 3, đời 10). Ta sẽ dùng imeo nhé.

  7. […] thêm Thôn Ích Duệ và những sỹ tử Rate this:Like this:LikeBe the first to like […]

  8. Nguyễn Tử Siêm says:

    Gửi Hiệu Minh và các sỹ tử trường Lương Văn Tụy đã từng ở Ninh Nhất,

    Cảm ơn HM đã có nhã ý gửi cho bài này. Mình là dân Thư Điền thứ thiệt nên các bạn hồi tưởng về vùng đất này là chạm vào hệ thần kinh lâu nay phủ bụi của mình rồi. Vậy nên chẳng phải đồng môn cũng cứ sà vào lớp các bạn mà góp chuyện, vả lại HM đầu têu ra cái chủ đề này, tự nhiên thấy lắm chuyện muốn nói. Bạ đâu kể nấy nhá.

    Khi các bạn ở Thư Điền thì mình đã xa quê hơn 10 năm rồi. Đấy là năm 1957 mình phải ra Hà Nội học vì bấy giờ Ninh Bình chỉ mới có đến lớp 7. Nghỉ hè. Đi đập đá 4×6 ở núi Cánh Diều được mấy đồng dắt lưng, mượn được đôi dép lốp, bảo với nhà là đi xem Hà nội, rồi biến luôn. Trẻ con ham vui, ham lạ, tưởng tượng ngoài cái xứ đồng chua nước mặn của mình thì đâu cũng như thiên đường phải khám phá, ấy là một lẽ.

    Với lại cũng chết khiếp với cơn bão CCRĐ vừa quét qua, chắc lứa các bạn còn bé quá không chứng kiến. Ra đường gặp cô, bác, chú, thím bị qui địa chủ, khoanh tay với mình: “Con chào ông nông dân ạ !”, thật điếng người. Nhớ lại rùng mình, chả nỡ bấm đốt ngón tay xem mất bao nhiêu sinh mạng. Kể nghe một lần rồi thôi nhá. Một sớm nghe kêu thất thanh: cô V. tự vẫn ở mương lúa (đấy là cô mình, có bằng primaire, Đảng viên trước 45); trước đó chú K., chú họ mình treo cổ trong chuồng trâu (cả đời ông ấy chỉ biết đi cày, chỉ không phải đi vay thóc thôi); ông Lý P. cũng treo cổ trên cây xoan (chức lý trưởng mua ấy mà, giống như mấy bác mua bằng thời nay ý, xin lỗi). Lại nữa, bà Nhất V. chết mấy ngày trong nhà không ai biết (con cái bà đi xa cả, địa chủ thì ai dám lai vãng). Ghê nhất là xem xử bắn địa chủ Thái Văn L. ở Phúc Am, chỗ cánh đồng bây giờ là trường Lương Văn Tụy và Nguyễn Tử T., chú mình, bí thư chi bộ đầu tiên từ trước khởi nghĩa. Thôi, khoét lại nỗi đau làm gì !.

    Từ Ninh Bình ra Hà Nội phải đi qua 3 cái phà: phà Gián, phà Khuốt, phà Phủ Lý. Xe hãng Phi Long chạy từ sáng sớm đến tối mịt mới đến bến Kim Liên (bây giờ cao tốc Pháp Vân-Ninh Bình xong rồi, mình chạy về nhà mất có tiếng rưỡi). Xe Phi Long chạy bằng đốt củi, trời rét, đứng sát lò than ở cuối xe cũng đỡ lạnh, sau 75 vẫn còn thấy chạy ở miền Nam. Mà rét mướt cũng chẳng là gì với tâm trạng lâng lâng lần đầu ra khỏi Cống Đầm, từ biệt cái thôn quanh năm nước đọng, mênh mông mùa nước nổi. Ra khỏi cái cổng làng này không dễ. Mấy lần đi xuống chùa Phúc Chỉnh học bị du kích đuổi về, “học thì cả đời, đánh đổ địa chủ thì ngàn năm có một”. Chả sao, có cái cớ mà nghỉ học, đặt rọ cá rô, câu tôm, đánh dậm, trèo cây gáo, bứt quả sắn thuyền cũng thích.

    Thư Điền – cái tiên chữ nghĩa quá, không thích bằng các địa danh một chữ khá nhiều ở đất cố đô, những là Trữ, Thiệu, Hối, Điềm, Đế, Viến, Sưa, Chòm, Vệ, Bợi…, rồi nào thung Chay, thung Chuối, hang Đùng, hang Trâu, hang Trăn, nghe gợi cảm hơn. Các cụ bảo tên Thư Điền có ý là cày ruộng với đọc sách thôi. Thế mới nghèo. Ruộng thì toàn một vụ chiêm khê, thóc được mấy hột, đói nhớ đời luôn, nhất là món cháo cám lẫn mày hạt thóc lọt qua cái dần (không phải cái rây bột đâu nhen), nuốt không dzô. Khi các bạn đến thôn mình học thì đã có đê Hoàng Long rồi, mấy vạt đất cao nhô lên mới trồng được ít củ xu hào mà luộc ăn trừ bữa đấy, chứ trước năm 57 bà cụ nhà mình phải chèo thuyền lên Gia Viễn, Nho Quan mới mua được thúng sắn khô cứu đói. Tiếc thật, giá đừng có đắp đê thì bây giờ vùng mình chả kém gì Đồng bằng Cửu Long đâu, làm du lịch homestay được đấy. Xem phim thấy bên Mỹ nó phá mấy cái đập thủy lợi bê tông ngất ngưởng, trả lại cảnh quan cũ; nó toàn khôn trước mình !. Hay là đề xuất phá cái đê Hoàng Long đi nhỉ. Bao giờ cho đến ngày xưa…Mà sao thời nghèo khó ấy vẫn thấy đẹp, ăn ở với nhau tử tế, nếu xếp hạng chung thì mình thấy Tình người hồi chống Pháp > hồi chống Mỹ > hồi chống…Tham nhũng bây giờ. Sao vậy nhỉ ?. (Có sai đừng mắng nhé, trong cái phổ biến có cái cá biệt, không dám vơ đũa cả nắm đâu).

    Thư Điền giờ nửa tỉnh nửa quê, bạn nào lâu không trở lại vài năm nữa về có khi không còn dấu tích gì đâu. Đại gia X.T. nó mua cả xã mình rồi còn gì. Cánh đồng giáp núi Lớ mà HM đưa lên mạng có con thuyền và người đánh dậm giờ đã thành cái hồ mênh mang ôm cả quả núi, sắp nuốt luôn thôn Ích Duệ với nhà chú Chồi mà mà các bạn trọ học. Nước trong vắt, vùng vẫy một hồi rồi lên nằm võng buộc cành nhãn gộc mà ngủ, gió nồm ru cũng sướng. Lãng mạn ra phết !. Nhưng được một lúc thôi, lại trở về với hiện thực. Hiện thực ấy là vừa rồi hơn chục nhà mất mồ mả cha ông. Chả là nghĩa địa Đồng Nèn giờ chuyển thành nghĩa trang thành phố. Mộ của mấy nhà nghèo hay con cháu làm ăn xa chưa kịp xây, đêm đến người xã khác sang đào sạch. Sáng ra một ngôi mộ lạ hoành tráng mọc lên; cả đống tiểu sành của nhà khác nó vứt vương vãi. Còn đau nào bằng !.

    Hiện đại hóa, đô thị hóa nó sắp nuốt chửng cái làng hiền lành của mình rồi. Cùng với nó nhân tình thế thái cũng có phần xuống cấp. Thế nên nghe các bạn còn nhắc đến cái thuở hàn vi, nhớ đến con người lam lũ chốn quê này mình đọc chăm chú. Thế giới phẳng, tưởng tình người cùng phẳng lỳ rồi, ấy vậy mà vẫn vời vợi tình người, sâu thẳm nhớ thương. Ăn ở với nhau vậy là hiếm lắm, quí lắm, ân tình lắm.
    1/9/2012
    Nguyễn Tử Siêm

  9. […] Tổng Cua học cấp 3 ở Lương Văn Tụy (Ninh Bình) khóa 1968-1970, trường sơ tán về hai xã Ninh Nhất và Ninh […]

  10. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  11. Thienly says:

    Hôm nay mới đọc được (được đọc) bài viết này của anh Hiệu Minh, thật xúc động.
    Lại nhớ ra:
    Hồi ấy em sơ tán lưu động, khi thì ở núi Sẻ (bây giờ bị xẻ hết rồi), khi thì về Thư Điền, quê ngoại
    Thầy Sơn dạy vật lý (thầy có tật nơi lưng) ở trọ tại nhà bà ngoại em, ông ngoại em họ Nguyễn Tử .
    Bấy giờ, thầy Sơn tự lắp cái giống như radio bây giờ để nghe Đài TNVN, (hình như gọi là galent???)
    Chiều chiều hay ra xem các anh học sinh cấp III hay chơi bóng chuyền (anh HM cao, chắc chơi giỏi), có kiểu “séc bít” Triều Tiên, phát bóng ngược phía mu bàn tay để bóng lên thật cao, bây giờ ai còn nhớ?
    Ninh Bình, trong đó có làng Thư Điền bây giờ khá hơn nhiều rồi, đổi thay bắt đầu từ khi tách khỏi Hà Nam Ninh, nông dân bây giờ cũng đỡ, nhưng vẫn là tầng lớp khổ nhất.
    Lại được biết anh họ Giang, một họ khá nổi tiếng tại Trường Yên, chắc có bà con với anh Giang Quốc Tuấn, học LX, làm ở Bộ QP, bác trai tên là bác Số?

    • Hiệu Minh says:

      Chào TL. Thầy Sơn hiện vẫn ở ngoài Hà Nội. Mỗi khi họp khóa 1968-1970, nhóm các bạn ở Hà Nội luôn mời thầy Sơn đến dự. Lớp này có truyền thống họp mặt vào ngày 30-4 hàng năm vì phần đông họ đi lính, may mắn trở về vì hết chiến tranh.

      Các chi tiết Séc bit Triều Tiên, thầy Sơn vác đài galen đến lớp thật chính xác.

      Mấy lần về quê nhưng bận quá chưa qua lại làng Thư Điền nhưng biết là xã Ninh Nhất nay đã thuộc về thị xã, có vẻ phát triển nhiều hơn.

      Bác Số là họ hàng gần với nhà này, cũng nghe tên anh Quốc Tuấn, vì ngày xưa ở làng chỉ có vài người học hành được và đi du học.

      Chúc TL và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc.

      • Nguyen Tu Siem says:

        Gửi Hiệu Minh và các sỹ tử trường Lương Văn Tụy đã từng ở Ninh Nhất,   Cảm ơn HM đã có nhã ý gửi cho bài này. Mình là dân Thư Điền thứ thiệt nên các bạn hồi tưởng về vùng đất này là chạm vào hệ thần kinh lâu nay phủ bụi của mình rồi. Vậy nên chẳng phải đồng môn cũng cứ sà vào lớp các bạn mà góp chuyện, vả lại HM đầu têu ra cái chủ đề này, tự nhiên thấy lắm chuyện muốn nói. Bạ đâu kể nấy nhá.   Khi các bạn ở Thư Điền thì mình đã xa quê hơn 10 năm rồi. Đấy là năm 1957 mình phải ra Hà Nội học vì bấy giờ Ninh Bình chỉ mới có đến lớp 7. Nghỉ  hè. Đi đập đá 4×6 ở núi Cánh Diều được mấy đồng dắt lưng, mượn được đôi dép lốp, bảo với nhà là đi xem Hà nội, rồi biến luôn. Trẻ con ham vui, ham lạ, tưởng tượng ngoài cái xứ đồng chua nước mặn của mình thì đâu cũng như thiên đường phải khám phá, ấy là một lẽ.   Với lại cũng chết khiếp với cơn bão CCRĐ vừa quét qua, chắc lứa các bạn còn bé quá không chứng kiến. Ra đường gặp cô, bác, chú, thím bị qui địa chủ, khoanh tay với mình: “Con chào ông nông dân ạ !”, thật điếng người. Nhớ lại rùng mình, chả nỡ bấm đốt ngón tay xem mất bao nhiêu sinh mạng. Kể nghe một lần rồi thôi nhá.  Một sớm nghe kêu thất thanh: cô V. tự vẫn ở mương lúa (đấy là cô mình, có bằng primaire, Đảng viên trước 45); trước đó chú K., chú họ mình treo cổ trong chuồng trâu (cả đời ông ấy chỉ biết đi cày, chỉ không phải đi vay thóc thôi); ông Lý P. cũng treo cổ trên cây xoan (chức lý trưởng mua ấy mà, giống như mấy bác mua bằng thời nay ý, xin lỗi). Lại nữa, bà Nhất V. chết mấy ngày trong nhà không ai biết (con cái bà đi xa cả, địa chủ thì ai dám lai vãng).  Ghê nhất là xem xử bắn địa chủ Thái Văn L. ở Phúc Am, chỗ cánh đồng bây giờ là trường Lương Văn Tụy và Nguyễn Tử T., chú mình, bí thư chi bộ đầu tiên từ trước khởi nghĩa. Thôi, khoét lại nỗi đau làm gì !.   Từ Ninh Bình ra Hà Nội phải đi qua 3 cái phà: phà Gián, phà Khuốt, phà Phủ Lý. Xe hãng Phi Long chạy từ sáng sớm đến tối mịt mới đến bến Kim Liên (bây giờ cao tốc Pháp Vân-Ninh Bình xong rồi, mình chạy về nhà mất có tiếng rưỡi). Xe Phi Long chạy bằng đốt củi, trời rét, đứng sát lò than ở cuối xe cũng đỡ lạnh, sau 75 vẫn còn thấy chạy ở miền Nam. Mà rét mướt cũng chẳng là gì với tâm trạng lâng lâng lần đầu ra khỏi Cống Đầm, từ biệt cái thôn quanh năm nước đọng, mênh mông mùa nước nổi. Ra khỏi cái cổng làng này không dễ. Mấy lần đi xuống chùa Phúc Chỉnh học bị du kích đuổi về, “học thì cả đời, đánh đổ địa chủ thì ngàn năm có một”.  Chả sao, có cái cớ mà nghỉ học, đặt rọ cá rô, câu tôm, đánh dậm, trèo cây gáo, bứt quả sắn thuyền cũng thích.     Thư Điền – cái tiên chữ nghĩa quá, không thích bằng các địa danh một chữ khá nhiều ở đất cố đô, những là Trữ, Thiệu, Hối, Điềm, Đế, Viến, Sưa, Chòm, Vệ, Bợi…, rồi nào thung Chay, thung Chuối, hang Đùng, hang Trâu, hang Trăn, nghe gợi cảm hơn.  Các cụ bảo tên Thư Điền có ý là cày ruộng với đọc sách thôi. Thế mới nghèo. Ruộng thì toàn một vụ chiêm khê, thóc được mấy hột, đói nhớ đời luôn, nhất là món cháo cám lẫn mày hạt thóc lọt qua cái dần (không phải cái rây bột đâu nhen), nuốt không dzô. Khi các bạn đến thôn mình học thì đã có đê Hoàng Long rồi, mấy vạt đất cao nhô lên mới trồng được ít củ xu hào mà luộc ăn trừ bữa đấy, chứ trước năm 57 bà cụ nhà mình phải chèo thuyền lên Gia Viễn, Nho Quan mới mua được thúng sắn khô cứu đói. Tiếc thật, giá đừng có đắp đê thì bây giờ vùng mình chả kém gì Đồng bằng Cửu Long đâu, làm du lịch homestay được đấy. Xem phim thấy bên Mỹ nó phá mấy cái đập thủy lợi bê tông ngất ngưởng, trả lại cảnh quan cũ; nó toàn khôn trước mình !. Hay là đề xuất phá cái đê Hoàng Long đi nhỉ. Bao giờ cho đến ngày xưa…Mà sao thời nghèo khó ấy vẫn thấy đẹp, ăn ở với nhau tử tế, nếu xếp hạng chung thì mình thấy Tình người hồi chống Pháp > hồi chống Mỹ > hồi chống…Tham nhũng bây giờ. Sao vậy nhỉ ?. (Có sai đừng mắng nhé, trong cái phổ biến có cái cá biệt, không dám vơ đũa cả nắm đâu).   Thư Điền giờ nửa tỉnh nửa quê, bạn nào lâu không trở lại vài năm nữa về có khi không còn dấu tích gì đâu. Đại gia X.T. nó mua cả xã mình rồi còn gì. Cánh đồng giáp núi Lớ mà HM đưa lên mạng có con thuyền và người đánh dậm giờ đã thành cái hồ mênh mang ôm cả quả núi, sắp nuốt luôn thôn Ích Duệ với nhà chú Chồi mà mà các bạn trọ học. Nước trong vắt, vùng vẫy một hồi rồi lên nằm võng buộc cành nhãn gộc mà ngủ, gió nồm ru cũng sướng. Lãng mạn ra phết !. Nhưng được một lúc thôi, lại trở về với hiện thực. Hiện thực ấy là vừa rồi hơn chục nhà mất mồ mả cha ông. Chả là nghĩa địa Đồng Nèn giờ chuyển thành nghĩa trang thành phố. Mộ của mấy nhà nghèo hay con cháu làm ăn xa chưa kịp xây, đêm đến người xã khác sang đào sạch. Sáng ra một ngôi mộ lạ hoành tráng mọc lên; cả đống tiểu sành của nhà khác nó vứt vương vãi. Còn đau nào bằng !.   Hiện đại hóa, đô thị hóa nó sắp nuốt chửng cái làng hiền lành của mình rồi. Cùng với nó nhân tình thế thái cũng có phần xuống cấp. Thế nên nghe các bạn còn nhắc đến cái thuở hàn vi, nhớ đến con người lam lũ chốn quê này mình đọc chăm chú. Thế giới phẳng, tưởng tình người cùng phẳng lỳ rồi, ấy vậy mà vẫn vời vợi tình người, sâu thẳm nhớ thương. Ăn ở với nhau vậy là hiếm lắm, quí lắm, ân tình lắm. 1/9/2012 Nguyen Tu Siem

        Mobile +84 913234073  

        ________________________________

      • Nguyen Tu Siem says:

        Gửi Hiệu Minh.     Nguyen Tu Siem

  12. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  13. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  14. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  15. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  16. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  17. Nguyễn Tử Siêm says:

    Chú Chồi thôn Ích Duệ là chú tôi đấy anh ạ. Thôn này cũng như cả cái làng Thư Điền (Ninh Nhất) quê tôi những năm trước là đúng như anh mô tả. Nghe kể dạo nhưng năm 1960-70 gì đó trường LVT sơ tán về làng, một số cũng ở nhà tôi. Tôi đã đi khỏi hơn nửa thế kỷ; nhưng trở về thấy dân làng vẫn giữ ấn tượng sâu sắc về các anh/chị – những học sinh nghèo như chúng tôi, mà học hành tử tế. Mong có dịp các anh/chị về lại, có chuyện để nói về một thời đáng nhớ.
    GS TS Nguyễn Tử Siêm (siemnguyentu@yahoo.com)

    • Hiệu Minh says:

      Thật cảm động khi thấy một người vùng Thư Điền đọc blog Hiệu Minh. Và cũng mừng anh rất thành đạt. Thôn Ích Duệ đã đi vào thế hệ Lương Văn Tụy 1968-1970 như một kỷ niệm đi theo suốt cuộc đời.

      Cảm ơn anh nhiều.

  18. […] Thôn Ích Duệ và những sỹ tử […]

  19. Chào chú HM.

    Cháu cứ nghĩ chú ở HN, hôm nay đọc kỹ lại blog của chú mới biết hiện chú đang cách quê mình nửa vòng trái đất. Những năm chú trọ học cạnh nhà cháu thì cháu còn chưa ra đời. Nhưng khi còn nhỏ cháu vẫn thường được mẹ cháu kể chuyện học trò cấp 3 trọ học ngày xưa.

    Ông nội cháu là Bùi Hữu Hoàng, còn gọi là ông Xuồng nhà cách nhà bác Chồi một nhà đó chú. Bây giờ nnà thờ tổ họ Bùi của cháu vẫn còn trong khu đất nhà bác ấy và đã được sửa sang lại khác xưa.

    Tết năm nào cháu cũng về quê ăn Tết chú ạ (cháu hiện đang sống và làm việc tại HN). Ích Duệ bây giờ thay đổi nhiều. Trong entry về Ích Duệ của chú có một bức hình cánh đồng Chiều hoang sơ với ngọn núi Lớ phía sau làm cháu ngỡ ngàng: Sao chú lại có được tấm hình đó nhỉ?

    Cả tuổi thơ cháu gắn bó với xóm nhỏ nghèo về vật chất nhưng quấn quýt chia sẻ và thương yêu. Những tình cảm mà thế hệ các chú giành cho nơi chỉ trú ngụ chỉ trong thời gian ngắn làm cháu xúc động và trân trọng vô cùng. Phải có tình yêu thương gắn bó ngấm vào máu thịt thì mới có thể có tình cảm được như vậy chú à.

    Cháu thi thoảng cũng viết vài chữ lăng nhăng trên blog, đamg học hỏi, chưa được như các bậc cha chú. Lúc nào tiện, chú vào xem http://ngocthuyhm-hoalu.blogspot.com/

    Mong rằng sẽ có dịp được gặp chú tại quê nhà.

    Cháu kính chúc chú cùng gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc.

    • Nguyễn Đức Hiếu says:

      Chào Thủy, đọc comment của bạn thấy nhớ nhà Ông Xuồn quá hồi còn nhỏ hay hái quả mâm xôi bên bờ rào nhà ông ,có khi mình lại có họ vói nhau đấy mẹ mình họ Bùi Hữu bố mình họ Nguyễn Tử với nhà Bác Chồi ….. Nhớ quê quá cảm ơn Chú Hiệu Minh, cảm ơn Thủy…

    • Nguyễn Tử Thư Điền says:

      Chào Thủy & Hiếu, Thế là nhờ HM mà đồng hương, đồng tộc mình nhận ra nhau. Vậy trước hết phải cảm ơn HM đã. Theo trí nhớ thì nhà cụ Xuồng có anh Giao & anh Thảo phải không, anh Thảo cùng học với chú hồi bé. Với các anh/chị LVT trọ học ở Thư Điền (Ninh Nhất) nghèo khó chúng mình, sau nửa thế kỷ vẫn nhớ lại chốn cũ thì đấy là điều làm đẹp cho truyền thống trường và đất cố đô. Chú nhớ hồi nhỏ có đọc câu chuyện một ông Carnot rất thành đạt, thăm thầy cũ, thầy không nhớ nổi, vị danh nhân này thưa: “Con là trò Carnot, Thầy còn nhớ con không ?”. Vậy đấy. Nên chú vẫn muốn nhắc lại câu đã viết lần trước với các sĩ tử LVT: “Ăn ở với nhau vậy là hiếm lắm, quí lắm, ân tình lắm”.
      Chúc các cháu khỏe & thành đạt./.

      • Hiệu Minh says:

        Gửi bác Siềm và hai cháu Thủy và Hiếu. Cảm ơn bác và hai cháu đã đọc blog và chia sẻ. Mỗi lần viết về làng Ích Duệ, mắt tôi như có nước vì nghĩ về thời gian khó.

        Trong bối cảnh bây giờ, đạo đức xã hội đi xuống, dù giầu có thừa thãi hơn xưa, sao tôi nhớ về mảnh đất Thư Điền đến vậy.

        Hẹn sẽ về làng Ích Duệ lần nữa và viết bài đầy đù về 40 năm xa cách.

      • Nguyễn Đức Hiếu says:

        Chào chú Nguyễn Tử Thư Điền, nhờ có Chú HM mà họ Nguyễn Tử lại được gặp nhau vui quá, chú cho chau biết rõ quy danh của chú và chú ở hệ mấy đời nào của họ Nguyễn Tử được không ạ, cảm ơn chú. Cảm ơn chú Hiệu minh đã viết những bài viết về Ích Duệ, Thư Điền một vùng đất nghèo mà tràn đầy tình yêu thương…Nhớ quê hương quá

  20. Trinh quang huy says:

    Độc bài của HM mà rơi nước mắt, tôi cũng học LVT khóa 64 -67, năm lớp 8 trường còn rất đẹp nằm sau núi Cánh diều, xã ninh sơn, lớp tôi học là lớp 8c do cô Trần xuân Lâm người miền nam chủ nhiệm, cô lâm rất đẹp, dạy văn hay, dù mới ra trường năm đầu, giữa năm 65 do trường bị bom mỹ phá hỏng, nên chuyển về phúc am, rồi sau mới chuyển vào Tư điền, gần làng tôi làng Cam giá Lúc tôi học thày thực làm hiệu trưởng, thày thực rất cao lớn nói chuyện rất hay, chính thày là người nhận hồ sơ của tôi. Tôi còn nhớ khi thày thấy chữ hoàng trong tên tôi thày bảo tên em hay đấy, tôi nói tôi ngượng với cái tên em lắm nhiều người họ cười em, thày bảo: họ cười thì hở mười cái răng… tôi học tiếng Nga do thày châu dạy, lúc ấy trường chỉ dạy tiếng nga và tiếng trung thôi.

    • hathienhau says:

      Ký ức tuổi học trò lại hiện về… thầy Châu, rồi sau này đến thày Tường dạy môn Tiếng Nga.
      Con người Nga, tâm hồn Nga, tính cách Nga thật vĩ đại…Đúng là “vứt-hẳn-đi-ray-rứt” lắm thay.

  21. Tôi là người Thư Điền, ở Ích Duệ có mấy dòng họ: Nguyễn Tử, Bùi Hữu, Nguyễn Trần …và Nguyễn Phú…
    Ông bà tôi ở Ích duệ. Bố mẹ tôi lên Nho Quan làm ăn.
    Anh chị tôi sinh ở Nho Quan. Năm 1963 tôi về quê Thư điền học lớp 10
    Thư điền, Ích duệ là nơi quê tôi anh ạ
    (Tôi lại thấy người viết hay mà quàng làm họ hàng đây. )
    Tôi đọc bài của anh và là fan của Hiệu Minh đó
    Tôi được chị Kim Dung cho tôi link
    Viết còm này để làm quen anh, coi như được nhận làm …đồng hương nhé.
    Chùa Phi Lai tên khác là cjhùa Vơ, đền đức thánh cả…cánh đồng cửa bạc, Núi Dụ, Núi lớ… Quê nhà ta đó anh
    Kính chúc anh và gia đình mạnh khỏe an bình
    NPC

    • Hiệu Minh says:

      Lại một đồng hương Thư Điền trên mạng. Không hiểu sao, vùng đất này đã đi vào trái tim tôi trong suốt 40 năm qua. Cảm ơn anh đã đọc và comment.

    • Nguyễn Tử Thư Điền says:

      Anh NPC ạ, Tôi ở HN, lúc rảnh lại về quê, chạy xe chỉ mất 1:30, mỗi lần về lại thấy dấu tích xưa mờ dần, làng mình nó mong manh quá, sợ nó biến mất luôn. Ít nữa còn một khối bê tông thì buồn lắm. Lâu lâu lại quay lại cái địa chỉ này để tìm người quen và đỡ nhớ người cũ (Chết thật, cứ lấy nhà anh HM làm trạm giao liên, ngại quá). Cái họ Nguyễn Tử nhà tôi cũng là qui ước vậy chứ đang nghi là cụ tổ vì trốn truy lùng mà đổi sang thôi, vậy thì họ nào không quan trọng (sau này làm bản đồ ADN may ra mới hay, chú tôi viết thế). Anh vào Google “Thư Điền Ninh Nhất” hay “Nguyễn Tử” có thể thấy một số thông tin quê mình trong đó. Các anh/chị học trò LVT tá túc quê mình ít bữa, tôi lại đi trọ học nơi khác, vậy đấy. Tình cờ tôi đọc mấy lời các anh chị ấy nói về quê mình đúng tần sóng của tôi, nên góp chuyện, chứ có biết ai đâu. Đêm Trung thu chúc cả nhà vui như trẻ con nhé./.

  22. Một Entry hay và cảm động quá. Nhớ tuổi học trò và rồi đời sinh viên mấy chục năm trước của tôi cũng thế, thiếu khổ y như Hiệu Minh.

    Cảm ơn những dòng chữ có hồn để cho bao người đọc nó lúc này rưng rưng ứa lệ.

    • Hiệu Minh says:

      Anh Thạch bên tòa đại sứ thỉnh thoảng vẫn nhắc đến bác NV. Được anh thăm và lại cảm động vì bài viết, HM như thấy tăng thêm nguồn sức mạnh.

  23. người qua đường says:

    Mỗi chúng ta đi trên con đường đời đều mang theo những ký ức tuổi thơ mãi mãi là hành trang, làchỗ đựa cho tinh thần của cuộc đời mình.

    Những năm 50, 60, 70 đầy thiếu thốn về vật chất chính là kỷ ức vô giá về một thời đi học của bao thế hệ . Chính cái thời nghèo khó về vật chất nhưng giàu tình thương và lòng bao dung , cái thời không để mất niềm tin ở chính mình và xã hội ấy đã hun đúc nên những phẩm chất của nhiều thế hệ chúng ta hôm nay.

    Chúng ta, những hế hệ phải trả giá cho một tuổi thơ đầu đời cho sự nghèo khó và thiếu thốn về vật chất thì cuối đời, khi đời sống vật chất khá lên thì lại phải trả giá cho sự đổ vỡ về niềm tin , lý tưởng và con đường đi phải di tiếp.

    Mong sao con cháu không phải trải qua nhiều kỷ niệm và trải nghiệm mang tính bi kịch kịch sử như thế này nữa!

    • Hiệu Minh says:

      Vừa là bi kịch lịch sử, vừa là bài học và cũng là nền văn hóa của chính thế hệ chúng ta.

    • Duc says:

      ”Mong sao con cháu không phải trải qua nhiều kỷ niệm và trải nghiệm mang tính bi kịch kịch sử như thế này nữa” mà vẫn có thể xây dựng những giá trị sống tốt đẹp cho mình phải không bác NQD?

      • chinook says:

        Thế hệ chúng tôi(U 60) trong Nam có những trải nghiệm như các anh (tuy hơi khác một chút )châm hơn cả chục năm.

        Thập niên 60, chiến tranh đã lan rộng , nhưng chúng tôi còn được ăn uống đầy đủ. Đôi khi thiếu tiền thì còn có quán cơm xã hội ,một loai tiêm cơm binh dân được chinh phủ subsidized nên rất rẻ . Ngay cả sau tết Mậu thân , với luật Tổng động viên ,nếu 20 tuổi học xong Trung học và lên đại học không phải học lạinawm nào thì được hoãn dich cho đến khi tốt nghiêp.

        Mãi đến sau 75, chúng tôi mới nếm mùi đói, rét, rach rưới….

        Mọi chuyện đã qua ,tôi cũng luôn cầu mong các thế hề sau học được bài học của cha anh để không bao giờ phải trải qua những kinh nghiệm đau thương tương tự.

  24. Kim Dung says:

    HM à. Bài Thông minh… của HM hôm nay đã đăng trên TVN. HM đưa lên blog đi.

    Sao dạo này HM có vẻ trầm lắng thế? VNN đang gặp sự cố kỹ thuật mấy hôm nay, nên bài vở trên giao diện trang chủ cũng cũng chập choạng quá. Khổ thế.

    Chúc HM khỏe và mọi điều an lành. Hãy gắng vượt qua mọi thách thức… KD

  25. dangminhlien says:

    Bồ Đình – Làng tôi cạnh làng Đại Hữu quê gốc vua Đinh – cờ lau tập trận – tiếc , hì hì rằng tý nữa có cái siêu tự hào quê vua.

    Song lúc nhỏ, tôi cũng có đôi ba lần lên chùa Hang làng Đại Hữu gia Phương thăm cảnh cổ xưa
    Và hàng ngày vẫn nhìn sang Trường Yên – với các dải núi xanh trước cửa nhà, trước đồng làng bên sông Hoàng Long. Và tuổi thiếu niên đọc,nghe biết nhiều huyền tích Vua Đinh, vua Lê, Vua Lí Công Uẩn cùng cố đô Hoa Lư

    Những năm cuối 1960 vẫn no mắt xem Mỹ và Ta nện nhau,lửa đỏ trời hàng ngày đêm phía Thị xã NB, đến mức hôm nào không có đánh nhau thì nhơ nhớ

    Sau đi lính thì biết đánh nhau là cái khốn nạn nhất trên đời, các địch thủ không có lựa chọn nhường nhịn sinh tử còn đa số kẻ xem thì có phần tiêu khiển khoai khoái bản năng

    Mấy hôm nay, đại lễ 1000 năm cũng có tý tự hào NB cố đô, từ đó các cụ kỵ dời đô để có HN Thăng Long 1000 năm. Và có lúc bên bàn nhậu bảo cho vui: tao mới là HN gốc..vì gốc từ NB nơi có cờ lau tập trận và cố đô , khà khà….

    Hai bác HM và ích Duệ gợi nhiều chuyện xưa, nay thành cổ tích khiến tôi không thể không ghi còm
    Tôi khi học cấp 3 không phải đi trọ, nhưng cũng cảnh sáng học, chiều ra đồng Trâu, nghé cá cua tép tôm, bừa, gặt đủ cả…Mà vẫn học đứng top 10 của trường Cấp 3 Gia Viễn A. Cũng chẳng là đinh gỉ gì, sau nhiều cỡ Lê bá Khánh trình, Hoàng lê minh… nhưng nếu học lẹt phẹt, chắc không dám góp cái mặt vào đất Hà Nội, nơi thời bao cấp không tự do sinh sống như sau này

    Tất nhiên ngay hồi đó thì trong cả tỉnh NB, trường Lương văn Tụy là trường chất lượng đầu tỉnh, cũng như Lê Hồng Phong bên Nam Định

    Một thời kinh khủng và lãng mạn ( vừa gian khổ, trong sáng vừa u ơ mịt mù ) và cũng là 1 thế hệ đặc biệt, hoặc bị nghiền nát trong u tối nghèo nàn lạc hậu hoặc đột phá dù lên bờ xuống ruộng lử lả… Mệt rùi, lên lão mới tàm tạm cái đời Cua đồng tự thân vận động

    • Hiệu Minh says:

      Trời ơi, bác Liên thường “ngoi” (bơi) qua sông Hoàng Long để sang Hoa Lư đi tán gái đây. Tôi về NB được người ta kể rằng, có anh ngày xưa toàn nude bơi sông, quần áo đội lên đầu. Sang đến Trường Yên mặc vào và đi với các em đến đêm khuya. Lúc về, chàng lại đạo diễn cảnh nude trên sông vào đêm trăng như lúc chàng đi. 🙂

  26. Ich Due says:

    Tôi là dân thôn Thành Mỹ, xã Ninh Mỹ. Tháng 9/1968 tôi nhập học Trường cấp III Lương Văn Tụy đóng tại thôn Thư Điền, Ninh Nhất. Xã tôi có các bạn sau đây cùng nhập học: Nhuấn, Quý, Nguyên, Tạo, Lợi, Lĩnh, Từ, Thiềng, Hòa, Cẩn, Oanh, Đạt, Nhân, Lư, Hằng, Quế, Tâm, San, Hiền, Dự …

    Năm lớp 8 tôi học lớp 8D do thày Đinh Văn Sơn- dạy Lý, người Hà Nội làm chủ nhiệm. Thày có giọng rất ấm và truyền cảm . Những năm đó trường tôi có phong trào ghi Sổ Tự tu. Tôi nhớ có lần thày Sơn phê vào Sổ Tự tu của tôi: “Em viết chân thật, rất hay. Cố gắng phát huy!”

    Để bảo đảm an toàn, mỗi lớp đóng ở một xóm. Lớp tôi đóng tại một xóm gần đê sông Chanh, Chúng tôi tự làm nhà hầm để học. Vào những hôm trời mưa, nhà hầm đầy nước. Nhưng thầy trò cũng chẳng thấy phiền lòng.

    Năm lớp 9, lớp tôi chuyển về thôn Ích Duệ và các lớp đã tập trung theo khối. Lớp 9H của tôi do thày Vũ Nhung, dạy Địa làm chủ nhiệm. Thầy Nhung hay khoe chúng tôi những lá thư do các trò cũ gửi về từ Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Thầy nói: Nước Triều Tiên có nhiều cái giống ta. Giống về dáng hình, giống về tình cảnh bị chia cắt hai miền, giống về một số phong tục, tập quán…

    Tôi cũng rất ấn tượng về thầy Nghị- người miền Nam dậy môn Lịch sử. Thầy đã bắt đầu bài Chiến tranh Pháp- Phổ và Công xã Pa ri như sau: Các em có biết không, hai thằng Pháp và Phổ từ lâu đã hục hặc với nhau. Thằng Phổ tuyên bố bóp chòi hột thằng Pháp, thằng Pháp tuyên bố bóp chòi hột thằng Phổ. Thế là chiến tranh xảy ra.

    Lên lớp 10 chúng tôi chuyển về khu Hiệu bộ và vẫn tự mình xây dựng trường lớp để học như hồi lớp 8, lớp 9. Lúc đầu tôi học lớp 10H vẫn do thày Vũ Nhung làm chủ nhiệm. Được khoảng 1 tháng lớp tôi bị chia nhỏ ra và chuyển về các lớp khác.

    Đến bây giờ tôi cũng không biết tại sao lớp tôi bị chia ra như thế. Tôi cùng một số bạn khác như Ngọc Oanh, Vũ Dũng, Tiến Dũng… chuyển về 10B do thày Nguyễn Tiến Lãng- dạy Toán làm chủ nhiệm. Giảng môn Toán thầy Lãng rất chăm chút, tỉ mỉ khi vẽ các hình, vẽ đi rồi vẽ lại đến lúc ưng ý mới thôi. Sau này thầy chuyển sang công tác Mặt trận của huyện- giữ chức chủ tịch Mặt trận huyện Hoa Lư đến khi mất.

    Các năm học cấp III tôi vẫn đi về hàng ngày (đi bộ), chứ không trọ học. Tôi rất thương mẹ tôi ngày nào cũng dậy rất sớm để nấu cơm cho tôi đi học không khi nào bị trễ. Các môn lịch sử, địa lý, sinh vật, các bài văn, bài thơ… tôi thường vừa đi vừa học trên đường đi. Buổi chiều tôi vẫn đi chăn trâu, bắt cua, đánh dậm.

    Quê tôi có khá nhiều trái núi thuộc vùng cửa ngõ của Hoa Lư: Núi Hú [7], núi Gai, núi Voi [8], núi Nà Mả, dãy Nương Sơn, núi Đền Hạ, núi Ngậu, núi Dộc, núi Non Soi, núi Ngang… Tôi cùng bạn bè hay rủ nhau trèo lên các đỉnh núi: đỉnh Mỏm Nàng [9] và đỉnh Giữa thuộc dãy Nương Sơn, đỉnh Nà Mả, đỉnh núi Đền Hạ. Khi trèo lên các đỉnh núi này, tôi có cảm giác choáng ngợp nhưng có được niềm tự hào, kiêu hãnh của người chinh phục điểm cao.

    Cũng cần nói thêm rằng, vì tôi là con trai một trong gia đình có 6 chị em nên thày mẹ tôi cấm tôi leo núi, sợ tôi bị ngã suýt chết như anh Nghiễm con bác Hợp. Nhưng tôi thật là “hư đốn” khi đã trốn thày mẹ tôi nhiều lần leo núi tìm bắt sáo và trèo lên các đỉnh núi. Cũng đã có một lần tôi đã trượt chân ngã. Nhưng may quá tôi rơi xuống một đám cây cuốc. Chính đám cây cuốc này đã cứu tôi thoát chết trong gang tấc vì dưới chút xíu là mặt lát, dưới nữa là một tảng đá tai mèo nhọn hoắc.

    Chỉ duy có một lần tôi cùng mấy đứa bạn rủ nhau chinh phục đỉnh núi Voi là không thành công. Số là tôi và các bạn đang hăm hở xông lên thì cháu Luận (con anh Liêng), cháu Lư (con anh Dự) chạy đến can ngăn và nói là sẽ chạy về mách ông chuyện chú trốn ông leo lên núi Voi. “Nể” các cháu gái (một đứa nhiều hơn tuổi tôi 2 tuổi, một đứa bằng tuổi), sợ thày tôi biết sẽ đánh chết, tôi đã bỏ dở chuyến leo núi đó. Vả lại, như người ta thường nói, một khi đã có người can ngăn mà vẫn cứ làm thì ắt sẽ xảy ra điều không may! Đến bây giờ tôi vẫn tiếc là chưa có dịp leo lên đỉnh núi Voi- đỉnh núi cao nhất ở quê tôi.

    Tháng 8 năm 1971 (ngày 19/8), tôi tình nguyện nhập ngũ. Tôi ở Đại đội 3, Tiểu đoàn 645 đóng quân ở gần Đồi Đô, Lạc Thủy, Hòa Bình. Công việc đầu tiên của đơn vị là nhanh chóng xây dựng lán trại. Trong một tuần làm doanh trại chúng tôi được ở trong bản của đồng bảo Mường.

    Lần đầu tiên tôi được ở nhà sàn cũng thấy là lạ, hay hay. Hôm trèo lên Đồi Đô cắt tranh về làm lán trại, nhìn ra xa tôi bỗng phát hiện ra núi Voi quê tôi. Tôi hét vang: Chúng mày ơi! Núi Voi quê mình kìa! Sướng quá, sướng quá lên tận Hòa Bình mà vẫn còn nhìn thấy ngọn núi của quê hương.. Hóa ra ngọn núi quê tôi cũng cao ra phết đấy chứ!

    • Hiệu Minh says:

      Trời ơi, Ích Duệ đã học cùng khóa với HM đấy. Nghe câu chuyện kể cũng biết là các chi tiết rất chính xác. Thầy Nghị dạy Sử, thầy Nhung dạy Địa ai mà quên được. Hội học sinh Lương Văn Tụy ở Hà Nội vẫn gặp thầy Sơn dạy Lý ở Hà Nội.

      Cảm ơn bạn đồng niên. Đọc cảm động lắm. Sẽ có mail riêng cho bạn để làm quen.

  27. thaydoi73 says:

    Đọc bài này của Hiệu minh tôi cứ thấy sống mũi cay cay và nhớ Cha, Tôi may mắn sinh ra trong một gia đình có chút nho nhe và ít chữ thánh hiền, nên việc ăn thì không phải đong từng bữa nhưng cũng đôi lúc phải ăn độn mì, và bo bo. Khi tôi vào tuổi ăn tuổi lớn Mẹ và Cha tôi lúc nào cũng chỉ 1-2 lưng sau đó là nhìn tôi ăn và đôi khi tôi còn hỏi sao cha và mẹ không ăn nữa cha và mẹ đều cười và bảo cu cậu cứ ăn đi cha mẹ no rồi, sau này tôi mới biết đó là cha mẹ nhường cho con từng miếng cơm manh áo.

    Vào thời của tôi những năm 80 thì việc mặc quần vá đi học là chuyện hết sức bình thường, ấy vậy những năm tháng đó thì bà con hàng phố lại hết sức thân thiết và chia sẻ cho nhau những tình cảm rất nồng ấm, thậm chí cha tôi còn tự tay cho thêm đất để hàng xóm có chỗ chăn nuôi, khu vườn tuyệt đẹp của ngôi nhà còn biến thành vườn rau, hàng hoa Tigon trước hiên nhà cũng nhường chỗ cho giàn mướp, vả lại lúc đó chỉ biết làm sao cho đời sống được cải thiện thôi, chứ chẳng ai nghĩ đến đẹp và hiện đại cả.

    Có một thời chúng ta đã sống như thế đó, cái đẹp nhường chỗ cho sự no đủ, cái xấu bị đẩy lui. Bây giờ đất nước còn nghèo nhưng các quan đều chi tiêu xa xỉ, chuộng hình thức, đề cao mê tín dị đoan, lễ hội lòe loẹt, rước xách ninh đình, sự giả dối nên ngôi. Đỉnh điểm cho sự lãng phí này đó chính là Đại lễ 1000 năm. Theo em Đại lễ là việc cần phải làm nhưng kéo dài và lãng phí như những gì chúng ta đang chứng kiến thì thật đau lòng.

  28. lyviet says:

    Thời bác HM là thời quá độ lên CNXH .Thời bọn em sau này là thời ((tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên CNXH )) Nên sướng hơn , nhã bo bo ,sắn ,khoai, suốt ngày , còn rợn tóc gáy đến tận bây giờ .

  29. Tran Quang says:

    Cảm ơn bác HM vì bài viết rất hay, gợi nhớ về 1 thời gian khó mà cũng nhiều kỷ niệm không thể nào quên được. E thì đi sau bác nhiều nhưng vẫn thấy được chút ít mình trong đó.

    @7xGens: bạn gthik khá chuẩn rồi, chỉ chỗ 1975 thì chưa chính xác lắm. Thực tế là những ai sinh 1975 học theo SGK cải cách từ lớp 1 đến lớp 8, sau đó thi chuyển cấp 3 lên lớp 10 nên chưa có học lớp 9 (cấp 3 có đủ 10-11-12). Những ai sinh năm 1976 thì mới thực sự có lớp 9!

    • xoithit says:

      Bác nói đoạn 1975 cũng chưa chính xác. Lứa 1975 (học đúng tuổi) ở miền Bắc học sách cải cách từ lớp 1 đến lớp 8. Năm 89, học xong lớp 8 thì vẫn có đợt thi cấp 3. Những người đỗ thì học tiếp lớp 10 (chương trình lớp 8 cũ). Những người trượt học tiếp chương trình cải cách (lớp 9, tính vào cấp 2). Đám học lớp 10 thì học tiếp 11 và 12 (9 và 10 cũ). Đám vào lớp 9 (vẫn 1975) thì sau đấy lại thi vào 10 và học 10, 11, 12 mới.

  30. jimmy_vu says:

    nhìn xã hội bây giờ mới thấy cái tình thời đói khổ quý như thế nào, các bác như bác hiệu minh là những người may mắn…

  31. riengtunguyen says:

    Hoàn toàn là thật sự:
    Cừu sinh ra và đi học tại một chỗ nghèo nhất nhì đất Việt. Loạn lạc, nghèo đói, khổ cực luôn vây bủa. Đói đến nổi có khi phải ăn rễ lang còn chưa sạch phân và đất, uống nước cùng chung với cứt trâu, vịt. Cừu lớn lên, đi học tự nhiên như cỏ dại. Tía má chỉ chú ý đến phần mần, chưa khi nào chú ý đến phần học. 17 tuổi tốt nghiệp cấp III chưa bâu giờ nghỉ đến yêu, mặc dù đọc cũng nhiều.

    Tốt nghiệp cấp III vẫn chân đất, áo vá nhiều khi lồi cả da thịt. Mấy thằng, con bạn của Cừu cũng thế thôi. Sau này gặp nhau chúng nó phét lác yêu con này con kia, nhưng toàn là láo cả. Cừu chỉ biết Tổ quốc là trên hết đó chính là nổi đau mà một phần Cừu bị lừa. Một trời thông tin đi theo một dòng chảy. Đất nước loạn ly thôi đành vậy biết sao?

    Khi Cừu trở thành sinh viên ở đất Bắc. Những chuyện bây giờ mới biên: khóc và cười đều ra nước mắt. Vào thời bấy giờ muối hiếm cực. Cừu được mấy thằng bạn xúi dục đi ăn cướp muối nhà ăn, vì thấy Cừu dại. Cừu núp thấy cô nấu bếp (nhiều cô lém), trắng, mập ú bưng rá muối (muối mỏ vừa chát vừa khó ăn), Cừu nhảy ra chộp một nắm cắm đầu cắm cổ chạy. Cô mập bị bất ngờ suýt buông rơi rá muối, Cừu còn nghe chửi: “Tổ tiên sư nhà mày” Chua chồng mà phàm ghê. Sau vụ đó Cừu suýt bị kỷ luật.

    Nhà trường thấy Cừu thật thà khai báo, cho qua. Sau này đói quá Cừu có đi ăn trộm một vài lần nữa chứ không phải đi ăn cướp muối như đã kể. Trộm củ mì, cà chua, khoai tây để về nấu ăn chống đói. Cừu đi ăn trộm một mình về nấu cho bỏn ăn chung, thế mới biết cừu ngu nhưng cũng chỉ vì đói. Thôi mai mốt viết tiếp cuộc đời sinh viên trên đất Bắc.

  32. Phạm Thanh

    Bài viết về trọ học của anh HM làm gợi nhớ tới năm trọ học lớp 10 của tôi (1969). Những năm ấy sao quê tôi nghèo thế (Thái Bình). Gia đình tôi cũng thật nghèo. Mỗi ngày chỉ được 1 bữa cơm, còn thì cháo cám, khoai khô nấu, rau lang luộc thay cơm. May mà tôi học được nên gia đình cố gồng mình để cho học, chứ bạn bè trong làng bỏ hết.

    Đến năm lớp 10, cả làng chỉ còn lại mình tôi. Gia đình tôi trọ cũng nghèo nhưng có vẻ còn khá hơn nhà tôi một tý. Nghĩa là không đói.

    Tôi nhớ, mỗi tuần về nhà chỉ mang lên mấy bơ gạo và muối vừng đã rang sẵn và chai nước mắm. Nghĩa là ăn cơm với muối vừng, nước mắm suốt tuần, suốt tháng… Thỉnh thoảng anh chủ đi đánh te (dụng cụ để bắt tép và cá con), chị chủ kho tép và cho một ít, sao nó ngon thế. Vì thực ra lúc đó cơm còn chẳng đủ no thì nói gì đến thức ăn.

    Rồi vào đại học cũng còn rất nghèo. Đến khi ra trường đi làm, tôi về thăm gia đình tôi trọ học thì gia đình đã chuyển vào Nam. Khi đi nước ngoài về, tôi không vào thăm được nhưng có gửi một ít tiền để cảm ơn. Chắc thế nào tôi cũng vào thăm gia đình một lần. Tôi là người hay hoài cổ. Ai giúp mình trong lúc khó khăn dù nhỏ, tôi không bao giờ quên.

    Cám ơn anh HM đã có entry này để nhớ lại một thời đói nghèo. Tôi sẽ cho các con tôi đọc và nói với chúng rằng: đấy bác HM đã viết về cuộc sống của bố ngày nhỏ đấy. Để chúng suy ngẫm.

  33. Truong Yen says:

    Ngày ấy Truong Yen thuộc nhóm đi học trọ phải mang cả củi cùng “ruột tượng” gạo,… Cũng lạ hồi ấy, người dân Ninh Nhất cho bao nhiêu lũ học trò trọ học mà không lấy tiền trọ!
    Hè vừa qua đi xe máy qua, Gác Chuông vẫn như xưa, tiếc rằng không chụp được ảnh cho HM xem.

  34. dinhnam says:

    Thời đi học có những kỷ niệm khó quên dù ở đâu,vì đó là thời hoa niên nhất, dù khổ hay sướng thì vẫn là những hình ảnh đẹp nhất đời người. Các bạn kể cảnh khổ khi đi học thì tôi kể cảnh sướng của học sinh miền Nam thời đầu thập niên 60.

    Khi đó trường học công lập rất nhiều,các trường tiểu học được thành lập khắp nơi, học sinh đi học chỉ cần mang theo bút chấm mực,mà không mang theo mực,vì trong lớp đã có những bình mực gắn sẵn trên bàn,lúc nào cũng đầy ắp,giữa giờ nghỉ ra chơi,các học sinh bắt buộc phải đi uống sữa.

    Sữa viện trợ của Mỹ cung cấp cho toàn thể học sinh lớp tiểu học ở SG.Có những học sinh uống tha hồ, uống càng nhiều càng được khen,không uống bị phạt,mà khổ nỗi cái bao tử người Á đông thiếu vi khuẩn lên men,hễ uống vào là như TàoTháo bị rượt,nên đa số học sinh vào phòng uống sữa đều lấy tay chấm vào sữa và quẹt lên môi rồi đi ra cho giám thị tưởng là đã uống sữa rồi.

    Ai đã từng đi học vào thời đó đều nghĩ lại thấy mình sướng mà không biết hưởng hay tại cơ thể mình hưởng không được ? Vậy là sướng hay khổ đây ?

    • Hiệu Minh says:

      Uống sữa bị Tào Tháo đuổi khổ hơn cánh ăn ổi xanh vặt trộm trong làng 🙂

  35. hoahau says:

    Hồi tôi còn là SV được làm lớp phó đời sống, sau khi ăn bữa sáng và bàn bạc cả lớp tôi quyết định cắt cơm bữa trưa và chiều hôm đó để về nhà thằng bạn chơi và ăn cơm luôn (tất nhiên tiền thừa do không ăn sẽ nhận vào cuối tháng và làm quỹ lớp). Nhiệm vụ của tôi phải xuống phòng đời sống để gặp cô phụ trách mà cắt cơm.
    Nhưng cô T… cười và nói: Bữa chiều thì được trưa nay thì không.
    Tôi cười nịnh và năng nỉ: sao vậy cô, cả lớp em học xong buổi sáng rồi kéo nhau đi chơi rồi!
    Cô phụ trách đời sống vẫn mỉn cười và chỉ cho cắt cơm chiều.
    Tôi đến lớp thông báo lại tình hình như thế thì cả lớp đều trách tôi là: do mày đù đù nên không xoay chuyển tình thế được đó và nhiệm vụ của mày đã thất bại?
    Rồi hết 5 tiết học buổi sáng cả lớp tôi về ký túc xá cất sách vở sau đó kéo đến nhà ăn tập thể.
    “Trời ơi”- cả lớp tôi hét lên. “Hôm nay được ăn tươi bọn bây ơi”. “Thế mà cứ chưởi thằng H.. cả buổi sáng”. “Lớp mình suýt mất bữa ăn ngon rồi”.
    Tôi đã tốt nghiệp 20 năm rồi vẫn còn nhớ cô T… mãi./.
    (Xin kể chuyện bữa ăn tươi tại trường ĐH của tôi
    Cứ một học kỳ thì phòng đời sống sẽ có một bữa ăn tươi tại nhà ăn tập thể cho SV, nguồn tiền này có nhờ do chăn nuôi heo từ bếp ăn của trường ĐH)

    • Hiệu Minh says:

      Cô T trong trường quả là một bà mẹ tuyệt vời của những đứa con háu đói…

  36. Tom says:

    Đọc cảm động quá bác HM ơi, cám ơn bác.
    Em không dám so sánh các giai đoạn, mỗi giai đoạn mỗi khác nhưng tình người cao cả đó là cốt lõi cho mỗi con người chúng ta thương yêu nhau hơn, thông cảm nhau hơn trong mỗi tình huống hàng ngày. Tiếc thay nó không dễ bắt gặp nơi đô thị ồn ào này – HN 1000 năm văn hiến. :d
    Một lần nữa cám ơn bác HM có bài viết rất xúc động.

    • Hiệu Minh says:

      Cảm ơn Tom nhiều. Thấy bạn đọc thích đọc ôn cố tri tân cũng là điều mừng.

  37. Tôi cũng học ở trường LVT nhưng sau anh HM mấy khóa.
    Lớp học của tôi ở sau vườn , nhà bác chủ nuôi con lợn suốt ngày thấy nhai rau lang .Nó hếch mắt ti hí nhìn chúng tôi ra vẻ đang bận ,không tiếp, rồi sục mõm vào đám rau lang xanh lè,cố tìm lấy cái dãi khoai tim tím. Tôi thương con lợn chỉ mong sáng hôm sau mình đến lớp ,đi qua thấy nó biến thành ..con dê .Vì con dê cũng ăn rau nhưng nó còn được đi ra ngoài ,lên núi , được tư do.
    Trong lớp, có bạn người gốc Phi da ngăm ngăm,bạn học giỏi làm lớp trưởng các bạn gọi tên thân mật là bác Tôm. Bác Tôm thu sổ tu dưỡng rồi trả lại mỗi lần trả cười hề hề vì chúng tôi viết sổ toàn những điều bốc phét , ngớ ngẩn ,trêu trọc để cười.
    ”Súng đại bác ta vác một tay ,còn một tay ta đấm chết cha thằng Tây”
    ”Quảng Bình quê choa, nhiều cô lười tắm sinh ra ghẻ ruồi”
    ”Cây tre non không bao giờ héo ngọn // thời buổi này kén chọn làm chi // T ơi cứ lấy M đi // bao giờ T đẻ M về với con ”
    Nhạc chế , thơ vườn trồng được của chúng tôi ngày ấy nhố nhăng nhưng hát lên,ai cũng nhe răng cười . Bạn đói ,thương bạn lắm . Biết mà chẳng dám hỏi ,chẳng dám cho.Vì cho chắc gì đã nhận.

    • Hiệu Minh says:

      Chuối Ngự chắc còn được xem mấy bài văn chuẩn và chữ viết đẹp được trình bày trong phòng triển lãm của trường LVT. Biết đâu có cả bài của “nguyên hs” HM đó 🙂

      Thời học trò nhớ lại hay biết bao.

  38. cu bin says:

    Cháu xin chia sẻ với chú HM, nhưng cháu có một thắc mắc là thời đó có lớp 9 không nhỉ. Nếu cháu nhớ không nhầm thì đầu những năm 90 ở cấp 2 mới có lớp 9, trước đó chỉ đến lớp 8 thôi mà.

    • hoahau says:

      Hệ 10 năm thì cuối cấp 2 là lớp 7 & cấp 3 là lớp 10 thì phải?!

    • Bạn IT says:

      Thời bác HM cổ hủ lắm. Cấp 1: lớp 1 đến lớp 4. Cấp 2: lớp 5 đến lớp 7. Cấp 3: lớp 8, lớp 9, và lớp 10. Giải phóng MN mới có đến lớp 12 như bây giờ.

      Trước khi đi học cấp một có lớp vỡ lòng mà các cụ trong làng gọi là lớp “vỡ bùng cứt” vì ví như đám chim sắp vỡ bùng c. trước khi mọc đủ lông cánh.

      He he. Ko biết có đúng không.

    • 7xGens says:

      Ở miền Bắc, bắt đầu khỏang năm 1981 (nhớ không rõ lắm) thì áp dụng cải cách GD. Chuyển từ hệ 10 năm -> 12 năm (hình như thống nhất nội dung đào tào 2 miền Nam-Bắc từ đây). Với hệ 10 năm trước đó, thực chất phải học 11 năm: từ Vỡ lòng (hay gọi là ‘vỡ bọng cứt’) -> lớp 4 (cấp 1), lớp 5 ->7 (cấp 2), lớp 8 -> 10 (cấp 3).

      Như vậy, với lứa sinh từ năm 1975 (1981 sẽ vào lớp vỡ lòng) trở lên mới học 12 năm, còn lứa sinh từ năm 1964 -> 1974 (tất nhiên không kể thành phần ‘cốt cán’ ~ cán bộ khung: 1 lớp học nhiều năm – lưu ban/đúp). Tính từ 1981 thì lứa 1964 học lớp 10 nhưng sẽ gọi là lớp 12 theo hệ 12 năm, còn lứa 1974 lên lớp 1 nhưng gọi là lớp 2. Vậy là lứa từ 1964 –> 1974 sẽ có 1 năm ‘nhẩy cóc’ về cách gọi, cấp 1&2 là x+1 cấp 3 là x+2 (lớp 10 -> gọi là 12), sẽ có các lứa từ 1967-> 1974 học không có lớp 9 vì cấp 1&2 từ 1->8, cấp 3 từ 10 ->12.

      Chỉ đến khi lứa đầu tiên học theo giáo trình cải cách là 1975 học đến lớp 9 khi đó mới có lớp 9 (từ đây cấp 2 có 4 lớp: 6->9) – tức năm 1989 = 1981 + 8 mới có lớp 9. Ở giáo trình cải cách thì cấp 2 bắt đầu học tóan số học hiện đại (theo cách gọi của mấy bác chắc VK Pháp và NCB đề cập ở entry trước) – tức dần làm quen khái niệm tập hợp,…toán với các đại lượng số, dạng tóan khó, phát triển thông minh và có nhiều bài tóan liên quan đến đời sống.

      Diễn giải hơi dài nhưng hy vọng cubin hiểu được cái ‘zic-zắc’ của nền GD nước nhà.

      Nói về GD VN quả đúng là nhiều ‘ghềnh’, tôi còn nhớ có giai đọan GV không đủ sống (lương lĩnh = khoai tây, lốp xe thậm chí là phân…u-rê), giai đọan đầu đổi mới – khoảng 1990-1992. Có những câu chuyện cảm động thời đó giáo viên bỏ nghề đi bán bánh mỳ kiếm sống qua ngày, phải đội nón để tránh ngộ nhỡ gặp học trò. Nhưng vẫn có trường hợp trò nhận ra Cô nhưng vờ không biết và mua cả thúng bánh mì, Cô thấy lạ và bằng linh tính khi đó Cô – Trò nhận nhau, 2 dòng nước mắt thay cho lời nói.

      Lạ thay, sau vài năm ì ạch thì kinh tế bắt đầu vào giai đọan tháo gông và phi. Nông dân cũng muốn con cái được học hành đầy đủ (cái này gọi là truyền thống hiếu học của người Việt, tất cả vì con cái) –> nghề Giáo lại lên ngôi, đặc biệt là ngành sư phạm Tóan, Lý, Hóa, Văn & Ngoại ngữ. Điểm thi ĐH sư phạm cao ngật ngưỡng, giáo viên lứa này chất lượng rất tốt.

      Đến nay thì lại ‘hỗn mang’ phản ánh 1 phần hiện trạng XH, khi GD dần xóa bao cấp và tiến tới XH hóa. Giáo viên dạy tiểu học được bao cấp đầu ra –> điểm thi lại ngật ngưỡng (trước đây thi 10 + 2 hay CĐ sư phạm là rất dễ, chỉ cần học lực TB), còn ĐH sư phạm xác định học khi xin việc phải kẹp díp cỡ 100Mil (thủ tục ‘đầu tiên’ là bắt buộc với hầu hết ngành nghề có ‘thi tuyển’) –> dần mất đi tính hấp dẫn vì bố/mẹ phải lo thêm đầu ra.

      Nhớ hôm CP mừng GS NBC, bác Châu đọc cảm tưởng có đọan ôn chút kỉ niệm thời HS (tuy khó khăn nhưng ấm cúng lòng người). Đúng là chỉ lứa 6x – 7x mới thấm thía cái ‘thiếu chất’ của thời ‘thời kỳ quá độ’. Ngòai Bắc còn phải chịu thêm cái rét cắt thịt từ cực bắc, đi học đôi khi buồn đá..i mà không cởi nổi cúc quần.

      Chuyện cơm = gạo + khoai (hoặc ngô, rau má phơi khô,…) ít người mà không được thưởng thức. Khi học chuyên nghiệp, bác nào được chén cơm ‘mậu dịch’ vào lúc tuổi ăn, tuổi lớn có thể ngày đánh khiêm tốn 6 bữa. Rau ăn thì cứ băm 2 phân như rau lợn, nhưng chủ yếu cũng chỉ nấu lấy nước chan. Nhưng được cái là cứ có là ăn mà khỏi phải lăn tăn: dư lượng tăng trọng, thuốc sâu, hóa chất tẩy như bây giờ. Ngày nay có tiền nhưng những món ‘xưa’ lại thành đặc sản nhưng khó mua thế mới lạ.

      • hoahau says:

        Đề thi ĐH ngoài phần chung 8 điểm còn có phần tự chọn 2 điểm: Hệ 10 năm chứng minh bất đẳng thức & giải bất phương trình còn 12 năm là hình học giải tích & tích phân.

  39. KS says:

    Mình xin được góp chuyện ở trọ nhưng không phải dưới lăng kính của người khách trọ mà là vai chủ nhà. Đó là những ngày đầu sau khi miền Nam được giải phóng. Lúc ấy “chủ nhà” được 8 tuổi.

    Sau khi giải phóng, các chú bộ đội về đóng quân rải rác với nhiều gia đình trong vùng. Nhà mình rộng rãi nên có 9 chú bộ đội đến ở. Ông nội mình có 4 người con đã hy sinh trong chiến tranh. Trong niềm vui chiến thắng hoà lẫn với những mất mát riêng, ông nội và má mình thương và quý các chú bộ đội lắm. Các chú toàn người miền Bắc. Lúc bấy giờ, sự khác biệt văn hoá và bất đồng ngôn ngữ rất rõ rệt. Những ngày ấy đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp, vui, rất sâu lắng.

    Đầu tiên là cách xưng hô. Trong miền Nam, để thể hiện sự tôn kính trẻ con không gọi người lớn bằng tên mà bằng thứ theo kiểu chú hai, dì ba, mợ bảy, thím chín … Má mình nhắc mình hỏi các chú thứ mấy để xưng hô cho phải phép. Thế là mình có “chú cả” … và phải rất khó khăn mình mới hiểu chú cả ở ngoài Bắc bằng chú hai trong Nam. Thật hóm hỉnh mình có chú “mười sáu” vì chú Thôn muốn chọc mình. Chú Đương còn hài hước hơn, chú giới thiệu mình là con út của bà Âu Cơ nên thứ 100. Thế là mình có chú “một trăm”.

    Mỗi lần các chú dặn hay nói điều gì, mình “dạ” thì chú nhắc lại, lập lại. Giá mà mình biết “vâng” thì các chú không phải nhọc công như vậy. Khi nấu cơm, má mình biểu chú đưa cái dĩa (đĩa) thì chú kiếm loanh quanh trong khi chồng dĩa ngay trước mặt. Đến khi dọn cơm, má mình bảo chú lấy thêm cái chén, thì chú chạy đi lấy cái cốc uống trà…

    Buổi tối, mấy người bạn già của ông nội mình đến chơi. Chú bảo “Để cháu lấy lương khô mời”. Mấy ông già khoái chí, đi lấy chai rượu để chờ nhâm nhi với lươn phơi khô. Hihi… nhưng sao ăn bánh ngọt hoài mà không thấy mồi nhậu đâu cả!

    Lúc đó nghèo lắm, khó khăn nữa, nhưng rất vui. Các chú dạy mình học tìm diện tích hình thang bằng thơ, dạy đọc theo giọng bắc. Buổi tối trẻ con trong xóm tụ tập lại để học hát, học múa và nghe kể chuyện.

    Ông nội mình đã mất. Chú Bình vào công tác và định cư tại Đồng Nai, tết nào vợ chồng chú cũng về thăm nhà mình và trò chuyện với hàng xóm. Vừa rồi nhân chuyến công tác ở Hải Phòng, mình tìm đến thăm chú Nguyễn Hồng Hải ở Thái Bình. Chú Hải vẫn còn giữ mấy tấm mình trắng đen khổ nhỏ đã phai màu theo thời gian chụp với gia đình mình. Các chú khác mình không còn giữ được liên lạc.

    Viết tới đây mình chợt nghĩ sẽ gọi điện cho chú Bình và chú Hải để mời các chú thăm blog anh Hiệu Minh. Mà không biết các chú ấy có biết internet và blog không nhỉ? Gặp các chú toàn nói chuyện ngày xưa mà chưa bao giờ mình hỏi kỹ năng công nghệ thông tin của các chú. Tệ thật!

    • Hiệu Minh says:

      Chuyện của bác KS thật tuyệt. Nhất là mục lương khô, các cụ tưởng LƯƠN khô. Dân đi bộ đội đọc câu chuyện này chắc thú vị lắm.

      Giữ được kỷ niệm tốt đẹp trong lòng người dân như các chú bộ đội trên quả thật hiếm.

      • LTV70 says:

        Chuyện của KS đúng đấy. Sau 30-4-75 LTV70 là bộ đội, cũng vào ở một gia đình ở quận Gò vấp, SG. Đó là nhà ông Long,khu gia binh của Lục quân công xưởng.Ông Long là lính kỹ thuật trong Lục quân công xưởng. Nhà có đến 13 người con, ở 1 tuần mà vẫn chưa nhớ hết tên bọn trẻ, chỉ biết tên mấy cô cậu lớn. Ba bốn cậu lính ở một nhà, đang ở trên rừng xuống thành phố, cái gì cũng lạ – đa số chưa ra thành phố bao giờ mà. Thế mà hòa hợp rất nhanh, chỉ vài ngày là như người quen nhau đã lâu! Đến bây giờ mình vẫn không hiểu vì sao lúc ấy con người quý nhau đến thế! Không biết bây giờ gia đình ông Long còn ở đó không?

  40. Pham Tan Ha says:

    Cám ơn anh,

    Bài viết gợi cho tôi nhớ lại quê mình những năm tháng khó khăn. Vâng từ cái khó khăn đó mà chúng ta trưởng thành như ngày nay. Ninh Bình đang đổi mới, nhưng dân vẫn còn nghèo lắm.

    Phạm Tấn Hà

    • Hiệu Minh says:

      Lại bạn đồng hương khen đồng hương :). Cảm ơn anh Pham Tân Hà

  41. Phong Nguyen says:

    Bài viết nào về những kỹ niệm thời niên thiếu, mà thường là những thời gian kho’ khăn, bao giờ cũng thật hay, thật xúc động…mang lại cho tôi nỗi niềm, lâng lâng khó tả. Cám ơn anh.

    Nhân tiện, thế anh HM cũng cùng trang lứa với tôi đó, tôi ở miền Nam những ngày tháng đó.

    PN

    • Hiệu Minh says:

      Hay quá, anh PN à. Chúng ta cùng thời nên chứng kiến biết bao sự thay đổi kỳ lạ. Thế hệ ấy sống qua hai thế kỷ đó.

%d bloggers like this: