Câu chuyện người “ra đi”

Vượt biển. Ảnh: Wiki.

Hàng triệu người Việt ra đi, mỗi số phận có một cảnh ngộ, một trải nghiệm, thậm chí một câu chuyện bi thương. Nhưng tình yêu nơi chôn rau cắt rốn  không bao giờ tàn phai trong góc sâu thẳm của tâm hồn mỗi con người… Chỉ có người ra đi và người ở lại tự nắm tay nhau mới thành sức mạnh của một dân tộc… Và khi đó 30-4, ngày kỷ niệm chiến tranh kết thúc mới được gọi là toàn vẹn.

Tôi nhớ lần ấy, có cuộc biểu diễn văn hóa đa dân tộc của các nhân viên đại diện cho từng quốc gia tại nơi công tác, một tổ chức quốc tế tại Washington DC. Mỗi nước có một tiết mục của dân tộc mình. Người Hàn Quốc biểu diễn đánh trống. Dân Latin nhảy vũ điệu sampa sôi động. Điệu múa Mohiniatoom của các cô gái Ấn Độ thể hiện sắc đẹp Kerala của miền Nam nước Ấn. Các chàng trai và cô gái Bulgaria nhảy điệu Horo tưng bừng. Cô bé Cam phu chia cầm ghi ta hát bài ca đồng quê với những hàng cây thốt nốt trên đồng lúa xanh làm người xem rơi nước mắt.

Kết thúc cuộc biểu diễn là bài hát “Tôi yêu Trung Hoa”, kể về một cô gái trở về từ nước ngoài và khó khăn để hội nhập, cuối cùng cô đã yêu nước Trung Hoa hơn bao giờ hết. Bài hát kết thúc trong tiếng vỗ tay vang dội của người xem.

Đợi mãi không thấy đoàn Việt Nam của chúng ta đâu, dù có khoảng vài chục người Việt cả bắc – trung – nam ngồi đó, im lặng nhìn nhau. Nếu họ muốn thì hẳn cũng đóng góp được, ít nhất là bài “Trống cơm” hay không kém bài hát của các dân tộc khác. Nhưng hình như họ đang phải “dè chừng” người đồng bào của chính mình.

Lòng tôi chợt xót xa. Giọt cafe Starbuck chợt đắng ngắt trong miệng. Cuộc chiến tranh đã gây bao mất mát và chia rẽ, cho dù đã hơn 30 năm qua. Có lẽ vì thế tiếng hát người Việt nghẹn lại, không cất lên nổi cho dù ở giữa nước người.

Người Trung Hoa, Camphuchia, hay Hàn Quốc đến nước Mỹ hẳn cũng có những lý do và nỗi niềm riêng. Chỉ có điều khi đến đây, họ lại làm người của chính đất nước họ đã sinh ra chứ không phải cố làm người của một nước khác. Nhưng nhiều người Việt ta trên xứ người đang lúng túng vì không biết đi đâu về đâu.

Một lần ở khách sạn bên Washington DC, chợt nghe tiếng Quảng Bình nằng nặng phía ngoài hành lang. Tôi gặp một chị chắc cũng khoảng ngoài năm mươi. Chị làm tạp vụ và chồng là thợ điện. Hỏi làm sao đến nước Mỹ thì được biết do hai vợ chồng đánh cá ngoài khơi vì thấy “thuyền bạn đi mình cũng bắt chước”.

Sang đến đây, không một chữ tiếng Anh, không nghề nghiệp. Cũng may, sau 25 năm, anh chị đã có nhà cửa, hai con trai vào đại học đàng hoàng. Chị nói, sang đây mừng nhất là không bao giờ bị đói. Không như ở Quảng Bình, lúc nào cũng sợ không có đủ gạo cho con ăn. Bây giờ chỉ mong đủ tiền để mua vé và mua quà về quê. Anh chị thuộc loại gia đình nghèo bên Mỹ, vì thế con cái đi học được trợ cấp của chính phủ, vay tiền cho con học, mua nhà, xe hơi có giá ưu đãi.

Ra đi lúc đã lớn tuổi nên sự gắn bó với quê hương càng sâu nặng. Ước mong trở về “cố hương” đã kéo dài hàng chục năm nay nhưng chưa bao giờ anh chị thực hiện được. Và  cũng còn có nỗi niềm, không hiểu bây giờ trở về có “việc gì” không? Anh chị sợ nhất lũ con không còn khái niệm quê Việt, không còn ràng rợ với miền nắng gió và cát trắng Quảng Bình.

Một người bạn khác ra đi đúng vào ngày sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích vì những lý do riêng. Anh chị cưới nhau trong một đêm Sài Gòn bị mất điện. Có lẽ anh chị là người cuối cùng lên máy bay ra đi trước khi sân bay bị đóng cửa hoàn toàn. Đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng. Có trình độ, tay nghề cao nên bây giờ anh là một chuyên gia nổi tiếng về công nghệ thông tin, phụ trách hàng trăm người tại xứ sở Hoa Kỳ.

Mỗi lần đi công tác vùng Châu Á, thế nào anh cũng tìm cách rẽ qua Sài Gòn, về lại góc phố, chỉ để ngắm ngôi nhà cũ của anh hay chụp tấm ảnh lưu niệm thời thơ ấu. Nhưng anh buồn bã kể với tôi, mỗi lần như vậy anh lại bắt gặp ánh mắt xua đuổi, khó chịu hoặc nghi ngại của những người chủ mới.

Một người bạn khác, tôi rất hay gặp anh trên chuyến tầu điện ngầm, cả lúc đi lẫn lúc về. Hình như chúng tôi có thời gian biểu làm việc giống nhau, cùng building với hàng chục ngàn nhân viên. Tôi biết chắc anh là người gốc Việt, từ mầu tóc, mầu da đến cách ăn mặc. Dáng đi cúi đầu, nghĩ ngợi, cho thấy anh là người đã trải qua nhiều thăng trầm của cuộc đời.

Có lần anh và tôi ngồi cạnh nhau trong tầu điện. Nhìn anh cầm cuốn sách “Hà nội, 36 phố phường” bằng tiếng Việt của Thạch Lam, tôi liền làm quen: “Xin lỗi, anh là người Việt Nam?”. Nhưng anh thản nhiên “văng” luôn  một tràng tiếng Anh:”Sorry, I don’t understand – Xin lỗi tôi không hiểu”.

Sống ở một phương trời xa lạ, gặp người đồng hương lẽ ra phải thú vị biết bao. Nhưng không hiểu rào cản nào đã làm anh không muốn tiếp xúc với tôi.

Lâu sau, một lần gặp anh trong thang máy, tôi chủ động: “Hello” thì bất ngờ, anh lại cười rất tươi và nói luôn tiếng Việt : “Chào anh” rất thân mật. Anh bảo cái giọng bắc của tôi đã làm anh phải dè chừng. Cuộc sống ở đây nó thế. Ai biết người nấy. Rất sợ làm quen ngoài đường. Nhất là người Việt với nhau. Anh có thể bên này, tôi ở phía bên kia, ai mà biết được. Anh hỏi tôi rồi làm hại tôi thì sao? Hàng tá những câu anh tự hỏi và tự trả lời như thế, rồi tự cười mình khi kể lại với tôi về nỗi sợ “mơ hồ” luôn ám ảnh

Anh đến nước Mỹ như một “thuyền nhân”. Sau bao ngày lênh đênh trên biển, đói khát, được người ta cứu và ở trại tỵ nạn Indonesia một năm như trong tù. Mới 12 tuổi anh đã phải chứng kiến người ta vứt xác mẹ xuống biển và sau đó vài ngày là xác cha. Cha anh trăng trối, khi nào có tiền nhớ về thăm quê. Có lẽ người ra đi, lúc gần đất xa trời mới thấy quê nhà quan trọng và dấu yêu như thế nào. Anh không khóc nổi nữa mà chỉ mong sống để vào được đất liền.

Đến bây giờ, anh vẫn không hiểu tại sao anh có thể sống được. Anh đã khá thành đạt và nỗi đau đó cũng đã nguôi ngoai. Bản thân anh chưa từng muốn xin làm công dân Mỹ. Anh muốn trở về quê để đắp hai ngôi mộ giả cho song thân và giữ lấy mảnh đất quê hương chôn rau cắt rốn. Nhưng mỗi lần đọc báo thấy ai đó gọi  những người như anh là “dân vượt biên” thì anh cảm thấy mình chỉ còn nước Mỹ là nơi trú ngụ cuối cùng. Ước muốn về quê cũng mất dần với năm tháng.

Anh lo lũ trẻ của anh đang lớn lên thành Mỹ con. Chúng nó sinh ra ở Mỹ, đi học và trưởng thành ở đây. Có thể, chúng không có khái niệm gì về một miền đất ở tận xứ Đông dương xa lạ. Với chúng chỉ có bánh mỳ kẹp thịt McDonald với coca hay phim Hollywood.

Thế hệ anh vẫn còn nhiều gắn bó, nặng lòng với nước Việt, nhưng thế hệ con cháu sẽ có thể không biết nước Việt Nam ở đâu. Anh như đang đứng giữa hai thế giới, một thế giới anh đang sống với thực tại và một thế giới là những hoài niệm. Đôi lúc, lòng anh day dứt không biết mình đi về đâu. Anh bảo anh xa lạ nơi đang sống và cũng làm người khách qua đường của chính nơi mình đã sinh ra.

Hàng triệu người Việt ra đi, mỗi số phận có một cảnh ngộ, một trải nghiệm, thậm chí một câu chuyên bi thương. Nhưng tình yêu nơi chôn rau cắt rốn  không bao giờ tàn phai trong góc sâu thẳm của tâm hồn mỗi con người. Dân tộc Việt ta vốn có lòng vị tha, vị tha với người ruột thịt, với bạn và khi cần, vị tha với cả kẻ thù.

Nhưng để biến tình yêu quê hương hay lòng vị tha ấy thành một sức mạnh của một dân tộc thì cần có một nước Việt thực sự hòa hợp, “rũ bỏ quá khứ, cùng nhìn về tương lai”. Không dân tộc nào, người Mỹ hay người Nga có thể giúp chúng ta đoàn kết với nhau. Chỉ có người ra đi và người ở lại tự nắm tay nhau mới làm được điều đó.

Tôi chợt nhớ tiếng hát da diết của cô gái Trung hoa bỏ tổ quốc của cô ra đi, quay về với khó khăn trong cuộc sống và cuối cùng cô tìm thấy tình yêu chính nơi cô đã sinh ra. Tiếng hát ấy, lời hát ấy mới chính là nơi trú ngụ cuối cùng trong tâm hồn mỗi con người. Nơi đó chính là tổ quốc, cho dù con người ta sống và làm việc ở một phương trời nào.

Từ sâu thẳm trong lòng, tôi ước mong ngày nào đó được nghe bài hát “Việt Nam quê hương tôi” với những ca từ mượt mà: “ Việt Nam yêu dấu xanh xanh lũy tre…” vang lên đâu đó giữa Paris, California hay Luân Đôn do chính những người Việt xa xứ cất lên, cho dù họ đi xa, họ ở xứ người vì bất kỳ lý do gì.  Bốn, hay năm triệu tâm hồn Việt ở nước ngoài cùng với 80 triệu người trong nước có thể giúp bài hát đó được bay cao, bay xa như cánh chim không biết mỏi.

Và khi đó 30-4, ngày kỷ niệm chiến tranh kết thúc mới được gọi là toàn vẹn.

Hiệu Minh

Washington DC. 4-2008

Thư Hà nội. Nhân chuyến về thăm quê đúng vào dịp 30-4

Advertisements

4 Responses to Câu chuyện người “ra đi”

  1. […] Câu chuyện người “ra đi” […]

  2. pthao says:

    Thuân An đọc bài Đàn sếu, Điện Biên và Bauxite Tây Nguyên chưa? Mình cũng như TA, cứ đọc lại những bài này của anh HM.

    Anh HM à, ước mong của bác cũng như của em về một ngày hòa hợp dân tộc, một ngày kỷ niệm 30/4 không còn cay đắng và thù hận sao mà khó lắm. Ba em thôi không còn hậm hực CS nữa nhưng chàng cũng không mở lòng, và cũng không tin và không trông chờ hy vọng bất cứ thứ thì từ VN. Nhưng may là chàng bố của em vẫn sáng suốt để hùa theo kiểu chống CS quái chiêu ở đây. Cuối cùng thì thái độ của chàng là mũ ni che tai, kính nhi viễn chi.

    Sống ở đây em thấy mình như thể đang đu dây. Chán quá về lại VN sống hơn chục năm, lại cũng không tìm được mình. Giờ lại như bác, gần nửa đời người vẫn lại lênh đênh tìm nơi đỗ bến. Tâm trạng ba em chắc cũng không khá hơn.

    Ước mong của mình chắc phải đợi đến khi thế hệ cuối cùng sống qua ngày 30/4/1975 là thế hệ của bọn chúng em ngủm hết, thế hệ trẻ VN sau này mới thôi không ghét nhau nữa.

    “Đã đến lúc nối tấm lòng chung, Việt Nam ơi … “

  3. Hiệu Minh says:

    Mấy bài này được viết từ trái tim. Cảm ơn TA nhiều.

  4. Thuân An says:

    ngày nghỉ lễ 1.5 hôm nay ,em không đi đâu ,giành hẳn một ngày để đọc : Bức tường chiến tranh , Franfurt on the main , Ka tynm và Kaczynsk , Câu chuyện người ra đi , Twin towers và thành Hoa Lư . Cảm ơn HM ”càng đi xa càng thấy mình nhỏ bé ” nhưng thực ra chẳng nhỏ bé chút nào …..Em rất tự hào vì quê hương mình có một người : Lang thang khắp bốn phương trời ,nặng lòng VN yêu dấu . Câu chuyện người ra đi gợi nhiều cảm xúc và suy nghĩ .

%d bloggers like this: