Vài nét về chiến trường Quảng Trị 1972

Quân đội NDVN pháo kích. Ảnh: Wiki

Bài viết của Ích Duệ

Nhân kỷ niệm 40 năm về những sự kiện bi tráng tại chiến trường Quảng Trị, tôi (Ích Duệ) xin tổng hợp rất ngắn gọn từ các nguồn tài liệu khác nhau về bối cảnh, về lực lượng tham gia, về những tổn thất to lớn, không kể xiết về con người trong những tháng năm máu lửa, ác liệđó. Tôi cũng có đưa ra một vài ý kiến cá nhân. 

Chiến tranh thật khốc liệt. Biết bao máu xương người Việt của cả hai phía đã đổ trên mảnh đất này. Viết lại những dòng này để chúng ta biết thêm về cuộc chiến mà cả hai cùng tuyên bố chiến thắng. Và nếu có thể, trong tương lai, đừng có thêm những “81 ngày đêm” kia nữa.

1. Bối cảnh

Kể từ sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đến năm 1972 bốn năm trôi qua. Lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hồi phục và ngày càng lớn mạnh. Sau Mậu Thân, Hoa Kỳ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa ở Paris.

Năm 1972 chính quyền Nixon mở đột phá khẩu trong quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô. Các nước lớn muốn dùng Việt Nam như một con bài trên bàn thương lượng, đàm phán vì lợi ích riêng của mình.

Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Không có ứng cử viên nào muốn gây bất bình trong dư luận công chúng Mỹ

Bộ Chính trị, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cho rằng, đây chính là thời điểm rất thích hợp để mở một trận đánh chính quy lớn, hợp đồng binh chủng vào lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam cộng hòa tại Mặt trận Quảng Trị, giáng những đòn chí mạng.

Về điều kiện thiên nhiên, giai đoạn ác liệt nhất của chiến trường Quảng Trị năm 1972 diễn ra trong thời tiết mưa to nhiều ngày. Nước sông dâng cao, công sự sũng nước. Việc cung cấp đạn được và tiếp tế lương thực, thực phẩm rất khó khăn. Lực lượng phòng ngự trên các chốt, lính tráng phải tát nước suốt ngày suốt đêm, hầm hào bị sụt lở không còn tác dụng che chắn đạn bom.

2. Lực lượng tham gia của hai bên

 2.1. Quân đội Nhân dân Việt Nam:

- Các sư đoàn bộ binh: 304, 308, 320B, 324 và 325, sau được tăng cường thêm Sư đoàn 312 từ Lào về.

- 2 trung đoàn tăng, thiết giáp: 202 và 203 với hơn 100 xe tăng T- 34, T- 54, PT 76.

- Một số tiểu đoàn đặc công.

- Bốn trung đoàn pháo binh cơ giới với 408 khẩu gồm: 63 khẩu pháo chiến dịch 130mm, 93 khẩu pháo cấp sư đoàn (122 ly và 105 ly) và 247 khẩu pháo cùng bộ binh (sơ pháo 76mm hoặc 85mm).

- Hai sư đoàn phòng không: Sư đoàn 367 và 376 với 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237 với tên lửa đất đối không SA-2.

- Một số trung đoàn công binh.

- Các lực lượng tại chỗ của Mặt trận B5, B4 và Đoàn 559.

2.2 Quân lực Việt Nam Cộng hòa:

- 2 sư đoàn bộ binh 1 và 3.

- Sư đoàn dù và Sư đoàn thủy quân lục chiến.

- 4 trung đoàn và 2 chi đoàn thiết giáp: thiết đoàn 7, 18 kị binh, trung đoàn 51 bộ binh.

- 17 tiểu đoàn pháo binh gồm 258 khẩu đại bác cỡ 105mm trở lên (chưa kể các loại pháo bắn thẳng), một số tiểu đoàn công binh.

2.3. Quân đội Hoa Kỳ:

 . Không quân:

- 2 không đoàn máy bay chiến lược B-52 (D và G)

- 1 liên đội máy bay F-111

- 5 liên đoàn không quân chiến thuật F-4 và A-7

- 2 liên đội trinh sát và tác chiến điện tử SR-71EB-66EC-121F-105G

- 2 liên đoàn tiếp dầu KC-135

. Hải quân:

- 6 Tàu sân bay, 135 tàu tuần dươngtàu khu trục và tàu nổi khác.

Lính tráng chúng tôi gọi pháo từ Hạm đội 7 là pháo bầy, pháo giàn, pháo chụp. Mỗi lần máy bay chiến lược B52 xuất kích từ Thái Lan, chúng tôi đều được báo trước nhưng biết chạy đi đâu.

Tăng T59 của miền Bắc bị QĐVNCH thu được. Ảnh: Wiki

Thống kê cho thấy thị xã Quảng Trị bị lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ tàn phá với 328.000 tấn bom đạn, 9552.000 viên đạn pháo 105mm, 55.000 viên đạn pháo 155 mm, 8164 viên đạn pháo 175mm, hơn 615.000 viên đạn hải pháo, 2240 lần oanh tạc của không quân (tổng số bom đạn trong 81 ngày đêm bằng sức công phá của 7 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Nhật Bản). Có ngày số bom Mỹ ném ở Quảng Trị vượt xa số bom Mỹ ném trên toàn miền Nam trong hai năm 1968-1969. Dữ dội nhất là ngày 25/7, thị xã phải chịu 5000 quả đạn pháo. Thị xã Quảng Trị với 3 km2 và vùng ven có ngày phải chịu hơn hai vạn quả đạn đại bác cỡ lớn.

Những người chốt giữ Thành Cổ đã chứng kiến hàng chục loại bom pháo khác nhau như: Bom đào, bom phạt, bom bi, bom na ban, pháo khoan, pháo chụp, pháo càng. Đặc biệt lần đầu tiên trên chiến trường Quảng Trị, Mỹ đã dùng loại bom dù – một loại bom mà khi thả xuống lưng chừng, một quả bom mẹ nổ thành hai quả bom con, những quả bom con ấy cũng được dù mang cứ lừ lừ rơi xuống, trông thấy hẳn hoi mà không có cách gì phá nổi.

Xét về trang bị thiết bị kỹ thuật, vũ khí, Quân lực Việt Nam cộng hòa có không quân riêng với hơn 1.200 máy bay; Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ có gần 100 máy bay tiêm kích chỉ đủ phòng thủ không phận miền Bắc. Quân lực Việt Nam cộng hòa có hơn 400 máy bay trực thăng chở quân và yểm hộ mặt đất; Quân đội nhân dân Việt Nam không có. Quân lực Việt Nam cộng hòa có không quân chiến thuật (TAC),không quân chiến lược (SAC) (chủ yếu là B-52) và các pháo hạm của Hạm đội 7 yểm hộ; Quân đội nhân dân Việt Nam không có. Bộ binh, quân dù, thủy quân lục chiến của Quân lực Việt Nam cộng hòa tiếp cận chiến trường và tham chiến bằng máy bay trực thăng, tàu đổ bộ LCU, xe thiết giáp M-113 các loại quân xa khác; bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam chủ yếu tiếp cận chiến trường bằng đôi chân. Quân đội nhân dân Việt Nam có SAM-2SAM-7 và pháo cao xạ nhưng phải vừa yểm hộ chiến trường, vừa phòng thủ toàn bộ không phận miền Bắc với cơ số đạn hạn chế do Trung Quốc cố tình làm chậm việc chuyển hàng quân sự từ Liên Xô đến Việt Nam và Không lực Hoa Kỳ phong tỏa các cảng của Bắc Việt Nam từ ngày 6 tháng 4 năm 1972. Trong năm 1971, Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ nhận được 58 xe tăng T-54, 18 xe tăng T-59 (do Trung Quốc chế tạo), 27 xe tăng lội nước hạng nhẹ PT-76 (do Ba Lan chế tạo). Dù sao, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng đã có thể huy động một lực lượng tăng thiết giáp tham gia chiến dịch lớn nhất từ trước đến nay.

Như vậy, xét về số lượng đơn vị tham chiến, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam nhiều hơn. Tuy nhiên, xét về số lượng quân trực tiếp chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam không nhỉnh hơn mà thậm chí còn ít hơn vì hàng ngày bị thương vong rất lớn bởi hỏa lực pháo, bom của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ và của Quân đội Việt Nam cộng hòa.

Xét về hỏa lực không quân, pháo binh và hải quân thì phía Quân đội Hoa Kỳ và Quân đội Việt Nam cộng hòa có ưu thế vượt trội so Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là giai đoạn sau của chiến dịch khi mùa mưa đến khâu tiếp tế vũ khí gặp rất nhiều khó khăn.

3. Tóm tắt diễn biến chính và chiến thuật

Diễn biến chính

Năm 1972, Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức tổng tấn công trên 3 chiến trường chính: Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên, và Đông Nam Bộ (Bình Long, Bình Phước), trong đó hướng chủ yếu là Quảng Trị.

Đúng 11 giờ 30.03.1972, Quân đội nhân dân Việt Nam đồng loạt tiến công các căn cứ, hệ thống phòng ngự của quân đội Việt Nam cộng hòa, vô hiệu hóa 12 trận địa pháo của chúng. Trong vòng chiến đấu 1 tháng, lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ đội và du kích địa phương của tỉnh Quảng Trị làm chủ nhiều huyện lỵ. Để nhanh chóng kiểm soát Quảng Trị, ngày 01.5.1972, quân chủ lực thuộc Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 và Sư đoàn 320 hiệp đồng tiến công từ La Vang vào trung tâm thị xã, cắm lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam lên nóc dinh Tỉnh trưởng Quảng Trị.

Trong đợt tấn công đầu tiên này, cả tập đoàn phòng ngự của Quân lực Việt Nam cộng hòa với trên 3 vạn quân, 178 máy bay, 11 tàu chiến, 320 xe tăng, 237 khẩu đại bác đã bị phá vỡ trước những cuộc tiến công như vũ bão của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bị mất tỉnh Quảng Trị, Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam cộng hòa huy động nhiều sư đoàn và phương tiện, vũ khí hiện đại hòng chiếm lại tỉnh Quảng Trị mà trước hết là Thành Cổ bằng mọi giá.

Từ giữa tháng 6, Quân lực Việt Nam Cộng hòa dồn lực lượng phản công với sự tham gia có tính chiến lược của không quân, hải quân Hoa Kỳ và bắt đầu lấy lại ưu thế trên chiến trường. Đến đầu tháng 7 họ đã tiến đến thị xã Quảng Trị.

Cuộc chiến 81 ngày đêm ở thị xã và thành cổ Quảng Trị (thành Đinh Công Tráng) đã diễn ra vô cùng căng thẳng, ác liệt. Cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề về quân số. Đêm 15.9.1972 Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu rút có tổ chức ra khỏi thành cổ và thị xã Quảng Trị.

Sáng ngày 16.9.1972 một nhóm binh sĩ thuộc tiểu đoàn 6 Thủy quân lục chiến đã cắm cờ Việt Nam cộng hòa trên cổng thành phía tây của thành cổ Quảng Trị.

Về chiến thuật:

Giai đoạn đầu lực lượng bộ binh của Quân đội nhân Việt Nam với sự yểm trợ tối đa của pháo binh và xe tăng tấn công như vũ bão vào lực lượng của Quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân lực Việt Nam cộng hòa bị bất ngờ, không thể chống đỡ nổi đã phải rút lui. Sư đoàn 3 bị loại khỏi vòng chiến. Quân đội Việt Nam đã thành công trong cách đánh hợp đồng binh chủng: Lục quân- Pháo binh- Tăng, thiết giáp.

Giai đoạn sau Quân lực Việt Nam cộng hòa với sự yểm trợ vô cùng có hiệu quả của không quân, hải quân và pháo binh, trong đó có máy bay chiến lược B 52 và lực lượng pháo binh của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đã bền bỉ, quyết liệt phản công Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngay trong giai đoạn bị đối phương phản công quyết liệt, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn lúng túng giữa phòng ngự và tấn công, không chuyển sang tích cực phòng ngự. Lúc đó, những người lính chúng tôi đang vô cùng chật vật phòng ngự mà vẫn được quán triệt là phải chuẩn bị tấn công Thừa Thiên- Huế. Không có hệ thống phòng ngự vững chắc lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam bị thương vong rất lớn khi đối phương phản công mạnh mẽ. Sau này Quân đội nhân dân Việt Nam mới chuyển sang phòng ngự chủ động theo chiều sâu.

Sau khi rút khỏi thị xã Quảng Trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập phòng tuyến vững chắc chống lại Quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân lực Việt Nam cộng hòa tổ chức chiến dịch Lam Sơn 72A và các cuộc hành quân “Sóng thần” để tái chiếm bờ bắc sông Thạch Hãn, đánh chiếm Cửa Việt nhưng đã bị Quân đội nhân dân Việt Nam đánh bại. Hai bên quay về giữ thế giằng co cho đến khi hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1 năm 1973.

4. Những tổn thất của hai bên

Theo số liệu đã công bố tại mít tinh kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng Quảng Trị (01.05.1972- 01.05.2012) trên toàn bộ chiến trường Quảng Trị trong năm 1972 Quân đội nhân Việt Nam đã tiêu diệt 26.000 quân của quân đội của chính quyền Sài Gòn. Quân đội nhân dân Việt Nam bị thiệt hại 36.000 quân.

Sau 81 ngày đêm chiếm giữ Thành Cổ và thị xã Quảng Trị, Quân đội nhân dân Việt Nam đã bị tổn thất nặng. Riêng Trung đoàn Triệu Hải (Trung đoàn 27 Mặt trận B5) với hơn 1.500 quân cố thủ trong Cổ Thành đã bị thương vong gần như toàn bộ tại trận địa, chỉ còn chưa đến 1 tiểu đội thoát ra ngoài vào đêm 15.9.1972. Chi tiết về trung đoàn này cũng đã được phóng viên Báo Tuổi trẻ ghi lại theo lời kể của một cựu chiến binh (một trong chưa đến chục người sống sót của trung đoàn này) qua bài ký đăng trong số báo ra ngày 26 tháng 7/1998, có đoạn: “Tết năm 1968, ngay sau khi trung đoàn được thành lập ở miền Bắc, một tháng sau trung đoàn này có mặt tại Quảng Trị. Từ đấy cho đến năm 1972, Quảng Trị đã trở thành chiến trường của trung đoàn 27, và ở đây, họ mang một cái tên mới: Trung đoàn Triệu Hải (tên của hai huyện đồng bằng Quảng Trị ghép lại)… Phải đến bây giờ, chúng ta mới được nghe cả một trung đoàn vào giữ Thành Cổ, lúc rút ra còn chưa đến một tiểu đội”.

Ngoài Trung đoàn Triệu Hải (Mặt trận B5) gần như bị xóa sổ, Trung đoàn 48 B thuộc Sư đoàn 320B – đơn vị chiếm giữ trung tâm thị xã, cũng đã bị thiệt hại hơn 80% quân số.

Nạn nhân của cuộc chiến. Ảnh: Wiki

Về phía Quân lực Việt Nam cộng hòa, tuy tái chiếm được thành cổ nhưng cũng phải trả giá rất đắt. Kế hoạch chiếm thị xã trước ngày 13/7 để mặc cả tại Hội nghị Paris không thực hiện được mà còn phải mất gấp 5 lần thời gian định trước. Để chiếm lại thành cổ, chỉ riêng Sư đoàn Thủy quân Lục chiến có 3.658 binh sĩ tử trận, chiếm 25% tổng quân số (tổng thương vong là hơn 5.000 chiếm 38% quân số). Các đơn vị thuộc Sư đoàn Dù và các đơn vị khác cũng chịu thiệt hại nặng tương đương.

Thiệt hại rất lớn của các đơn vị tinh nhuệ này khiến Quân lực Việt Nam cộng hòa không đủ sức tấn công tiếp ra phía bắc. Các chiến dịch Lam Sơn 72A và các cuộc hành quân “Sóng thần” để tái chiếm bờ bắc sông Thạch Hãn và đánh chiếm Cửa Việt đã bị thất bại.

5. Tại sao Quảng Trị ?

Vùng đất Quảng Trị là nơi đối đầu, là nơi mà cả hai bên Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa đều muốn thể hiện sức mạnh của mình. Nói rộng ra, Quảng Trị cũng là nơi hai phe XHCN và phe TBCN đối đầu nhau về sức mạnh quân sự. Tất cả các vũ khí hiện đại được Hoa Kỳ sử dụng ở đây từ những năm 65-68, nhất là tại Mặt trận Khe Sanh- Đường Chín.

Năm 1972 Quân đội nhân dân Việt Nam đã phải tung vào chiến trường lực lượng dự trữ chiến lược của mình là Sư đoàn 308, Sư đoàn 312. Chính quyền Sài Gòn cũng đã phải huy động hai sư đoàn thuộc lực lượng dữ trữ chiến lược và thiện chiến nhất là Sư dù và Sư Thủy quân lục chiến trực tiếp chiến đấu ở Mặt trận Quảng Trị.

Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam DCCH muốn khẳng định mạnh mẽ với thế giới rằng: Chúng tôi giải phóng được một tỉnh địa đầu của miền Nam Việt Nam và hoàn toàn có thể giữ được tỉnh này. Giữ Quảng Trị trong điều kiện Hoa Kỳ chi viện tối đa về hỏa lực không quân, hải quân là để Việt Nam dân chủ cộng hòa có thế mạnh trong đàm phán với Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa ở Paris.

Về phía Việt Nam cộng hòa, họ không thể cam chịu mất tỉnh địa đầu của mình vì chiếm được Quảng Trị, Quân đội Nhân dân Việt Nam có bàn đạp để tiến đánh các tỉnh khác. Từ đây có thể gây phản ứng dây truyền mất tiếp những tỉnh khác.

Chính quyền Việt Nam cộng hòa cho rằng, chiếm lại được Quảng Trị sẽ gây tiếng vang lớn trên thế giới, sẽ gây sức ép được với chính quyền Hà Nội và cả chính quyền Hoa Kỳ (đang muốn bỏ rơi miền Nam Việt Nam) trên bàn đàm phán ở Paris. Mặt khác, chính quyền Sài Gòn cũng muốn chứng minh: Mặc dù quân đội Mỹ không còn trực tiếp tham chiến bằng bộ binh nữa thì Quân lực Việt Nam cộng hòa vẫn hoàn toàn có thể đứng vững, chiến đấu và có thể chiến thắng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thị xã Quảng Trị, Thành cổ Quảng Trị trở thành địa điểm tượng trưng cho tỉnh Quảng Trị. Chiếm được Thành Cổ được coi như là chiếm được tỉnh Quảng Trị. Thành Cổ Quảng Trị được cả thế giới biết đến.

81 ngày đêm máu lửa đã diễn ra…Trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương chưa có nơi nào chiến sự diễn ra ác liệt và bi tráng như tại Thành Cổ Quảng Trị năm 1972!

Ích Duệ. Cựu chiến binh chiến trường Quảng Trị

PS. Entry tới là bài viết của Hoài Hương giới thiệu về cuốn sách “Một thoáng Quảng Trị”. Mời các bạn đón đọc.

114 Responses to Vài nét về chiến trường Quảng Trị 1972

  1. silver price says:

    Buổi lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân. Hơn 67 năm chiến đấu và xây dựng, chiến thắng và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phấn đấu liên tục, không ngừng giữ vững, nêu cao và phát huy mạnh mẽ truyền thống anh hùng cách mạng, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và truyền thống vẻ vang của quân đội, xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”.

  2. TRUONG SA 88 says:

    Trận chiến Gettysburg (Hoa Kỳ)
    Trận chiến bùng nổ ở Gettysburg (1 tháng 7 – 3 tháng 7 năm 1863) kết thúc với thắng lợi lớn của phe Liên bang miền Bắc Hoa Kỳ (Union), buộc Liên minh miền Nam Hoa Kỳ (Confederacy) phải rút quân về Virginia.[2] Chiến thắng này mang lại lợi thế cho Liên bang trong cuộc chiến,[3] song trận kịch chiến ấy cũng vĩnh viễn thay đổi bộ mặt thị trấn nhỏ bé này. Bãi chiến trường ngổn ngang thi thể của hơn 7.500 binh sĩ tử trận và vài ngàn xác ngựa của Binh đoàn Potomac thuộc Liên bang cũng như Binh đoàn Bắc Virginia của Liên minh. Tử khí bốc lên từ hàng ngàn thi thể đang thối rữa của binh sĩ, chiến đấu từ hai bên chiến tuyến nhưng cùng nằm xuống trên một trận địa, làm cư dân thị trấn mắc bệnh nghiêm trọng, và việc chôn cất tử tế những người lính trận vong trở nên ưu tiên hàng đầu đối với vài ngàn cư dân Gettysburg. Theo sự hướng dẫn của David Wills, một luật sư giàu có 32 tuổi, tiểu bang Pennsylvania mua một khu đất rộng 17 mẫu Anh (69.000 m2) để xây dựng một nghĩa trang nhằm tôn vinh những người lính thiệt mạng trong trận đánh mùa hè năm ấy.
    Lúc đầu, Wills dự định tổ chức lễ cung hiến nghĩa trang vào thứ Tư ngày 23 tháng 9, và mời Edward Everett, từng là Ngoại trưởng, Thượng nghị sĩ, Dân biểu Hoa Kỳ, Thống đốc tiểu bang Massachusetts, và Viện trưởng Đại học Harvard là diễn giả chính. Vào lúc ấy, Everett được xem là nhà hùng biện tài danh nhất. Trong lời phúc đáp, Everett cho biết ông không thể chuẩn bị cho bài diễn văn trong một thời gian ngắn như thế và đề nghị dời ngày lễ, ban tổ chức đồng ý và ấn định ngày lễ sẽ được tổ chức vào thứ Năm ngày 19 tháng 11.
    Về sau, Wills và ban tổ chức mới nghĩ đến việc mời Lincoln đến tham dự buổi lễ. Bức thư của Will viết, “Chúng tôi mong ước sau phần diễn thuyết, tổng thống, với tư cách là người đứng đầu nhánh hành pháp của quốc gia, chính thức biệt riêng khu đất này cho mục đích thiêng liêng bằng vài lời cung hiến”. Vai trò của Lincoln trong buổi lễ là không quan trọng, tương tự như tập quán mời một nhân vật nổi tiếng đến cắt băng khánh thành.
    Ngày 18 tháng 11, Lincoln đến Gettysburg bằng xe lửa, qua đêm tại nhà của Will ở quảng trường thị trấn, tại đây ông hoàn tất bài diễn văn đã viết dang dở từ Washington. Trái với các giai thoại, Lincoln không hoàn tất bài diễn văn trên tàu lửa cũng không viết nó trên bì thư. Vào lúc 9:30 sáng ngày 19 tháng 11, Lincoln gia nhập cuộc diễu hành với các nhân vật quan trọng, người dân thị trấn, và các góa phụ đến khu đất sẽ được cung hiến.
    Ước tính có xấp xỉ 15.000 người đến tham dự buổi lễ, trong đó có các thống đốc đương nhiệm của 6 trong số 24 tiểu bang thuộc Liên bang: Andrew Gregg Curtin, tiểu bang Pennsylvania; Augustus Bradford, Maryland; Oliver P. Morton, Indiana; Horatio Seymour, New York; Joel Parker, New Jersey; và David Tod, Ohio.

    Diễn văn Gettysburg của Lincoln

    Lincoln đọc bài diễn văn với giọng Kentucky trong quãng thời gian từ hai đến ba phút. Ông tóm tắt cuộc chiến trong mười câu và 272 từ, tái cung hiến đất nước cho cuộc đấu tranh và cho lý tưởng biểu thị rằng không chiến binh nào tử trận ở Gettysburg đã chết vô ích.

    “Tám mươi bảy năm trước, ông cha ta đã tạo dựng trên lục địa này một quốc gia mới, được thai nghén trong Tự do, được cung hiến cho niềm xác tín rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng.
    Ngày nay, chúng ta đang tiến hành một cuộc nội chiến vĩ đại nhằm thử thách quốc gia này, hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, xem có đủ quyết tâm theo đuổi lý tưởng mà đất nước ấy đã được thai nghén và cung hiến cho. Chúng ta gặp nhau ở đây, trên bãi chiến trường này. Chúng ta đến đây để cung hiến một phần của mảnh đất, nơi yên nghỉ cuối cùng của những người đã hiến dâng mạng sống mình để tổ quốc được sống. Đó là điều chúng ta cần phải làm.
    Song, trong một ý nghĩa lớn lao hơn, chúng ta không thể cung hiến, cũng không thể thánh hóa mảnh đất này. Những con người dũng cảm, đang sống hay đã chết, là những người từng chiến đấu ở đây, đã cung hiến nó, họ đã làm điều mà những con người yếu đuối như chúng ta không thể làm gì thêm hơn nữa. Thế giới sẽ không quan tâm, cũng chẳng nhớ đến những gì chúng ta đang nói ở đây, nhưng thế giới sẽ không bao giờ quên những gì họ đã làm tại đây. Ấy là cho chúng ta, những người còn sống, cần cống hiến mình cho chính nghĩa vẫn chưa hoàn tất, mà những người từng chiến đấu ở đây đã cống hiến đời mình để sự thành công của chính nghĩa ấy mau đến. Ấy là cho chúng ta, những người đang hiện diện ở đây, tiếp nhận trọng trách đang đặt trước mặt chúng ta – chúng ta tiếp nhận từ những người đã khuất hiện đang được vinh danh lòng tận tuỵ với chính nghĩa mà họ đã cống hiến bằng chính sinh mạng mình – ngay tại đây, chúng ta quyết tâm không để họ chết vô ích – đất nước này, dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, sẽ sản sinh một nền tự do mới – và chính quyền này của dân, do dân, vì dân sẽ không lụi tàn khỏi mặt đất…”
    Abraham Lincoln

    Nước Mỹ cũng đã từng xảy ra nội chiến, nhưng cách xử lý sau nội chiến của những nhà lãnh đạo miền Bắc Mỹ khi đó thật nhân văn- nó đã ko để lại sự hận thù giữa 2 phe , hận thù giữa những người con của 1 đất nước, do vậy nước Mỹ đã trở thành 1 quốc gia phát triển & văn minh nhất thế giới cho đến ngày nay…Thật buồn cho cái tâm & tầm của các nhà LĐ VN trong cách xử lý hậu quả sau chiến tranh, dù đã gần 40 năm rồi mà sự thù hận vẫn ko nguôi, mặc dù ngoài miệng họ vẫn hô hào “xóa bỏ hận thù, hòa giải dân tộc…”….

  3. thuybeo says:

    chiến tranh thật khốc liệt….cháu đã có dịp thăm quan thành cổ Quảng Trị cũng như nghĩa trang Trường Sơn. Quá nhiều người con Việt Nam đã nằm lại nơi đây, một sự hy sinh to lớn

  4. em các bác says:

    Ai thắng ai ?
    Ngưới dân vô tội không đặt câu hỏi ấy trong những tình huống như vậy.
    Họ chạy ! Họ cah5y theo bản năng sinh tồn.
    Các bàc có thể truy tập intenrnet để biết họ chạy về hướng nào.
    Chiến công cho dân hay cho ai?
    Nhất tướng công thành vạn cốt khô chỉ là 1 lời tự bào chữa ngu xuẩn.
    Đừng tự hào trên cái ngây thơ (hay ngu xuẩn) của mình.

  5. HoangNguyetAnh says:

    DVD Quảng Trị- Mùa hè đỏ lủa 1972,
    Những năm khốc kiệt hào hùng của quân dân VN.

  6. Dove says:

    Sau khi đọc các comments của Tịt Tuốt, tôi thấy có nghĩa vụ cung cấp một số thông tin về không quân VN. Mục đích chỉ là góp phần nhỏ bé để thế hệ sau biết những sự thật đích thực của chiến tranh.

    1) Hệ thống phòng không của VN được xem là đáng gờm nhất trên thế giới và gồm 4 lưới hỏa lực, được phối hợp với nhau hợp nhịp nhàng: bộ binh + dân quân (tầm thấp), cao xạ, tên lửa và không quân. Trong đó cao xạ và tên lửa là chủ lực. Không quân đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc động viên tinh thần của toàn hệ thống. Để tránh sự truy đuổi của không lực Hoa Kỳ, các phi công VN thường hạ thấp độ cao và trở về căn cứ trong sự bảo vệ rất hiệu quả của mạng lưới súng bộ binh và cao xạ dày đặc. Theo tôi, việc MIG 21 bay 300km sang đảo Hải Nam để thoát truy đuổi là ko khả thi và nếu có thì chỉ có thể là một trường hợp vô cùng hi hữu.

    2) Trong suốt thời gian chiến tranh VN, tổng số chuyên gia quân sự Nga đã đến VN khoảng 10 ngàn người. Theo một số nguồn tin đáng tin cậy thì số chuyên gia đồng thời có mặt là ko quá 500. Họ được chia thành 3 nhóm: đông đảo nhất là chuyên gia kỹ thuật, các loại chuyên gia khác và tình báo quân sự (chủ yếu là thu thập thông tin về chiến thuật, chiến lược và vũ khí của Hoa Kỳ). Chuyên gia tên lửa của LX do “ngứa nghề” nên đã vi phạm kỹ luật và trực tiếp bắn rơi vài máy bay Mỹ (tôi biết cụ thể là 2 trường hợp). Các phi công LX chưa bao giờ tham chiến ở VN, tuy nhiên các phi công Bắc Triều Tiên đã tham chiến (MIG 19) với mục đích học tập kinh nghiệm. Tôi được biết 8 người trong số họ đã hy sinh và ko hề biết rằng họ có hạ được máy bay nào của Hoa Kỳ hay ko;

    3) Ngày 26/12/ 1972, phi công Vũ Xuân Thiều (MIG 21) đã phóng tên lửa ở tầm gần và hạ một máy bay B52 G. Anh đã hy sinh vì không đủ thời gian để thoát ra khỏi vùng nổ của tên lửa. Khi được báo cáo là ko quân đã hạ được B52 nhưng phi công đã hy sinh, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã suy nghĩ rất nhiều và chỉ thị rằng chiến công của Vũ Xuân Thiều là chiến công chung của toàn bộ ko quân vì vậy để động viên toàn quân và toàn dân quyết tâm hạ gục chiến dich Linebacker II, cần chọn một phi công còn sống và xứng đáng làm đại diện nhận chiến công. Đó là một quyết định đúng đắn và Phạm Tuân xứng đáng được chọn là đại diện.

    Tuy nhiên, đối với Dove thì Vũ Xuân Thiều mãi mãi là người anh hùng đích thực. Hàng năm vào ngày 26/12, Dove thường đến nghĩa trang Văn Điển thắp cho anh một nén nhang.

    Hiện nay thì chiến công của Vũ Xuân Thiều đã được không quân và Chính phủ chính thức ghi nhận. Như ngày nào, anh vẫn nằm đó trong ngôi mộ khiêm tốn của mình. Chỉ có khác so với trước đây là trên bia được gia đình cho khắc thêm dòng chữ Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân. Tại Gia Lâm có một con phố nhỏ, rất khiêm tốn, được mang tên anh.

    Theo thông báo chính thức thì phi công Vũ Xuân Thiều đã hy sinh thân mình để hạ B52 vào ngày 28/12/1972. Tuy nhiên, thông tin này ko khớp với thông tin từ phía Hoa Kỳ, vì theo họ vào hôm đó, ko có B52 nào bị hạ mà chỉ có duy nhất một MIG 21 bị F4 bắn hạ (theo Wikipedia, từ khóa MIG 21). Thiển nghĩ, đã đến lúc ko quân VN có trách nhiệm làm sáng tỏ chiến công của Vũ Xuân Thiều, cũng như những dằn vặt day dứt về mặt tinh thần mà đồng đội và gia đình của anh đã phải kìm nén bao năm vì nghĩa lớn “không có gì quí hơn độc lập tự do”.

  7. gold account says:

    Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở đợt tiến công lần thứ nhất vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bức quân địch ở Bản Kéo đầu hàng, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm. Ngày 30/3/1954, ta mở đợt tiến công lần thứ 2 diệt các cứ điểm phía Đông, cuộc chiến đấu giành đi giật lại giữa ta và địch rất quyết liệt. Vòng vây của quân ta khép chặt dần, hãm quân địch vào tình thế rất khốn đốn. Ngày 01/5/1954, đợt tiến công thứ 3 bắt đầu; quân ta lần lượt đánh chiếm các cứ điểm phía đông và phía tây, bẻ gãy các cuộc phản kích của địch. Ngày 07/5/1954, bộ đội ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ.

  8. Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở đợt tiến công lần thứ nhất vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bức quân địch ở Bản Kéo đầu hàng, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm. Ngày 30/3/1954, ta mở đợt tiến công lần thứ 2 diệt các cứ điểm phía Đông, cuộc chiến đấu giành đi giật lại giữa ta và địch rất quyết liệt. Vòng vây của quân ta khép chặt dần, hãm quân địch vào tình thế rất khốn đốn. Ngày 01/5/1954, đợt tiến công thứ 3 bắt đầu; quân ta lần lượt đánh chiếm các cứ điểm phía đông và phía tây, bẻ gãy các cuộc phản kích của địch. Ngày 07/5/1954, bộ đội ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ.

  9. AQua says:

    Trên tầng cao cô pác đại gia đang du vườn xuân.
    Bao người dân mất đất dục em đến đây viết bài.
    Mới tới nơi, em chưa được cất lời… thì đã bị oánh tơi bời.
    Mặt em sưng, thân đau rã rời,máu me đầy người nhưng mà em hổng dám đau.
    Hổng dám đau em còn phải viết bài.
    Hổng dám đau em còn phải “làm” bài.
    Hổng dám đau em còn sống vì đài
    Nếu có kêu em không phải loa đài.
    Hổng dám đau hổng dám đau.
    Trên tri tôn luật pháp người đánh em đang du vườn xuân.
    Bao người dân mất đất dục em nên khám thương tật.
    Nhưng em hiểu sự thật nên em cũng hổng khám đâu.
    (May em chưa về với đất….nếu có về ai ghi nhận em là cây viết liệt sỹ hy sinh)
    Bác Xanghung đâu! Xin mời bác ngẫu hứng tiếp

  10. qx says:

    Năm 1979, hơn 30 sư đoàn giặc Tàu, không tuyên bố chiến tranh, đã ồ ạt vượt qua giới tuyến đánh phá tan nát 6 tỉnh giáp giới của nước phía Nam.

    Giặc Tàu đã điên cuồng nã pháo và tung hàng sư đoàn xe tăng, thiết giáp ủi sạch, san bằng các thành phố, thị trấn, làng mạc, giết hại vô tội vạ dân chúng và binh lính Việt Nam.

    Chúng đã gây nên cảnh chiến tranh một cách hiếu chiến, hiếu sát điên cuồng nhân danh nhân dân của chúng, nhân danh đất nước của chúng, nhân danh lẽ phải, nhân danh nhiều thứ khác nữa như vệ quốc, giải phóng dân tộc, vv…

    Chúng không cần bận tâm đến giải pháp hòa bình, giải pháp ngoại giao. Chúng xem gây chiến, giết chóc, vũ lực và giải pháp thứ nhất. Chúng xem thường mọi luật pháp quốc tế, mọi thông lệ quốc tế, mọi sự can thiệp nhằm tránh sự giết chóc. Chúng xem thường Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế — những cơ quan nhân loài mà ngày nay chúng dựa vào mỗi khi cần bảo vệ quyền lợi của chúng.

    Nhiều chục năm đã qua đi kể từ ngày chúng gây hấn, ấy thế mà, chúng vẫn ra rả nói rằng binh lính chết trận trong khi đi giết chóc dân lành và binh lính tại 6 tỉnh của nước Nam là liệt sĩ, là anh hùng, là chết cho tổ quốc, cho chính nghĩa sáng ngời, vân vân và vân vân.

    Và vân vân đại loại cùng thứ loại hạng ngạch.

    Và chúng còn căm thù dân chúng, binh lính ở 6 tỉnh mà chúng giết nữa chứ, hỏi nhân loài thế lày nà thế lào?

    qx

  11. Trần Kẽm says:

    1. Truyện mới đây kể rằng, hai người đàn bà nọ là hai chị em ruột một nhà, sống với nhau trên một thửa đất hình chữ x, cùng đi chợ rồi cùng tranh nhau một miếng lụa/vải/con… gì gì đó đại khái vậy. Ai cũng cố công bảo vật ấy là của mình. Cuộc cãi vã kéo dài dường như không có hồi kết, cả hai vì vậy mới kéo nhau lên quan nhờ phân xử. Trên công đường ai cũng trình ra đầy đủ các bằng chứng chứng minh rằng vật ấy của mình. Quan trên thấy quá khó xét bèn bảo cả hai bà mỗi người cầm một góc của vật rồi kéo. Ai thắng thì vật thuộc về người ấy. Cuộc kéo diễn ra nhanh chóng kết thúc vì có một người bỏ cuộc và đứng khóc. Khi ấy quan mới đập bàn quát người thắng trả lại vật cho người thua bởi chứng lý thì không nhưng chứng tình thì rất rõ: Người không kéo vật và chịu thua mới đích thị là chủ của vật, vì rứt ruột đẻ ra nên họ mới có tình cảm và đau lòng khi thấy vật bị tổn thương khi hai bên giằng xé.
    “Ta” cuối cùng có vẻ như đã thắng. Vì ta đã giằng được vật. Nếu cứ như kết cục trong câu truyện thì có vẻ vật ấy, non sông, đất nước ấy… dường như không phải của ta. Mà cũng có khi đúng thế thật. Vì không phải của ta nên ta sẵn sàng đốt thậm chí cả dãy Trường Sơn để chỉ dành được nó. Ngày nay, khi vật ấy về tay ta rồi ta xẻ nhoe nhoét chúng ra để bán. Bán từ rừng đầu nguồn, tới lòng sông, biển đảo. Moi từng hạt ti tan, hòn than, thỏi bô xít… bán! bán! và bán tất!!!
    “Theo số liệu đã công bố tại mít tinh kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng Quảng Trị (01.05.1972- 01.05.2012) trên toàn bộ chiến trường Quảng Trị trong năm 1972 Quân đội nhân Việt Nam đã tiêu diệt 26.000 quân của quân đội của chính quyền Sài Gòn. Quân đội nhân dân Việt Nam bị thiệt hại 36.000 quân.”
    Đâu là ta, đâu là… không ta thì không biết nhưng tổng hợp lại thì đã có 26.000+36.000=62.000 người Việt đã chết. Thế cho nhanh.
    Bảo vệ Tổ quốc trước các thế lực ngoại bang thì đằng một nhẽ, để chúng đàm phán với nhau bằng số xác chết người Việt thì đó là khôn hay ngu? Kẽm hậu sinh nên không biết!!! Có ai hay cho Kẽm hay với!!! Đâu chính nghĩa đâu là phi nghĩa?
    Thật là khó để biết đâu là bạn, đâu là thù, đâu là ta, đâu là địch? Khi nào cần hy sinh dù là tất cả, thậm chí là đốt cả dãy Trường Sơn? Khi nào cần phải nhường nhịn và không cần phải nhất thiết hi sinh? Sống trong đời ôi thật khó làm sao?
    2. Phố huyện đầy rác và có lẽ cũng sặc mùi hôi thối bởi rác xả ra bừa bãi nhiều hơn. Nói vậy Kẽm có lẽ rất chi là bất nhã với những người xa lạ đã về thắp hương cho bố mình nhân ngày 27/7. Nhưng họ là ai? Họ là các quan đoàn thể ở một cái huyện/tỉnh xa xôi nào đó kết nghĩa với huyện nhà nhà Kẽm. Họ về huyện nhà Kẽm thắp hương cho các liệt sỹ huyện nhà trong đó có bố Kẽm. Họ đến nghĩa trang thắp hương và tới thẳng nhà hàng. Họ tới thì phải tiếp, phải dọn cỗ, phải đặt tiệc trong nhà hàng. Và họ cười, họ chúc, họ ăn, họ uống, họ tiêu… Chỉ có điều họ không phải là một tổ chức kinh tế nên cuộc chi tiêu đó – Mang tiếng là đi tưởng nhớ các liệt sỹ – chắc chắn là tiền thuế của dân. Họ hãy cứ làm việc tưởng nhớ kiểu như thế đó đi và sẽ không sao nếu cuộc sống người dân trong đó có các thương binh, gia đình liệt sỹ, những bà mẹ Việt Nam anh hùng và không anh hùng đã thực sự không hoặc chí ít là bớt nhọc nhằn khốn khó!!!
    Chẳng ai bắt và để họ khổ cả, nhưng giá như họ đến nghĩa trang thắp một nén hương rồi đến nhà các thương binh, gia đình liệt sỹ, những người mẹ mất con vì chiến tranh và ăn cùng họ một bữa cơm chân thực… dành những đồng tiệc tùng để… mà thôi… giá như vậy nhỉ! giá như!
    3. Và giá như không có một cuộc chiến tranh dù là một cuộc chiến chính nghĩa!
    Điều đó chỉ có thể xẩy ra khi bạn là một người giàu có, hùng cường, khoẻ mạnh và thông tuệ, nhiều bạn bè chân chính.
    Không ai dám đánh một người tốt, và thậm chí một kẻ càn rỡ tới đâu cũng càng không dại gì dám chọc tức chứ chưa nói tới đánh một người đã tốt lại còn hùng cường, khoẻ mạnh.
    Bao giờ Tổ quốc tôi: Tốt, hùng cường, khoẻ mạnh và có những người bạn cũng tốt thực sự và không phải chỉ tốt = lời, cũng hùng cường và cũng khoẻ mạnh, không tham lam, không ti tiện, không bẩn thỉu, không tàn bạo, không dối trá, khoác loác? Bao giờ Tổ Quốc ơi?!
    4. Các cụ dạy cấm có sai: Chọn bạn mà chơi, chọn người mà gửi! Bao giờ Tổ quốc biết chọn bạn để mà chơi? Bao giờ Tổ quốc ơi?
    5. Kẽm đang rất mâu thuẫn, đang rất bối rối, rất lan man đến độ không thắp nổi cho bố mình một nén hương ở nghĩa trang, mặc dù vậy nhưng nếu có sai thì xin cứ… chém/ném nặng tay!

    • ich Due says:

      Trần Kẽm nêu ra những ý kiến rất đáng suy nghĩ. Lòng tôi trĩu nặng khi đọc những dòng chữ được viểt ra từ trái tim yêu thương và khối óc đầy suy tư của bạn. Cám ơn Trần Kẽm nhiều!

    • AQua says:

      Bác kẽm đưa ra những ý làm A Qua cứ suy nghĩ và lan man mãi, trong đầu càng nghĩ càng thấy nặng trịch.
      Sự thật của xã hội bấy giờ nó phơi bày quá nhiều điều không thể nào vui được nhưng sự thật này ngày nay đang được người ta tô vẽ cho nó thành một cái bánh vẽ. Tôi xin trỏ ngược ngón tay chia sẽ với những suy tư của bác.

    • Trần Kẽm says:

      Cám ơn sự đồng cảm và chia sẻ của các bác nhất là bác Ích Duệ và bác Aqua!

    • Hồ Tại Thiên says:

      Dù sao, tôi cũng không tin bác Kẽm ở câu cuối cùng. Tôi nghĩ con người như bác thì không đến nỗi để hoang lạnh mộ bia của ba mình ví bất cứ lý do gì. Bác viết cho nó lô-gich với 1. 2. 3….kia, nhưng đem ba mình ra để “minh họa” thế nầy thì tôi không tin bác viết thật!

  12. Xôi Thịt says:

    Khánh thành bia chiến thắng mặt trận biên giới phía Bắc

    http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120727/khanh-thanh-bia-chien-thang-mat-tran-bien-gioi-phia-bac.aspx

    Trích

    Hôm nay 27.7, tại bản Pa Pách (xã Bình Trung, H.Cao Lộc, Lạng Sơn), Đoàn kinh tế quốc phòng 337 (Quân khu 4) phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Lạng Sơn tổ chức khánh thành công trình bảo tồn và tôn tạo bia chiến thắng Sư đoàn 337.

    Dù sao, sau bao nhiêu năm, tin kỷ niệm các chiến sĩ hy sinh năm 1979 mới lại được đưa công khai

    trích

    Tháng 2.1979, sau khi nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, Sư đoàn 337 được điều động từ Quân khu 4 hành quân thần tốc lên biên giới. Sau một số lần điều chỉnh nhiệm vụ và vị trí đứng chân, sư đoàn 337 được giao trọng trách ngăn chặn thê đội 2 của đối phương tấn công theo hướng đường 1B.

    Sau 12 ngày đêm chiến đấu tại trận tuyến phòng ngự này ta đã chặn đứng và đánh bại ý định vu hồi bao vây chia cắt Lạng Sơn của đối phương.

    Bản gốc thì dùng từ “địch”, sau sửa lại thành “đối phương”, rốt cuộc cũng chẳng nói được vì bọn nào mà các chiến sĩ ta hy sinh :( Thôi thì an ủi cái gì cũng cần thời gian, dám mở miệng ra đã là cả 1 sự tiến bộ rồi.

    Kính mong những người ngã xuống được yên nghỉ. Hương hồn các anh, các chị cùng hồn thiêng sông núi hãy phù hộ đất nước chống giặc ngoại xâm và nội xâm.

    • ich Due says:

      Tôi rất mừng khi biết tin: Bia chiến thắng Mặt trận biên giới phía Bắc đã được khánh thành!

      • mai says:

        Thắng kẻ thù nào vậy ? Nhật, Pháp hay Mỹ ? Hay Đại…Ca Ca mới thắng 1 trận Tiên Lãng mà nay đã dựng bia rồi ? Nhanh thế!

  13. Nichts says:

    Muôn đời nay vẫn thế, máu của dân da vàng luôn là loại máu rẻ nhất thế giới

  14. Nguyen Nguyen says:

    Xin thắp 1 nén nhang 27/7 tưởng niệm cho những linh hồn của cả 2 miền đất nước. Ước gì những linh hồn này trở lại quất cho bọn Trung Quốc ở biển đông và bọn tham nhũng ở VN 1 phát.

    http://hieuminh.org/2012/07/26/vai-net-ve-chien-truong-quang-tri-1972/

  15. Hồ Tại Thiên says:

    NHỚ CHIẾN TRƯỜNG K
    (Nhân ngày Liệt sỹ)

    Mẹ bạc tóc tìm con nơi đất khách
    Chỉ còn đây bia tượng giữa Nông Pênh
    Lá thư cuối con bảo quân thù đã sạch
    Sao giờ đây con đi mãi chưa về!

    Con đâu đó ở trong rừng hoang lạnh
    Nắm xương khô còn nguyên vẹn hình hài?
    Đêm khói nhang hiện lên hồn bá tánh
    Than vãn một thời thiên hạ cố hiểu sai.

    Mẹ chẳng tìm ra con nhưng có con trên ngàn bia mộ chí
    Chiều nghĩa trang góa phụ xõa tóc mềm
    Có phải là con dâu mẹ đó?
    Mẹ tự hào con xứng tuổi thanh niên!

    (Xiêm Riệp 2002)

    • ich Due says:

      Xin chia sẻ những cảm xúc của Hồ Tại Thiên qua bài thơ Nhớ chiến trường K.
      Máu xương người Việt đổ ở khắp nơi. Ở miền nam, miền bắc, ở Lào, ở Campuchia, ở Hoàng Sa, Trường Sa. Càng quý trọng từng mảnh đất của Tổ quốc. Càng quý trọng những phút giây ta đang sống!

  16. [...] thương binh, liệt sĩ chỉ còn là hình thức, thậm chí là sự báng bổ.”  – Vài nét về chiến trường Quảng Trị 1972 (Hiệu Minh). – Bức thư “thiêng” ở Thành cổ Quảng Trị (Infonet).  – Một [...]

  17. nguyenquanglap says:

    Cảm ơn bác đã thông báo.Nếu vào Quê choa bị chặn thì bác vào Link này nhé, bấm vào đây: https://mycreate-proxy.appspot.com/quechoa.vn
    Nhờ báo cho mmọi người cùng biết

  18. Triêu Dương says:

    Tôi vừa mới đi tham quan Thành Cổ Quảng Trị tháng trước, người hướng dẫn viên du lịch (anh ấy nhiều tuổi và hiểu rộng) chỉ nói ngắn gọn đó là “cối xay thịt người”. Đọc bài này của anh ich Due mới hiểu thêm, đau lòng thêm. Tôi cũng có một anh con bác ruột tham chiến ở đây (bên QĐND), vì bị thương do mảnh bom văng mà được rút ra nên sống sót tới ngày hôm nay. Anh ấy chẳng bao giờ kể với chúng tôi về những ngày tháng đó. Bây giờ thì tôi hiểu anh ấy muốn chôn vùi nó mãi, không muốn ký ức những ngày kinh hoàng đó quay trở lại. Giá như chính quyền xây đài tưởng niệm “Binh Sỹ Trận Vong” công bằng cho cả hai bên chiến tuyến, thì chắc nhiều triệu con người của VNCH di tản khắp toàn cầu hằn đã khép lại hận thù, hướng về quê hương chung sức chung lòng cho một nước Việt nam hùng mạnh. Nhưng không, hận thù vẫn còn dai dẳng lắm. Gần đây, bác Nguyễn Ngọc Ngạn ở Canada (thời chiến tranh đi lính bên VNCH) có phát biểu tư tưởng nhân văn trên Vietface TV, mà ngay lập tức bị người đồng ngũ (cũng lính bên VNCH) đăng đàn phản pháo thóa mạ (vào Youtube hoặc Google search “mạn đàm với nhà văn nguyễn ngọc ngạn” là ra ngay). Không biết bao giờ VN mình mới có một stateman có đủ tư tưởng nhân văn để hòa giải nỗi đau của triệu triệu người VN cả trong và ngoài nước, khắp toàn cầu này? Trước mắt là chưa thấy đâu cả. Than ôi …

  19. Tôm says:

    Tôi có một người thầy đã từng là lính chiến Quảng Trị, GS TSKH Phạm Thế Long.

  20. AQua says:

    A Qua cũng có cha là chiến sỹ thành cổ QT, ông hiện nay là thương binh còn A Qua sinh sau đẻ muộn không biết nhiều về cuộc chiến nên không dám lạm bàn về entry này chỉ có điều hồi tối ngồi xem chương trình kỷ niệm ngày TBLS trên VTV với ông nghe chị dẫn chương trình đọc mấy câu thơ này:
    “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
    Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
    Có tuổi hai mươi thành sóng nước
    Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”
    Thì cha A Qua nói theo ông thì bài thơ phải là thế này mới đúng:
    “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
    Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
    Có tuổi hai mươi thành sóng nước
    Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”
    Ông có giải thích với từ “lên” và từ “xuôi”, từ “bờ bãi” và “bờ mãi mãi”. Vậy qua đây các bác, các cô và anh chị có ai biết về mấy câu thơ trên xin giải thích giúp A Qua hiểu rỏ?
    Xin cảm ơn!

    • ich Due says:

      Xin đăng bài viết của tôi về bài thơ 4 câu của Lê Bá Dương để phần nào đáp ứng mong muốn của bạn Aqua.

      1. Về bản thảo ban đầu của bài thơ Đò lên Thạch Hãn

      Từ năm 1976, năm nào anh Lê Bá Dương cũng về Quảng Trị thăm viếng đồng đội đã hy sinh. Năm 1987, như mọi năm, Lê Bá Dương về lại Quảng Trị, vào chợ mua hoa. Trước đây anh chỉ hái hoa dại, hoa rừng. Năm 87, lần đầu tiên anh mua hoa ở chợ. Xuống sát mép sông Thạch Hãn anh gặp một bà thuyền chài. Anh bảo: – Mệ cho con đi thuyền dọc sông một vài tiếng, hết bao tiền con trả. Bà cụ đồng ý 8 ngàn đồng một tiếng. Anh ngồi thuyền thả hoa trên sông, nước mắt nhạt nhòa. Bà cụ không nói gì, nhìn anh thả hoa và lặng lẽ chèo đều đặn. 4 tiếng sau, anh bảo 8 ngàn/1 giờ, 4 giờ con trả mệ 50 ngàn. Bà cụ quỳ xuống, khóc nói: – Mi làm rứa sao mệ dám lấy tiền của mi!

      Chào mẹ, anh lên bờ, ngồi bó gối nhìn dòng sông. Hoa vừa thả dập dờn trôi theo dòng nước. Anh miên man nghĩ: Anh em đang nằm dưới sông, bập bềnh theo những cánh hoa. Có cái thuyền máy chạy ngược lên, bọt nước khua trắng. Tự nhiên nước mắt anh ứa ra. Trong đầu anh hình thành những vần thơ. Nguyên văn ban đầu là:

      Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
      Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
      Tan chợ chiều xuôi đò có vội
      Xin, xin đừng khuấy đục dòng trong

      Lời bình:

      Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ- đó là lời thỉnh cầu của người cựu chiến binh đối với những ai đi lại trên dòng sông này. Dưới đáy sông các bạn tôi đang yên nghỉ, xin đừng khuấy động. Hãy để cho các bạn của tôi ngủ yên!

      Mọi người qua đây là qua một nơi linh thiêng. Biết bao chàng trai của đất Việt đã nằm xuống tại dòng sông này. Hãy dành những phút giây lắng đọng bên họ. Có vội, có vội đến mấy cũng xin nhớ rằng, rất nhiều, rất nhiều đồng đội tôi đang nằm dưới đó. Đừng làm gì khuấy đục dòng trong của con sông đã ôm ấp đồng đội của tôi vào lòng đất mẹ.

      Phải chăng cuộc đời như một phiên chợ chiều? Người ta cứ vội vội vàng vàng bán mua? Anh thỉnh cầu, anh tha thiết mong muốn những người sống trên mảnh đất này đừng khuấy đục dòng đời. Anh dùng hai lần từ “xin” trong một câu thơ. Ai đó khuấy đục dòng đời là có tội với những người đã ngã xuống cho đất nước có hòa bình, tự do hôm nay.

      Phải chăng, đây chính là những điều mà Lê Bá Dương muốn chia sẻ với chúng ta. Bởi vậy, bản thảo đầu tiên của bài thơ Đò lên Thạch Hãn đã là một bài thơ rất hay. Nó có giá trị riêng của nó.

      2. Bài thơ Đò lên Thạch Hãn đã được tác giả sửa theo gợi ý của bạn bè

      Lê Bá Dương đọc bài thơ Đò lên Thạch Hãn cho các anh Thế Vũ, Đỗ Kim Cuông nghe. Các anh ấy rất thích bài thơ này, đồng thời có góp ý và khuyên Lê Bá Dương sửa lại để đăng báo. Lê Bá Dương đã sửa và chúng ta có bản cuối cùng của bài thơ như sau:

      Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
      Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
      Có tuổi hai mươi thành sóng nước
      Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.
      \
      Lời bình:

      So với bản ban đầu, ở câu đầu từ “xin” được thay bằng từ “ơi”. Câu thứ hai vẫn giữ nguyên. Hai câu cuối được thay mới hoàn toàn.
      Trong câu thứ nhất, từ “ơi” là thán từ. Ơi gắn với gọi đò. Ở nhiều địa phương, dân ta vẫn gọi: Ơi… đò, bớ… đò! Tiếng gọi vang vọng trên mênh man sóng nước. Tiếng gọi trôi theo dòng sông. Trong bản ban đầu tác giả dùng từ “xin”. “Xin” thể hiện sự mong ước về sự tĩnh lặng. “Ơi” thể hiện sự lan tỏa theo không gian, theo thời gian. Ơi… đò, bớ người vang vọng mãi một lời nhắc nhở Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

      Có tuổi hai mươi thành sóng nước- một câu thơ đau đáu. Một câu thơ làm thổn thức trái tim tôi. Tôi nhớ đến cả một thế hệ “tuổi hào hoa ra trận”. Cả một thế hệ mười tám đôi mươi rời ghế trường phổ thông, trường đại học xung trận. Được huấn luyện cấp tốc 2- 3 tháng, biết bắn là xuất quân. Vào trận bắn xong, chưa biết tránh làn đạn bắn trả. Lóng nga lóng ngóng. Lính mới toe mà. Có anh chưa kịp bắn một viên đạn nào đã hy sinh. Vượt qua sông không bị thương, không hy sinh đã là có chiến tích rồi. Giáp mặt với đối phương- hy sinh. Đi lấy gạo, lấy đạn- hy sinh. Đi hái rau- hy sinh. Đi chôn cất đồng đội- hy sinh. Đưa đồng đội bị thương về tuyến sau- hy sinh… Cả một thế hệ tuổi đôi mươi ra đi không về với Mẹ. Các anh không bao giờ già như tôi, như các chị các anh. Các anh “mãi mãi tuổi hai mươi”!

      Thế rồi tuổi hai mươi của các anh thành sóng nước. Dòng sông thực dường như không thấy nữa. Ta thấy một dòng sông tâm linh của tuổi trẻ, của tình yêu bất diệt đang chảy hiền hòa, đang vỗ về những người mẹ, người cha, người vợ ngày đêm trông ngóng. Ở tầm rộng lớn hơn, những sóng nước ấy ôm ấp, giữ gìn đất nước này, vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

      Hai câu thơ mới Có tuổi hai mươi thành sóng nước/Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm có sức khái quát rất cao. Một thế hệ đã hy sinh vì sự trường tồn của đất nước. Tổ quốc và mỗi người chúng ta mãi mãi biết ơn các anh!

      3. Những dị bản
      Bài thơ của cựu chiến binh Lê Bá Dương rất nổi tiếng. Có lẽ vì vậy nó trở thành của mọi người. Nhiều người đã thuộc bài thơ theo cảm nhận của mình nên có nhiều dị bản.

      + Dị bản 1:

      Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
      Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
      Có tuổi hai mươi thành sóng nước
      Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.

      + Dị bản 2:

      Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
      Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
      Có tuổi hai mươi thành sóng nước
      Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.

      + Dị bản 3:

      Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
      Đáy sông còn có bạn tôi nằm.
      Có tuổi hai mươi thành sóng nước
      Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm…

      + Dị bản 4:

      Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
      Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
      Có tuổi đôi mươi hòa sóng nước
      Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.

      + Bản khắc đá bên dòng sông Thạch Hãn:

      Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
      Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
      Có tuổi hai mươi thành sóng nước
      Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.

    • Xôi Thịt says:

      Bác A Qua xem thêm bài của nhà thơ Văn Công Hùng

      http://vanconghung.vnweblogs.com/post/1026/29008

  21. TRỰC NGÔN_ABS says:

    Hôm nay kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ của Nhà nước Việt Nam. Tôi – một người có ba người bạn đồng khóa nằm rải rác ở Quảng Trị ( không phải chiến trận năm 1972 mà năm 1974), Ban Mê Thuộc và cầu Sài Gòn năm 1975. Hôm nay tôi không muốn bàn về chiến tranh. Mà tôi xin tác giả bài viết là cựu quân nhân QĐND Ích Duệ, cho tôi được thắp ba nén nhang ở đây.

    Tôi xin tưởng nhớ đến gần 2,4 triệu quân dân cán chính miền Bắc đã vì lý tưởng mà hy sinh từ thời toàn dân kháng Pháp, cho đến cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt với đồng bào miền Nam.

    Tôi thành kính tưởng niệm đến gần 300 ngàn sĩ quan, binh sĩ miền Nam đã bỏ mình trong hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ để bảo vệ thế giới tự do ở miền Nam. Các anh đã ra đi từ Khe Sanh, Quảng Trị, Thượng Đức, Bình Long, An Lộc , Xuân Lộc và trận đánh cuối cùng ở đất Sài Gòn. Dù đến hôm nay, không còn ngày Chiến sĩ Trận Vong nào cho các anh nữa.

    Tôi cũng tưởng nhớ đến trên 55 ngàn bộ đội nhân dân đã nằm xuống ở xứ Cam -Pu –Chia để cứu vớt một dân tộc đang diệt vong. Trong đó có hàng chục ngàn nam thanh nữ tú của miền Nam, đã vĩnh viễn ở lại trên các mặt trận 479,779, Xiêm- Rệp, Bat –Tam- Bong…

    Tôi xin tưởng niệm đến hàng chục ngàn cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân đã quên thân mình ở trận chiến biên giới phía Bắc năm 1979, từ Lạng Sơn, Cao Bằng cho đến Lào Cai.

    Tôi đặc biệt thành kính tưởng nhớ 74 sĩ quan, chiến sĩ Hải quân VNCH đã nằm xuống ở Hoàng Sa 1974. Cũng như 68 cán bộ , chiến sĩ Hải quân QĐNDVN đã không về từ trận chiến đảo Gạc- Ma năm 1988.

    Tôi biết rằng ở cõi trung giới xa xăm ấy, tâm thức các anh không còn sự hận thù, không còn phân biệt ý thức hệ. Dù ở bên nào của hai bờ sông Bến Hải, tất cả các anh đã làm tròn bổn phận của người trai thời chiến, lấy máu xương mình vùi đắp cho lý tưởng của quốc gia.Trong sự linh thiêng của thế giới tâm linh, sẽ không còn cây súng AK chỉa vào cây súng AR16, sẽ không có người lính này mạt sát người lính kia là “ ngụy”, sỉ quan nọ mắng sĩ quan kia là “ quỷ đỏ”, vì các anh cùng chung một bọc Âu Cơ, một dòng máu Lạc Hồng.
    Phải chi những người đang cầm quyền có học và có đọc câu chuyện giữa tướng Robert E Lee- chỉ huy phía Nam quân và tướng Ulysses Grant – chỉ huy phía Bắc quân trong cuộc nội chiến Nam- Bắc Mỹ. Họ sẽ biết cách xóa bỏ hận thù, sẽ tổ chức một ngày kỷ niệm Trận Vong cho tất cả liệt sĩ và Tử sĩ của hai miền Việt Nam.
    Tiếc thay, nhà cầm quyền lại học theo gương Tần Thủy Hoàng, cho lệnh truy sát 40 vạn quân Triệu khi họ đã đầu hàng.
    Và trong những ngày lễ lạt vừa qua, nhà cầm quyền chỉ long trọng kỷ niệm và hướng về liệt sĩ QĐND VN đã hy sinh trong hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Còn liệt sĩ chống bành trướng và chế độ Polpot… dường như bị lãng quên! Nói gì đến những người anh em chung máu đỏ da vàng ở miền Nam xưa kia.

    Thôi thì tôi xin tất cả những người lính của hai miền Nam- Bắc, đã nằm xuống trong tất cả trận chiến đã qua, hãy linh thiêng một lần nữa. Xin các anh hiển nộ uy linh, cho đất nước Việt Nam sạch bóng những kẻ tham nhũng hại dân và lăm le bán nước. Xin phù trợ cho dân tộc Việt Nam vượt qua những cơn sóng dữ ở Biển Đông, của bọn cướp nước từ phương Bắc.
    Một lần nữa, thắp ba nén nhang tưởng niệm đến tất cả các anh.

    P/S : ông Ích Duệ nếu không hài lòng, xin ông xóa bỏ comment này.

    • Ích Duệ says:

      Tôi hoàn toàn chia sẻ với Trực Ngôn về comment thấm đậm tình yêu thương, sự biết ơn và hòa giải dân tộc. Tất cả các bạn hãy cùng Trực Ngôn và tôi thắp các nén nhang tưởng niệm những người đã ngã xuống trên mảnh đất này!

    • Kim Dung says:

      Quý trọng cả bác Trực Ngôn_ABS và bác Ích Duệ!

    • Còm sĩ GẠO says:

      Đây chính là nét giá trị nhân văn riêng tạo ra Cua Times.

  22. Hà Thiên Hậu says:

    Cảm ơn bác Ích Duệ về entry này. Nghe nói bác cũng 1 Tổng quản của 1 trang web nào đó? Xin bật mí cho bà con biết.

    Trong Cầu truyền hình “Bản hùng ca bất diệt” về Quảng trị hôm qua, Nhà văn Chu Lai phải chua xót thốt lên thật đau đớn:

    “Chẳng có một Dân tộc nào, một Quốc gia nào trên Thế giới này mà:

    – Không có một tỉnh nào lại không có một nghĩa trang liệt sỹ,
    – Không có một huyện nào lại không có một Bà Mẹ Việt nam Anh Hùng,
    – Không có một làng quê nào lại không có một tấm bia mộ liệt sỹ,
    – Không có một gia đình nào lại không có một bộ quân phục trên bàn thờ hoặc được cất cẩn thận trong rương (cái tủ).

    Cuối cùng ông kết luận cũng thật xót xa và đau thương :”Có một kỷ lục mà không một dân tộc nào, một quốc gia nào muốn lập và lưu giữ đó là Kỷ lục về sự đau thương và mất mát như Dân tộc Việt nam chúng ta”!

    Không hiểu những Nhà lãnh đạo đất nước này xem xong thì họ suy nghĩ gì? Mà chẳng biết họ có xem không? Chỉ mong sao họ hiểu được bốn chữ “Tổ quốc Ghi công” có nghĩa là gì khi đang trong trạng thái để :”Trung…Quốc ghi công”. “Rê thứ” lũ…chó. Xin lỗi phải vì chửi 1 câu cho bõ tức.

    PS. Chào mừng bác Quý Vũ đã trở lại và tham gia còm nhiệt tình.
    Mong rằng mọi việc tốt đẹp đến với bác, gia đình và phu nhân.

    • Minh Duong says:

      Em cũng đang hỏi giống bác HTH đây.
      Chúng nó còn bận ĂN bác ạ. Chúng sẽ chết sớm vì bội thực, ăn tạp trên sự đói/ đau khổ của nhân dân.

    • Quý Vũ says:

      Cám ơn bác HTH rất nhiều, một lần nữa, xin được chào và chúc sức khỏe cả nhà!!!

  23. Sóc says:

    Sóc xin phép post một số đoạn trong bài ” Chiến tranh năm 1979 và cuộc đấu trí cân não giữa Trung Quốc – Việt Nam – Hoa Kỳ” của “nhà Sóc” sưu tầm và viết lại.
    Có các phần chính sau:
    – Quan hệ Trung – Việt trong lịch sử
    – Mục đích của Trung Quốc khi đánh vào VN
    – Diễn biến cuộc chiến , kết quả
    – Đánh giá
    – Phản ứng của quốc tê
    Nếu các bác thấy hay, thì Sóc sẽ gửi để chú HM đăng nha.
    ——Trích ______
    Tương quan lực lượng tham chiến
    Để tấn công Việt Nam, Trung Quốc sử dụng 9 Quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không. Lực lượng được huy động khoảng trên 40 vạn binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối và dàn tên lửa, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay sẵn sàng phía sau. Quân đội nam chinh đặt dưới sự thống lĩnh của hai tướng Hứa Thế Hữu và Dương Đắc Chí.
    Tướng Hứa Thế Hữu, tư lệnh Đại Quân khu Quảng Châu chỉ huy hướng tiến công vào vùng Đông Bắc Việt Nam với trọng điểm là Lạng Sơn và Cao Bằng. Tướng Dương Đắc Chí, tư lệnh Đại Quân khu Côn Minh đảm nhiệm hướng Tây Bắc với trọng điểm là Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai). Đây là đợt huy động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.
    Ngoài lực lượng quân chính quy, Trung Quốc còn huy động hàng chục vạn dân công và lực lượng dân binh ở các tỉnh biên giới để tải đồ tiếp tế, phục vụ, tải thương, hỗ trợ quân chính quy, phục vụ cho chiến dịch xâm lược. Tại Quảng Tây đã có đến 21 vạn dân phu được huy động. Về phân phối lực lượng của Trung Quốc: Hướng Lạng Sơn có Quân đoàn 43, 54, 55; hướng Cao Bằng có Quân đoàn 41, 42, 50; hướng Hoàng Liên Sơn có Quân đoàn 13, 14; hướng Lai Châu có Quân đoàn 11; hướng Quảng Ninh, Hà Tuyên (nay là Hà Giang) mỗi nơi cũng có từ 1 đến 2 sư đoàn. Tổng số khoảng 60-65 vạn người.
    Về phía Việt Nam, do phần lớn các Quân đoàn chính quy (3 trong số 4 Quân đoàn) đang chiến đấu ở Campuchia hoặc đóng ở miền Nam Việt Nam. Nên phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (chủ yếu là tân binh) của Quân khu I và II cùng các đơn vị bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an vũ trang (biên phòng), công an xung phong, du kích xã và dân quân – tự vệ.
    Lực lượng thiện chiến nhất của Việt Nam đóng ở biên giới Việt – Trung là Sư đoàn 3 (vốn là sư đoàn có truyền thống hào hùng, lập nhiều chiến công, thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, từng trải qua trăm trận, có kinh nghiệm và năng lực chiến đấu cao, được điều động từ miền Nam lên đóng tại Lạng Sơn để đề phòng bọn bá quyền) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa), ngoài ra còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu.
    Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng biên giới có khoảng 7 vạn quân, về sau được hai sư đoàn (327 và 337) từ tuyến sau lên Lạng Sơn tiếp viện. Lực lượng độc lập gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741. Quân đoàn 1 được xây dựng thành một phòng tuyến, thành những hàng rào phòng thủ đóng quanh Hà Nội, bảo vệ thủ đô, ngăn chận Trung Quốc tiến sâu vào vùng trung châu.
    Ngày 27 tháng 2, Quân đoàn 2 là chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động về để bảo vệ miền Bắc, đến ngày 5 tháng 3 bắt đầu triển khai trên hướng Lạng Sơn. Do 3 danh tướng Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Lê Trọng Tấn đều chỉ huy ở Campuchia chống Khmer Đỏ nên chiến dịch chống Trung Quốc lần này do 3 tướng Văn Tiến Dũng, Đàm Quang Trung, và Vũ Lập thống lĩnh.

    • Sóc says:

      Xâm lăng Việt Nam từ hai hướng
      Suốt thời gian này, Trung Quốc dần hiện nguyên hình, lộ chân tướng ngụy quân tử, đạo đức giả, từ chống Việt Nam một cách giấu mặt đến chống công khai. Những mưu đồ chống phá đó đều hiểm độc và đã gây khó khăn cho Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại, cho nên đầu năm 1979, Trung Quốc phải tính đến việc tấn công trực tiếp, xâm lược thẳng thừng Việt Nam từ hai phía.
      Phía Tây Nam, theo kế hoạch của Bắc Kinh, sau khi tập trung khoảng 20 vạn quân ở sát biên giới Việt – Miên, ngày 22 tháng 12 năm 1978, Pol Pot đã sử dụng những sư đoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất của họ, có xe tăng và pháo binh yểm trợ, đánh vào khu vực Bến Sỏi thuộc tỉnh Tây Ninh (cách TPHCM 100 km), với ý đồ đánh chiếm chớp nhoáng thị xã Tây Ninh, mở đường tiến sâu vào miền Nam Việt Nam, đồng thời làm suy yếu Việt Nam để quân Trung Quốc đánh vào Việt Nam từ phía Bắc.
      Việt Nam đã phản công mạnh mẽ và làm thất bại hoàn toàn kế hoạch quân sự đó. Đồng thời, tiến quân đánh thẳng vào và san bằng sào huyệt của giặc xâm lược, phá tan hang ổ của Pol Pot, lật đổ chế độ Khmer Đỏ, cứu người dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, tận diệt mầm mống xâm lược, ổn định lại biên giới Việt Nam – Campuchia, các tỉnh biên giới, và miền Nam VN, phá thế gọng kìm, thoát khỏi tình trạng “lưỡng đầu thọ địch”.
      Phía Bắc, Trung Quốc huy động hơn 50 vạn quân, gồm nhiều Quân đoàn và sư đoàn, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật với gần 800 xe tăng, hàng ngàn khẩu pháo, hàng trăm máy bay các loại của hầu hết các quân khu của Trung Quốc, phát động chiến tranh xâm lược tổng lực và toàn diện vào Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979 trên toàn tuyến biên giới.
      Để lừa gạt dư luận Trung Quốc và dư luận thế giới, những người cầm quyền Bắc Kinh đã tuyên bố rằng đấy chỉ là một cuộc “phản kích tự vệ”, một cuộc “Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam” (对越自卫还击战, Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) bằng những đơn vị biên phòng, nhiều tài liệu quốc tế đã cho thấy là có ít nhất 50 vạn quân, tài liệu của một số nước châu Âu như Tây Ban Nha, Hà Lan, Bồ Đào Nha và tài liệu của Liên Xô cũ và Nga ngày nay đều cho thấy là có từ 50 đến 60 vạn quân, nhưng trong tài liệu của Trung Quốc thì chỉ còn “20 vạn quân”.
      Sự thật đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng quân lực chính quy, bằng lực lượng chủ lực có tuyển chọn, tinh nhuệ, thiện chiến nhất từ hầu hết các quân khu của Trung Quốc, nhiều tướng lĩnh, sĩ quan có kinh nghiệm chiến đấu trong nội chiến Trung Quốc chống quân Quốc dân đảng và chiến tranh Triều Tiên chống liên quân Liên Hiệp Quốc do Mỹ cầm đầu. Ngoài ra có nhiều lão thành quân sự đã từng trải trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật chống phát xít, chống Tưởng Giới Thạch, chống quân phiệt, từng thân chinh bách chiến, thân trải trăm trận vào sinh ra tử trên các chiến trường Đại Lục và Triều Tiên, chống với nhiều quân đội khác nhau, trong đó có những người nguyên là thuộc cấp dưới trướng của danh tướng Bành Đức Hoài trước đây, cũng tham gia với vai trò cố vấn quân sự.
      Đây là một cuộc chiến tranh xâm lược được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, tỉ mỉ về các mặt, từ việc xây dựng những công trình quân sự, đường xá, hầm hào, sân bay dọc biên giới Việt – Trung đến việc vu cáo Việt Nam, phá hoại tình hữu nghị Việt – Trung, kích động tư tưởng đại dân tộc, tinh thần Đại Hán trong nhân dân Trung Quốc hòng biện bạch và che giấu hành động xâm lược. Về mặt đối ngoại, họ cũng chuẩn bị chu đáo, đặc biệt là họ đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược sau khi Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đi thăm Mỹ về, thực tế là sau khi tranh thủ được sự đồng tình của Mỹ và Nhật, một đàn em thân cận của Mỹ.
      Tướng Diệp Kiếm Anh của QGPNDTQ lúc đó vốn đang tranh giành quyền lực và có nhiều bất bình, bất đồng chính kiến với Đặng Tiểu Bình và chính sách cải cách, đã nói: Diệu võ dương oai đánh Việt Nam thì được gì? Không khác gì Gia Cát Lượng Bắc phạt Tư Mã Ý, đánh vào nơi nào và làm sao đánh thắng được? Chúng ta không thể đánh thắng một đội quân lưu động trong nhà của họ. Mỹ muốn báo thù Việt Nam bằng máu Trung Quốc. Không được dùng máu của người Trung Quốc để phục hận cho người Mỹ… Rất tiếc Đặng Tiểu Bình và đồng bọn hiếu chiến, hiếu thắng đã không nhận ra điều này và bỏ ngoài tai những lời can gián trung thực, ngay thẳng.
      Hai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mà Trung Quốc gây ra từ hai hướng là bước leo thang cao nhất trong cả một quá trình hành động tội ác chống lại sự độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam từ trước đến nay nhằm làm yếu, thôn tính và khuất phục Việt Nam. Trái với mọi tính toán của Bắc Kinh, cuộc chiến tranh xâm lược của họ đã thất bại thảm hại, đã bị toàn thế giới (trừ Mỹ và các đồng minh thân cận) lên án và một bộ phận nhân dân Trung Quốc phản đối. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, do bị tổn thất, thiệt hại, thương vong nặng nề, không còn đủ sức duy trì cuộc chiến, và nhìn thấy nhiều đơn vị khác của Việt Nam từ Campuchia quay về, từ miền Nam trùng trùng điệp điệp kéo ra Bắc, họ đành phải lui quân kịp thời trước khi quân bổ sung của Việt Nam tới nơi.

  24. Tantruonghung says:

    Nếu có được các bài viết khách quan đầy đủ về cuộc chiến biên giới năm 1979, vào bất cứ thời điểm nào chứ không chỉ vào dịp 27/7, thì tuyệt vời quá. Với tình hình này sẽ sớm có nhiều bài viết như vậy.
    Bài này của người trong cuộc viết khá khách quan(mặc dù còn một số “sạn” như các còm sỹ đã nêu) khác với cách viết tuyên truyền một chiều về cuộc chiến Quảng Trị 1972. Viết khách quan, đầy đủ là điều mà báo chí nước ngoài và báo chí của phía “bên kia” đã làm từ lâu mà phía “thắng” lại không làm. Những người ngã xuống chắc chắn không muốn sau này mọi người đưa mình lên báo nhưng những người còn sống phải có trách nhiệm viết về họ và tránh cho dân tộc phải họa binh đao.

  25. mai says:

    Bác ID “giải phóng” cho nhân dân QT mà dân QT bỏ chạy hết về phía Nam ôm chân đế quốc Mỹ, KHÔNG MỘT AI theo các bác ra xứ thiên đường xhcn cả. Chứng tỏ QT toàn dân trí thấp, 100% nghe theo lời “bọn thế lực thù địch”, “bọn” này quanh năm tuyên truyền trong dân miền Nam hình ảnh dân vô tôi ở Huế bị “chúng” chôn sống, xâu dây thép vào lòng bàn tay xô xuống sông v v… hồi tết MT rồi đổ thừa cho quân giải phóng. Híc, oan này đúng là oan Thị Mầu !

    • Ich Duệ says:

      Cám ơn bạn mai đã đọc và thể hiện ý kiến của mình về cuộc chiên đã qua.

  26. [...] thương binh, liệt sĩ chỉ còn là hình thức, thậm chí là sự báng bổ.”  – Vài nét về chiến trường Quảng Trị 1972 (Hiệu Minh). – Bức thư “thiêng” ở Thành cổ Quảng Trị (Infonet).  – Một [...]

  27. [...] +Vài nét về chiến trường Quảng Trị 1972 (Hiệu Minh):Chiến tranh thật khốc liệt. Biết bao máu xương người Việt của cả hai phía đã đổ trên mảnh đất này. [...]

  28. huu quan says:

    tuy là bài của bác Ích Duệ nhưng những comment của bác Tịt Tuốt cũng đều có những tư liệu đánh giá. đặc biệt là 2 bác ở 2 bên chiến tuyến giờ cùngtham gia còm trong hang moi hay. gia như hôm nào các bác tổ chức nhau thì hay hơn nữa

    • Ích Duệ says:

      Hôm qua và hôm nay ID va TT ngồi với nhau rồi. Sẽ tiiếp tục ngồi với nhau mà.

  29. mai says:

    “Thị xã Quảng Trị với 3 km2 và vùng ven có ngày phải chịu hơn hai vạn quả đạn đại bác cỡ lớn.” x 81 ngày = “9552.000 viên đạn pháo 105mm, 55.000 viên đạn pháo 155 mm, 8164 viên đạn pháo 175mm, hơn 615.000 viên đạn hải pháo, ”
    Bác nào rành IT giải dùm tui bài toán ni, huhu.

    • HỒ THƠM says:

      Tui không rành IT nhưng đang rãnh nên vác máy tính giúp bác Mai@ cấy nè :

      9.552.000 viên pháo 105 ly + 55.000 ( 155ly) + 8.164 (175ly) +615.000 viên hải pháo / 3000.000m2 = 3,41 quả đạn pháo /m2 .
      Vị chi cứ 1m2 của TX Quảng Trị lúc ấy ( 3km2) có hơn 3 quả đại pháo nổ . Vậy thì mặt đất Quảng Trị lúc ấy như …cái rổ ( có khi còn hơn ) chứ chẳng chơi !!!!.

      ( Không tính tiền công bác Mai nhé ! Hi hi… )

  30. mai says:

    Nói gì thì nói, chỉ 1 chữ “chúng” của tác giả làm cho bài viết công phu trở thành con số không to tướng! Tài liệu, con số… đều vô nghĩa.

  31. nicecowboy says:

    Cao bồi không thích bài này. Mặc dù tác giả đưa ra hầu hết là sự kiện, nhưng ít nhiều cũng có chủ kiến, vì chính tác giả đã viết “Tôi cũng có đưa ra một vài ý kiến cá nhân”

    Khi tác giả cũng tham gia vào cuộc chiến, và lúc đó đang ở một phía, ví dụ như cách viết “lính tráng chúng tôi” (quân đội Nhân dân VN), “chúng” (quân đội Việt nam cộng hòa)… thì dù vô tình hay hữu ý cũng sẽ làm cho những người đọc phiá khác có cảm giác không công bằng, khó chịu, như vài bạn còm sĩ đã nêu lên.

    Giả sử như một số cựu chiến binh VNCH muốn viết lại câu chuyện Tết Mậu Thân tại Huế để tưởng nhớ lại hàng nghìn chiến sĩ, người dân đã chết oan uổng vào lúc đó ? bài viết như vậy sẽ bị cho là không thích hợp nhân ngày TBLS này.

    Theo Cao bồi, để có bài viết kỷ niệm ngày TBLS, chủ blog phải rất cẩn trọng vì đây là blog đa chiều. Phải chăng nếu cần bài viết , thì tốt nhất là viết về những thương binh liệt sĩ đã hy sinh trong chiến tranh với Trung Cộng.

    Bởi vì, đây là những câu chuyện lịch sử gần nhất, đáng quan tâm nhất. Bởi vì, họ là thương binh liệt sĩ trong một cuộc chiến mà toàn dân VN đều có chung một kẻ thù, không phân biệt Nam Bắc. Bởi vì, những người lính VN tham gia cuộc chiến chống TQ đã có thể hoàn toàn hảnh diện, tự hào vì đã hy sinh đóng góp vào trong cuộc chiến chính nghĩa, chứ không phải vài chục năm sau lại phải ray rứt, ân hận, tự hỏi có phải mình đã tham gia vào một cuộc chiến tranh chính đáng, có ý nghĩa hay cuộc chiến phi lý ?

    • Cua đồng says:

      Nếu viết về 1979 thì có người lại tuýt còi.Ngày trước có bác Ma Văn Kháng viết hay đáo để.

    • Ích Duệ says:

      nicecowboy thể hiện quan điểm của mình rất rõ ràng. Đó là quyền của bạn.

      • nicecowboy says:

        Bác ID có cách tiếp thu và trả lời rất sòng phẳng, đúng đắn. Khâm phục.

  32. Đinh Kim Phúc says:

    Có một chi tiết về 81 ngày đêm ở Quảng Trị: Không có sự quyết định sáng suốt của Chính ủy Lê Quang Đạo và Tư lệnh Lê Trọng Tấn thì ngày nay không có UV BCT Đinh Thế Huynh.

  33. KTS Trần Thanh Vân says:

    Entry khô khan này được thêm phần sống động nhờ các comments mang nhiều thông tin bí mật về quan hệ giữa Liên Xô – Trung Quốc lợi dụng Việt Nam đánh Mỹ của bác Tịt Tuốt và các bài thơ tình lâm ly của nàng Kim Dung.xen vào.

    Tuy vậy, đã là comments thì chỉ là những lời bình luận hoặc các đoạn tin vụn vặt, chưa lột tả hết mọi vấn đề.
    Ví dụ như mối quan hệ giữa Lâm Bưu và Liên Xô cùng cái chết bí ẩn của Lâm Bưu?
    Rồi Cuộc Đại cách mạng Văn Hóa?
    Rồi cái chết tức tưởi của Lưu Thiếu Kỳ ở trong tù?….
    Rồi những cuộc thanh trừng nội bộ và sự nổi lên lộng quyền của “Bè lũ bốn tên” do bà Giang Thanh vợ bé của ông Mao Trạch Đông cầm đầu?
    Rồi từng nhóm, từng nhóm lưu học sinh Việt Nam đang học các ngành khoa học xã hội ở Liên Xô bị đưa về nước học nốt đại học ở trong nước rồi đưa đi chiến trường Miền Nam để cải tạo như cải tạo những đối tượng nhiễm tư tưởng xét lại?

    Những năm tháng đó tôi ở Thượng Hải, là sinh viên ấu trĩ, tôi chẳng hiểu biết gì, nhưng tôi được
    chứng kiến khá nhiều và vốn dĩ là người cũng nhậy cảm và thông minh ( xin tự khen như thế ) khi tôi thấy người Việt Nam gọi Liên Xô là “Bọn xét lại” và Trung Quốc là “Những kẻ giáo điều”…..dần dần tôi ngờ ngợ hiểu ra một số sự thật đâu lòng.

    Rất tiếc
    Những năm tháng đó tuy rất ngờ nghệch về chính trị mà tôi đã hiểu ra được nhiều điều, thế mà những người làm chính trị nòi họ vẫn bị chính sách ngu dân của TQ đầu độc cho đến tận ngày nay.

    • nicecowboy says:

      Được biết chồng chị Vân bệnh ung thư rất nặng. Mong bệnh của anh nhà có thể được điều trị tốt.

      • KTS Trần Thanh Vân says:

        Cám ơn chàng Chăn bò đẹp chai.
        Chúng tôi đang phấn đấu giành lại sự sống từ tay thần chết.

        • AQua says:

          Xin gửi lời chia sẽ với hai bác. Mong bác trai có sức khỏe để điều trị và khống chế bệnh tốt.

  34. Hoài Hương says:

    HM thân yêu!
    HH không đọc hết câu cuối sau cái entry của bác ID, nên lại post cái bài giới thiệu cuốn sách Một thời Quảng Trị. Có gì HM delete bớt cho nó đỡ choán chỗ nhà HM nhé.
    IU iu iu iu…

  35. Hoài Hương says:

    HH đã đến vùng đất chiến trường Quảng Trị nhiều lần. Và hiện đang ở đó. HH muốn qua blog HM để gửi mọi người nếu có điều kiện, tìm đọc một cuốn sách- gần như Nhật ký chiến trường Quảng Trị(phe bên này) do một vị tướng trận viết.

    Một thời Quảng Trị – Lời tri ân với đồng đội và nhân dân Quảng Trị

    Hồi ức “Một thời Quảng Trị” – Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 6.2008,của Thượng tướng TS. Nguyễn Huy Hiệu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Anh hùng LLVT. Do Đại tá, nhà báo Lê Hải Triều chấp bút.

    HH có nhờ HM đăng trên blot trong entry tới. Thanks.

  36. D.Nhật Lê says:

    Cám ơn bác Tịt Tuốt về bài viết của Cựu Tù,dù không chính xác hoàn toàn nhưng khá gần với
    sự thực.Có điều đáng tiếc là vài nhận định sai lầm cần được xét lại thì bài viết sẽ thuyết phục hơn rất nhiều,nhất là đoạn tác giả thêm vào một số ý kiến của người thuyết trình trong trại cải
    tạo Nam Hà lúc tác giả “học tập” ở đó.
    Tôi chỉ vắn tắt nêu ra 1,2 sai lầm có trong bài viết.Đó là sự có mặt của 320,000 quân TQ.những
    năm 1966-1970,chứ không phải như lời người thuyết trình nói là miền Bắc không muốn quânTQ.
    vào mà mắc nợ…máu.”China admits more 300,000 troups fought in Vietnam” (Reuters). Đó là
    chưa kể 10 ngàn quân Liên Xô,3 ngàn quân Cuba,300 quân Bắc TT.v.v.
    “Ai thắng ai” không phải là câu nói khích mà chính là “chiến lược” GPMN.của ông Lê Duẫn .

    • Tantruonghung says:

      Tác giả khái niệm “Ai thắng ai” không phải là Lê Duẩn. Khởi đầu của khái niệm này(do các những người Markxit nêu ra)chỉ cuộc chiến của 2 hệ thống TBCN và XHCH trên phạm vi toàn thế giới. Sau này khái niệm này được người cộng sản coi là thách thức của CNXH đối với CNTB mà phần thắng chắc chắn sẽ về CNXH.

      • D.Nhật Lê says:

        Cám ơn bác Tantruonghung về khẩu hiệu “Ai thắng ai”.Sở dĩ tôi nói
        của ông Lê Duẫn là vì trong nhiều bài viết của ông này mà tôi được
        đọc thì ông ta hay nhắc đi nhắc lại khẩu hiệu trên rất nhiều lần, nên
        tôi xem 3 chữ đó như “bản quyền” của ông ta.Đặc biệt đề sách của
        ông thì rất…dài dòng văn tự,chẳng hạn như “Dưới bóng cờ vẻ vang
        của Đảng,nhân dân ta nhất định giải phóng miền Nam,xây dựng CN
        XH.thành công” (có thể không chính xác lắm nhưng dài như thế đó).

        • Tantruonghung says:

          Tựa đề cuốn sách đó là Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng: vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới.
          Bác D. Nhật Lệ viết “Dưới bóng cờ…” là còn xa cờ lắm nên không nhớ là phải. Tụi tôi cả tuổi thanh xuân “học” các tác phẩm này mà toàn hiểu ngược lại. Cuối những năm 80, đầu những năm 90 cả thế giới hiểu “ai thắng ai” rồi, vì lý do gì mà một số người không hiểu nên dân VN còn vất vả!

  37. Quý Vũ says:

    Trong bài, bác ID có nói đến “Trung đoàn Triệu Hải (tên của hai huyện đồng bằng Quảng Trị ghép lại)….”. Xin được viết thêm, đó là tên ghép của 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng của Quảng Trị.

    Ở huyện Triệu Phong, ngay trên Quốc Lộ 1A, có cầu Ái Tử và ở đây có câu:

    Mẹ thương con ra cầu Ái Tử
    Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu

    Thương con = Ái Tử
    Trông chồng = Vọng Phu

    • Quý Vũ says:

      Tôi viết comment này sao không thấy bác nào chia sẻ.

      Chỉ 81 ngày đêm, 62000 ngàn thanh niên trai tráng của VN đã ngã xuống, Cũng chừng đó, 62000 bà mẹ khóc thương con và bao nhiêu người vợ trông chồng. Chắc là chưa đủ cho những bác nào giờ này còn nói chuyện hơn thua.

      • Sóc says:

        Sóc chia sẻ cùng bác Quý Vũ nha, Sóc phá rào hôm nay thôi. Vừa ở bệnh viện về, và vào nhà chú HM đọc, cảm thấy “nguy hiểm” nên nhảy tót vào chiếu trên của các bác, xin phép được nói vài dòng.

        Trên cộng đồng mạng của ng Việt hiện nay, blog chú HM có lẽ là một trong những blog hiếm hoi tương đối có thông tin đa chiều, ở chừng mực tương đối khách quan, hòa thuận, hữu hảo, vui vẻ, nhẹ nhàng, có đủ thành phần trong và ngoài nước. Và điều đó làm nên giá trị của Cua Times. Blog này thật sự không chỉ là tài sản của riêng chú Tổng Cua, mà là tài sản của chung. Nói vậy, chú HM không biết có giận không?

        Sóc con nhà cộng sản, từ khi kiếm được tiền đến giờ, hầu như năm nào cũng có mặt ở miền Trung. Tận mắt thấy hậu quả của cuộc chiến, vì sinh sau đẻ muộn nên không tận mắt thấy cuộc chiến, cũng đủ đau đớn rồi. Nên hôm rồi, tự dưng nổi nóng phừng phừng với Minh Dương, khi hắn vào bênh thần tượng của hắn là bạn Huỳnh Thục Vy. Nên Sóc cũng hiểu ngay là sẽ có những bác ở đang nóng phừng phừng khi bị gọi là ” chúng”, khi nhớ đến đồng đội ” bị tiêu diệt”.

        Nóng là còn nói nhẹ nhàng, thật ra phải gọi bằng một từ khác đau hơn.
        Trước mặt chúng ta không phải Mỹ đế quốc , hay Ngụy, hay Việt Cộng….
        Trước mặt chúng ta là Trung Quốc đang hiếu chiến lăm le.
        Hôm nay ngày 27-7, ngày các thương binh liệt sĩ, của QĐND VN. Sóc luôn nhớ ngày này, và từng làm những clip cho ngày này, nhưng Sóc vẫn ước ao, có một ngày, sẽ có thêm ngày tưởng niệm tất cả cho những người đã ngã xuống trong trận chiến. Ko phân biệt VNCH hay VNDCCH. Sẽ có một bức tường ghi danh cho tất cả.

        Các bác hãy cùng nhau giữ gìn ngôi nhà chung này.
        Có bác kêu gọi cần một tư liệu về cuộc chiến chống Trung Quốc năm 79, Sóc xin phép được post một vài đoạn trong một bài dài, do nhà Sóc sưu tập. Nếu các bác thấy ưng, Sóc sẽ post hết. Sóc post hôm nay để tưởng nhớ các người con của Việt Nam đã hy sinh giữ gìn đất nước, nhân ngày 27-7.

        Cuối cùng, Sóc xin được tặng riêng bác Ích Duệ clip này Sóc làm khi mới tập tành làm clip. Nên nó rất mờ, không chất lượng. Nhưng cháu hy vọng bác sẽ cảm nhận được tình cảm của cháu trong đó.

      • Ích Duệ says:

        Quý Vũ ơi! Thật đau thương, xót xa khi chỉ trong một thời gian ngắn trên 6 vạn con người bị tước quyền sống!

        • Quý Vũ says:

          Dạ đúng vậy bác Ích Duệ. Mình cứ hình dung, mỗi ngày một đoàn tàu lửa 10 toa, đầy kín người, ra chiến trường và không 1 người trở lại. Điều đó lặp lại 81 ngày đêm như vậy.

  38. Tan says:

    Huỳnh Nhật Hải & Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Một tài liệu đáng đọc.

    • D.Nhật Lê says:

      Tôi thấy câu này của 1 trong 2 anh em họ Huỳnh là sâu sắc
      nhất về mặt nhận thức luận :
      Làm cách mạng không phải là dựng lên một nhà nước độc tài !

  39. [...] Quảng Trị đồng loạt thắp nến tri ân tại 72 nghĩa trang liệt sỹ (VOV).  – Vài nét về chiến trường Quảng Trị 1972 (Hiệu [...]

  40. truongdaily says:

    Kinh thật đó ha. Ngày mai là 27-2 roi. mỗi người hãy dành 10 phút để tưởng nhớ công lao của các thế hệ trước cho tao có ngày hôm nay.

  41. Lê Thanh says:

    Bác Ích Duệ có biết thông tin về Trung đoàn 271 (hình như có cả 271A và 271B) vào thời điểm sau 81 ngày đêm (tháng 11/1972), cho cháu biết với. Cháu có người bố hy sinh ghi trong giấy báo tử ngày 08/11/1972, đơn vị TĐ 271B, đến nay vẫn chưa biết mộ chí ở đâu, danh sách các nghĩa trang cũng không có.
    Cháu xin cám ơn Bác !

  42. nhan dan says:

    Cuoc chien nao cung chi co Nhan Dan thua !

  43. Còm sĩ gạo says:

    Bác Ích Duệ viết chân thành với tấm lòng của 1 chứng nhân lịch sử thật. Ngược lại ông Tịt Tuốt thì cố tình chiếm nhiều tài nguyên của Hang quá. Các comment của ông này toàn copy/ paste tại: http://www.greenspun.com/bboard/q-and-a-fetch-msg.tcl?msg_id=00COuL
    Thiết nghĩ các còm sĩ chúng ta nên có trách nhiệm tôn trọng bản quyền (hay sự thật) tức là đã tôn trọng chính mình. Nếu ko phải mình viết thì nên ghi rõ trích nguồn hoặc dẫn links.

    • Tịt Tuốt says:

      -Bài do một người bạn gởi cho trước đây, thấy có nhiều ý hay nên dán lên đây cho các bác tham khảo. Tên tác giả ở cuối bài. Xin lỗi vì hơi bận, phải chạy ra chạy vô blog, nên post bài đứt đoạn.

      – Xin lỗi chủ nhà vì chiếm dụng một cơ số đất khá lớn. Đôi lúc mình dán nguyên bài lên mà không post link bởi vì không biết nguồn nguyên thuỷ của bài, vả lại cũng muốn save bài lại ở đây trong trường hợp trang có nguồn nguyên thuỷ thay đổi thì link sẽ bị failed bạn đọc sẽ không đọc được.

      cám ơn còm nhắc nhở của bác anyway. :roll:

      • Quý Vũ says:

        hìhì, hay quên là bệnh kinh niên của tuổi già, mà nghe chị KD và DQ bảo bác Tịt đã…90!!!

        • Xôi Thịt says:

          Lão Tịt có kiến thức của ông 60, trên giường lại có sức mạnh của chàng 30, vậy tổng cộng là 90 ??? :)

        • Quý Vũ says:

          Không đâu bác Xôi, nghe giang hồ đồn đoán anh Tịt tuổi chỉ 30 còn trên giường thì hơn 60 tí tẹo……

      • Còm sĩ GẠO says:

        Ông Tịt Tuốt này chỉ vụng trèo, khéo chống. Nhưng vẫn có cái lý. Giỏi thật đấy!

  44. TC Bình says:

    Đọc về chiến tranh, buồn quá.
    Chiến tranh, bao nhiêu người đã phải chết…bao nhiêu người đã phải sống…
    Mời các bác coi hình Quảng Trị năm 1972:

    http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/sets/72157629827464387/with/7284034682/

    • ich Due says:

      Khiêng

      Quảng Trị
      Một chín bảy hai
      Mịt mù đạn bom
      Ngày này qua ngày khác
      Lần này qua lần khác
      Đồng đội bị thương
      Tôi khiêng ra Trạm phẫu
      Rồi có một ngày,
      đến lượt tôi “được” khiêng

      Hai đứa khiêng tôi, trở về đơn vị
      Bom B52 biến thành hư không

      Chúng mày ơi!
      Chúng mày ơi!
      Khiêng tao ra đây làm chi
      Để tao ở lại một mình
      Rồi đi…
      Ới, trời!

      • TC Bình says:

        Cho đến lúc chết đi.
        Những anh hùng tử sĩ.
        Trong đầu các anh, các chị.
        Có khi nào nghĩ?
        Đồng chí mình.
        Nhiều đứa biến thành sâu.
        Hồn các anh, các chị ở đâu.
        Hãy về mà báo oán.
        Vào lũ sâu.
        Vì chúng đang bán.
        Danh dự-Lương tâm-Lí tưởng-Tình-người.
        Hãy vật chết tươi.
        Những phường vô lại.
        Dùng đủ loại mĩ từ.
        Kêu như chuông như khánh.
        Nhưng là những cú đánh.
        Vào hạnh phúc dân mình.
        Các anh chị anh linh.
        Xin độ trì dân tộc.
        Diệt hết bầy sâu.
        Độc lập-Hùng cường.

  45. Dan says:

    Đến giờ mà tác giả còn gọi VNCH là “chúng” thì thật là uổng công độc giả đã đọc đoạn trước đó. TG bị brainwashed vẫn chưa gột được để chống Tàu.

    • ich Due says:

      Trích lại đoạn đã đưa vào bài: “Bộ Chính trị, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cho rằng, đây chính là thời điểm rất thích hợp để mở một trận đánh chính quy lớn, hợp đồng binh chủng vào lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam cộng hòa tại Mặt trận Quảng Trị, giáng cho chúng những đòn chí mạng”.
      Thưa bạn Dan: Ở đây tôi chỉ thông tin một cách khách quan cách viết, cách dùng từ trong các văn bản thời đó.

      • Quý Vũ says:

        Nhưng đoạn sau là của bác ID, vì bác không dẫn của ai:

        “……trên toàn bộ chiến trường Quảng Trị trong năm 1972 Quân đội nhân Việt Nam đã tiêu diệt 26.000 quân của quân đội của chính quyền Sài Gòn…….”

        Bác ID bảo rằng: “Thưa bạn Dan: Ở đây tôi chỉ thông tin một cách khách quan cách viết, cách dùng từ trong các văn bản thời đó” là không hợp lý, bởi đầu bài bác đã viết:

        “Biết bao máu xương người Việt của cả hai phía đã đổ trên mảnh đất này. Viết lại những dòng này để chúng ta biết thêm về cuộc chiến mà cả hai cùng tuyên bố chiến thắng. Và nếu có thể, trong tương lai, đừng có thêm những “81 ngày đêm” kia nữa.”

        Điều đó có nghĩa: bài viết này phải mang hơi thở của hiện tại, với cái nhìn của một người viết sử và cái tâm để hòa giải nỗi đau chiến tranh của bên này, bên kia.

        • Ích Duệ says:

          Cám ơn bạn Quý Vũ về những đánh giá, nhận xét và góp ý của bạn.

      • Hồ Tại Thiên says:

        Tác giả là một người lính may mắn không hy sinh trong “Mùa hè đỏ lửa”, do đó ta không thể đòi hỏi một lối viết như của một người hoàn toàn ngoài cuộc.
        Trong mạng nầy thử hỏi có mấy ai có ý kiến trung dung?

        Hòa hợp hòa giải không có nghĩa là chối bỏ lịch sử nhất là lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc. Những đúng sai trong cuộc chiến đó phải được nhìn nhận lại dưới nhãn quan mới nhưng nhất định không phải là cách phủ nhận một bên.

        • Quý Vũ says:

          “Hòa hợp hòa giải không có nghĩa là chối bỏ lịch sử nhất là lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc”

          Câu này thuộc dạng chính thống và nghe quen quá, tôi đồ rằng không phải của bác nên không bàn thêm với bác câu này.

          “Những đúng sai trong cuộc chiến đó phải được nhìn nhận lại dưới nhãn quan mới nhưng nhất định không phải là cách phủ nhận một bên”

          Bác chỉ ra giúp chỗ “phủ nhận một bên” trong còm của tôi hoặc của bác Dan. Cám ơn bác HTT!

        • phongnguyen says:

          “Tiêu chuẩn kép trong cuộc sống có thể nói hầu như là bản chất của con người, theo kiểu: ai bỏ ta để đi theo người khác là kẻ phản bội, còn ai bỏ kẻ khác mà theo ta là người hoàn lương. Phải là một người, một chính quyền thật bản lảnh, tự tin để tuân theo một tiêu chuẩn khách quan.” (Copy lại một comment mà tôi đã viết trong một entry trước đây).

          Không biết có lầm không, chứ tôi nhớ hầu như chưa bao giờ các còm sĩ, tạm gọi là phe bên kia, viết về quân Bắc Việt trong cuộc chiến VN mà gọi họ là “thằng” hoặc “chúng” cả.

        • Hồ Tại Thiên says:

          Chào bác Quý Vũ!

          Cả hai câu bác trích dẫn chữ nghiêng xét cho cùng là mọi người nghe cũng nhiều rồi, quen lắm, chứ ko riêng gì câu thứ nhất đâu. Và có người chịu, có người không chịu được thôi chứ không phải tôi reply riêng bác. (Sao bác nghĩ “phủ nhận một bên” là bên nớ chứ không có bên ni?).

          Điều chính trong còm trên của tôi là tôi muốn chia sẻ với bác Ích Duệ ở đoạn đầu. Thank bác!

        • Ích Duệ says:

          Đúng, tôi là người may mắn. Đồng thời tôi cũng là người không bình thường. Tôi đã chết nhiều lần rồi mới phải. Nhiều lúc tôi vẫn ngỡ ngàng:- Mình đang ngồi đây ư? Còn bao người khác đâu rồi?

        • Hồ Tại Thiên says:

          Ngày 16 tháng 3 năm 1968 chỉ một chút hên mà giờ tôi mới còn lên mạng nọ kia. Chiến tranh mà. Thắng hay thua có nghĩa lý gì.( Ko phải ngày Thương binh Liệt sỹ nhưng vào Gúc gõ Sơn Mỹ thì biết đó là ngày gì)

  46. Tịt Tuốt says:

    AI THẮNG AI?

    Ai đã từng đi qua các trại cải tạo tập trung đều đã thấm thía, nhức đầu với chương trình tẩy não của cộng sản. Nhiều người trong chúng ta lấy làm bực tức trước thách thức “ai thắng ai?” Theo cộng sản thì tư bản đã thua và cộng sản đã thắng trong cuộc chiến tại Việt Nam. Đúng! Có bại trận mới chui vào tù. Nhưng ức quá, vì một quân đội thiện chiến như chúng ta lại thua thì khó mà chấp nhận được. Nhất là quân chủng chúng ta được xếp vào hàng thứ ba hay thứ tư trên thế giới, nói về số lượng phi cơ. Thế mà lại thua cho một quân đội chỉ có mấy chiếc MIG-21 và một số máy bay liên lạc hay huấn luyện của Bắc Việt. Đúng ra thì MIG-21 nằm trong tổ chức phòng không Không Quân, còn Không Quân Bắc Việt chỉ có máy bay huấn luyện và liên lạc. Rồi chúng ta tự tìm cách bào chữa, đổ lỗi cho Mỹ, người bạn đồng minh lại bỏ ta vào phút chót để bảo vệ danh dự quân đội mình. Trên bình diện chiến lược, chính quân đội Mỹ cũng đã hy sinh, huống hồ gì một nước nhược tiểu như VNCH. Nhưng điều mà mọi người trong chúng ta phải ngậm đắng nuốt cay là đóng vai kẻ chiến bại, để mặc tình cho kẻ chiến thắng mắng nhiếc “ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc”. Gia đình chúng ta đã phải chịu bao nhiêu nhọc nhằn, là “gia đình đau khổ”, con cái phải xả thân đi lao động cực nhọc, không được học hành, không tìm được công ăn việc làm, sống không nổi nên “cột đèn cũng dời gót ra đi” tìm tự do. Những người thoát nạn hồi 1975 ra khỏi nước và định cư sớm nơi xứ người, nhất là sang Mỹ, cũng đã bị sự dầy vò về tinh thần. Người Mỹ trung bình cũng không hiểu được tại sao phải phí bao nhiêu tiền của và sanh linh của chính người Mỹ mà lại phải mang cái nhục thua trận! Có phải vì những người không ra gì mà họ tin lầm yểm trợ bấy lâu nay? Sai! Chúng ta đều hiểu sai về cuộc chiến tại Việt Nam. Chúng ta, người Việt theo tư bản hay theo cộng sản, đều hiểu sai. Nhưng người cộng sản sau khi đã thống nhất đất nước nhờ sự giúp đỡ của khối cộng lẽ nào lại không chấp nhận rằng mình đã thắng cuộc. Nhất là đối với nhân dân Việt Nam. Hỏi “Mỹ , nếu thắng, sao lại rút đi?” thì khó mà có câu trả lời nào khác. Và nếu chấp nhận cộng sản thắng, ta thua, thì mặc nhiên công nhận ta làm tay sai cho đế quốc, và ghép chúng ta vào tội phản quốc, phản dân tộc, để trước nhân dân Việt Nam, ta trở thành xấu xa, đáng khinh bỉ. Và mãi cho đến bây giờ, khi các con các cháu chúng ta phải tranh cãi với con cháu của cộng sản sang Mỹ, Pháp, hay các nước tư bản khác để du học, về vấn đề thắng bại đã qua cách đây một phần tư thế kỷ, con cháu chúng ta cũng lại phân vân, xấu hổ khi phăn lại nguồn gốc của mình để tự trả lời cho mình các câu hỏi “ta là ai?”, “tại sao lại ở đây?”, “ông cha ta đã làm gì?”. Nói cách khác, hệ quả của cuộc ra đi tìm tự do của chúng ta, cho đến nay, vẫn còn ray rứt trong tâm tư chúng ta và cho các thế hệ sau này. Cũng vì thế mà một số ít chiến hữu đã chọn con đường gian khổ ở lại trong nước,thà để cho kẻ chiến thắng dầy vò thể xác lẫn tinh thần. Nhưng, kẻ thắng người thua đã từng hiểu sai lầm về mục đích của chiến tranh, vì chỉ nhìn trước mắt cái hơn thiệt của thắng bại cục bộ. Bài này nhằm mục đích tìm hiểu chúng ta đã sai như thế nào. Và nếu ta tìm được giải đáp của vấn đề “ai thắng ai?” thì ta bỏ được gánh nặng mà đôi bên đã nhiều năm gánh vác.

    • Tịt Tuốt says:

      Thực Chất Của Cuộc Chiến Tại Việt Nam là một điều bí ẩn trong những năm 60.

      Vào năm 1964, người viết bài này theo học khóa Command and Staff College tại Maxwell Air Force Base, Montgomery, Alabama.

      Hồi đó, Counter Insurgency Warfare còn nằm trong khối Special Warfare (còn trong thời kỳ nghiên cứu)chứ chưa được đưa vào Doctrine của Air Force Doctrine, là phần binh thuyết của Không Quân Hoa Kỳ.

      Chưa có binh thuyết, nghĩa là cách giải quyết chiến tranh loại “chóng chiến tranh nổi dậy”, hay là “chóng chiến tranh du kích”, thì làm sao có được vũ khí thích nghi, có huấn luyện, có chiến thuật và chiến lược phù hợp. Nhưng tình thế cấp bách không thể “ngăn chận” đà bành trướng của cộng sản, mà cộng sản dùng từ “be bờ”(containment), thì thà có gì dùng nấy.

      Cấp bách vì Liên Sô đã đem vũ khí nguyên tử trung tầm cấm ở Cuba sát ở sân sau (back yard) của xứ Mỹ, trong khi chưa có Anti Balistic Missiles (ABM), nên Tổng Thống Kennedy đã hết sức khẩn trương dàn xếp với Liên Sô để giải quyết vấn đề “Vịnh Con Heo”.

      Liền sau đó, thà mang chiến tranh vào một nơi khác xa xứ Mỹ nên đã chọn Việt Nam sát nách Trung Cộng thọc lét vào phe cộng.

      Mỹ đưa quân vào Việt Nam với bao nhiêu bất đồng ý kiến giữa Hành Pháp và Lập Pháp ở Mỹ, giữa Kennedy và các tướng lãnh già nua từ Thế Chiến Thứ Hai về lãnh đạo quân sự, và giữa Mỹ và Pháp đã có lập trường chóng đối nhau khi bàn đến Việt Nam vì Pháp cảm thấy mình bị Mỹ hất chân ra khỏi thuộc địa trù phú này. Nhưng Mỹ đã phải làm cho bằng được vì không còn sự chọn lựa nào khác:đem chiến tranh ra xa xứ Mỹ và chận đứng sự bành trướng của khối cộng.

      Và làm như vậy, Mỹ đã phải “thay ngựa giữa dòng”, gày bẫy để truất phế tổng thống Ngô Đình Diệm.

      Nên nhớ là hồi đó, các chính đảng họp tại San Francisco đã đồng thanh rằng “chỉ có chế độ phát xít ‘là độc tài yêu nước’ mới có thể chống cộng được”. Thay ông Diệm là thay đổi chính sách chống cộng tại các nước kém mở mang.

      Phần đông, ai cũng chỉ nghĩ đến đó, và nhiều người đã cười khi Mỹ thua trận, rút quân trong danh dự vào năm 1973 sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào tháng 2-1973. Nhưng trước đó, chắc chúng ta còn nhớ là Tổng Thống Nixon đã sang thăm Trung Cộng vào cuối năm 1972 nhờ sự dàn xếp của ngoại trưởng Kissinger và Tướng Haig. Đây mới là điều then chốt.

      • nhan dan says:

        Loai nguoi chua truong thanh,
        Thi van con chien tranh…
        Con tranh nhau quyen loi
        Con hon ca loai soi
        Vi dau day muu mo !

    • Tịt Tuốt says:

      Nhớ lại khi còn ở Maxwell AFB, chúng tôi đã nghe ngóng một bạn đồng khóa về một luận văn kết khóa viết về “Sự Rạn Nứt Nga Hoa”. Đề tài này thuộc “MẬT” nên chúng tôi không được đọc tại thư viện. Dù sao, chúng tôi cũng đã biết rằng, sự rạn nứt Nga Hoa là một cái gì tối quan trọng, vì đó là một điểm chiến lược.

      Khi bàn về việc này thì ai cũng chỉ tưởng là một sự tranh chấp ý thức hệ. Cộng sản theo Mao dựa trên nông dân làm chính, nhưng lại khát máu hơn chủ nghĩa bolchevic của Liên Sô (đệ tam quốc tế).

      Thật ra đó chỉ là một trong nhiều cớ mà người soạn luận án muốn đưa ra để xé khối cộng ra làm hai, để Liên Sô phải đối đầu với Mao ngay sát nách mình, và chừng đó, Mỹ sẽ ngồi không hưởng lợi.

      Tách Trung Cộng ra khỏi khối cộng do Liên Sô lãnh đạo là mục tiêu chiến lược của Mỹ. Làm sao thì chúng ta khó mà thấy ngay được, vì cho đến nay, rất ít tài liệu được bạch hóa cho công chúng.

      Chính người Mỹ thông thường cũng không thể nào nhìn thấy tại sao họ phải để cho con cháu họ hy sinh tại cuộc chiến ở Việt Nam, một nơi không phải là một tiểu bang của Mỹ, một nơi xa xứ Mỹ nên không có gì nguy hại đến nền an ninh quốc phòng của Mỹ.

      Thắc mắc của dân chúng Mỹ được biểu lộ qua phong trào phản chiến, phong trào “híp-bi”, và sống sượng hơn thế nữa khi Bop Hope, danh hài của Mỹ hồi đó sang Việt Nam để giúp vui cho lính Mỹ (GI), ngay tại sân vận động của BTLKQ chúng ta, ông nói “nếu Việt Nam là một tiểu bang của Mỹ thì người Mỹ sẽ không còn thắc mắc phải đến đây để chiến đấu”, và cả bọn lính Mỹ, từ quan đến binh đều hoan hô, cười ra nước mắt.

      Năm 1974, chúng tôi có dịp sang Mỹ lần cuối cùng trước khi sập tiệm, khi chờ máy bay trở về Việt Nam, la cà ở trạm hàng không Travis AFB, có một chàng Mỹ rất trẻ lại hỏi tôi:”Thấy ông mặc quân phục này, tôi biết ông là một sĩ quan Việt Nam. Tôi đã đi lính và chiến đấu tại Việt Nam. Điều tôi không hiểu và tự giải thích được là tại sao tôi đã làm nhục nước Mỹ, vì đã chiến đấu tại Việt Nam. Vì khi đi tìm việc làm, tôi đều bị từ chối, vì đã tham chiến tại Việt Nam, đã làm nhục nước Mỹ.”

    • Kim Dung says:

      Entry thì dài, comm thì …dai
      Đọc chưa hết, thấy gai gai…cái đầu :D
      Lần sau, viết phải xuống dòng
      Nhìn thì muốn đọc,
      vui lòng…

      Nhớ chưa?! :P

      • Tịt Tuốt says:

        Nỗi buồn còn có vấn vương?
        Mà sao thơ vẫn dễ thương nhường nào
        Dạ thưa! tớ đã tỏ tường
        “Cứ sau một đoạn xuống “giường”(dòng) nhớ nghen!”
        hị hị :oops: ;) :P

        • Kim Dung says:

          Comm dài, đọc vẫn quen quen
          Nỗi đau quá khứ đan xen nỗi buồn
          Thời gian xoa dịu vết thương
          Nước này, dân đó, đoạn trường khổ đau

          Nỗi buồn đã bớt âu sầu
          Lại cầm bút, lại viết câu…ân tình :D

          Có Ai thắng được người mình?
          Cùng trong bọc trứng, cùng tình Rồng Tiên
          Niềm đau xin bớt muộn phiền
          Trông về dải đất một miền sơn khê

          Ai ơi, một nụ cười nghe…! :oops:

    • Tịt Tuốt says:

      Tuy với vũ khí rất là quy ước (conventional), Mỹ có thể thắng Bắc Việt dễ dàng, như thời chiến tranh Cao Ly một thập niên trước đó. Mỹ có thể đánh róc ra tới Hà Nội và giải quyết nhanh chóng cuộc chiến.

      Nhưng không! Người ta còn nghe “chiến tranh không chiến thắng”(“no win policy”), “chiến tranh giới hạn”(limited war) nghĩa là không muốn cả khối cộng nhảy vào cuộc chiến một cách qui mô.

      Chúng tôi đã gặp lại nhiều bạn học đồng khóa ở Command and Staff College ở Maxwell AFB, lúc đó chúng tôi đều có cấp bậc trung tá cả rồi, nhưng không có ai hiểu được cuộc chiến đi về đâu. Có thằng bạn thân, thân lắm, bay phi vụ Bắc phạt về kể lại, chỉ thả bom vào một thửa ruộng, mà nơi đó khó tìm được một chỗ trống để thả vì đã đầy hố bom.

      Thế là thế nào? Nghĩa là thả bom để câu giờ, để làm áp lực chính trị, chứ không nhằm tiêu diệt tiềm năng chiến đấu của địch. Lần nào thấy được MIG-21 của Việt Nam (?, nên nhớ rằng Đoàn Sao Đỏ của Bắc Việt chỉ được thành lập vào năm 1965, mới gửi người sang Liên Sô học MIG-21 mà thôi, có nghĩa là chính Liên Sô đã bay MIG-21 chứ không phải phi công Việc Nam thời ấy, giống như hồi chiến tranh Cao Ly, chính Liên Sô đã bay MIG-15 để nghênh chiến với F-86 vì Trung Cộng chỉ nắm quyền từ 1949) bay ra khỏi biên giới sang đáp tại đảo Hải Nam, phi cơ Mỹ được lệnh trở lui, không tiếp tục săn đuổi qua biên giới Trung Cộng.

    • Tịt Tuốt says:

      Lam Sơn 719
      Khi còn ở trại cải tạo tập trung tại Nam Hà vào đầu thập niên 80, người viết bài này có dịp đọc được một Tập San Kinh Tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), lúc đó còn là Quartly Review, nghĩa là ba tháng một kỳ. Có một bài làm chúng tôi hết sức ngạc nhiên, ngạc nhiên một cách sung sướng. Bài có tựa đề “Lam Sơn 719 Đã Giết Chết Lam Bưu”.

      Chắc rất ít người đã đọc được bài này, nếu không bị cảnh tù đày và may mắn như chúng tôi. Và nếu có, chắc cũng không thấy được bài đó có gì hay vì chính mình cũng không mấy thắc mắc về một chuyện đã qua rồi, đã qua rồi và kết quả ta vẫn nằm tù, khó mà thay đổi gì được.

      Chúng tôi nhớ lại những gì đã đọc mà nêu ra đây để thêm củng cố lập luận của tôi. Còn chuyện đúng sai thì xin quí vị cứ tìm hiểu thêm.

      Theo bài báo vừa kể, kế hoạch Lam Sơn 719 đã được trao tận tay Trung Cộng một tháng trước khi chiến dịch bắt đầu, qua một đường dây gián điệp ở HongKong. Trung Cộng đã thảo luận với Bắc Việt về phương sách đối phó, đòi đưa quân vào Việt Nam để bảo vệ miền Bắc (điều này cán bộ thuyết trình trong tù có xác nhận là VN không đồng ý để cho Trung Cộng đem quân sang Việt Nam), vì nếu Mỹ chiếm miền Bắc thì an ninh quốc phòng Trung Cộng bị đe dọa.

      Vì trong kế hoạch này, Mỹ đưa quân thiện chiến của VNCH như Nhảy Dù, Biệt Động Quân vào hạ Lào để nhử ba sư đoàn duy nhất còn đóng ở Vinh. Nếu Bắc Việt đem ba sư đoàn đó vào hạ Lào thì sẽ bỏ trống miền Bắc, tha hồ cho Mỹ đổ bộ ra Bắc một cách nhanh chóng chiếm hết miền Bắc.

      Kế hoạch cũng có dự trù đổ quân Thủy Bộ ra Bắc sau khi biết được ba sư đoàn trừ của Bắc Việt đã di chuyển sang hạ Lào. Điểm then chốt là tại Trung Cộng có hẳn hai phe cho ý kiến đối chọi về đường hướng đối phó trước kế hoạch này.

      Một phe theo Lâm Bưu, là phe thân Liên Sô, cho rằng trước sau Mỹ cũng sẽ từ bỏ “chiến tranh giới hạn” mà đối đầu thẳng với Trung Cộng, vì đây là mục đích của Mỹ. Vì thế không thể bỏ trống miền Bắc Việt Nam mà phải bám giữ miền Bắc Việt Nam bằng cách đưa quân sang Việt Nam để cầm chân Mỹ.

      Phe đối lập là Chu An Lai, theo Mao đến cùng, và thà tin Mỹ không muốn nới rộng chiến tranh, còn hơn chính họ khi xua quân sang Việt Nam là tự mình đối đầu với Mỹ. Nói cách khác, phe Chu An Lai tin rằng Mỹ sẽ không chiếm miền Bắc Việt Nam, tin Mỹ hứa là sẽ làm.

      Quí vị nhớ rằng Lam Sơn 719 là một chiến dịch xảy ra vào năm 1971, trên Quốc Lộ 9, chứ không theo thứ tự khi bắt đầu các chiến dịch Lam Sơn, như Lam Sơn 1, Lam Sơn 2,…

      Lúc đó, chúng tôi đang theo học Cao Đẳng Quốc Phòng, hằng tuần vào Bộ Tổng Tham Mưu nghe thuyết trình về binh biến. Chúng tôi không thể hiểu được chính xác những gì Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tổng Tham Mưu trình bày. Nghe thoáng qua, đây là một sự thử nghiệm sự thành công của chương trình Việt Hóa Chiến Tranh.

      Nên nhớ là trong chiến dịch này, phần tham dự của Không Quân Việt Nam chỉ vỏn vẹn là tản thương và chuyên chở biệt kích qua hạ Lào. Phần khác, KQVN đều không tham dự, như đổ quân bằng trực thăng, khu trục yểm trợ cận chiến. Tất cả không lực đều do Không Quân Hoa Kỳ, Hải Quân Không Binh Hoa Kỳ từ Hạm Đội 7, Thủy Quân Không Binh và Lục Quân Không Binh Hoa Kỳ từ đất liền.

      Quan trọng hơn cả là dùng B-52 để yểm trợ tiếp cận(?). Nói vậy thì làm sao hiểu được là trắc nghiệm thành quả Việt Nam Hóa Chiến Tranh, một chương trình qui mô đã bắt đầu vào năm 1969 khi tổng thống Nixon lên ngôi.

      Rồi cũng với một tấm ảnh đăng trên trang bìa của tờ Newsweek, binh sĩ Việt Nam ươn hèn bám vào càng trực thăng UH-1 của Mỹ để thoát thân, làm nhục chúng ta không biết nhường nào.

      Khi còn trong tù, và sau khi đọc bài báo “Lam Sơn 719 đã giết chết Lâm Bưu”, chúng tôi có hỏi các bạn đã tham chiến trong chiến dịch này thì họ bảo, ban đầu, B-52 thả trúng quân địch, nhưng dần dần thả ngay trên vị trí quân bạn, làm sao không chạy để thoát thân.

      Tôi tin đó là sự thật, vì tôi đã từng sát cánh với quân Dù từ nhiều năm trước. Niềm tin của tôi đối với họ không phải vì một sự giải thích nông cạn được. Do đó, tôi rất phân vân, khó hiểu, chưa tìm được cho mình một giải đáp khả dĩ chấp nhận được.

      Xoay qua việc sưu tầm thêm tin tức, được biết Hải Quân chúng ta có một đoàn tàu di chuyển về phương Bắc, chở chừng một tiểu đoàn, chỉ chạy cách bờ chừng 50 hải lý, chạy lên rồi trở về, rồi chạy lên chừng đến vĩ tuyến 20 rồi lại trở về.

      Nói cách khác, kế hoạch đã nghi binh đổ bộ ra Bắc là có thật, và chỉ là nghi binh mà thôi. Chủ yếu là dụ số quân còn lại ở Bắc Việt rời khỏi miền Bắc, bỏ trống miền Bắc, nhưng Mỹ đã không đổ quân lên miền Bắc.

      Như vậy, phe Lâm Bưu cho rằng Mỹ đổ quân ra Bắc là sai, và phe Chu An Lai tin cậy Mỹ giữ lời hứa là đúng. Nói khác đi, Mỹ đã gây được niềm tin cậy của Trung Cộng, và từ đó Mỹ tiến thêm một bước nữa về phương diện chính trị khi Nixon sang thăm Trung Cộng vào cuối năm 1972. Đây mới là điểm then chốt.

      Khi Trung Cộng thà tin Mỹ hơn Liên Sô, thì phe Trung Cộng thân Liên Sô như Lâm Bưu không còn chỗ đứng xung quanh Mao nữa, nên Lâm Bưu thoát thân bằng một chiếc phi cơ sang Liên Sô thì giữa đường máy bay bị nổ tung giết chết Lâm Bưu. Do đó, bài “Lam Sơn 719 Đã Giết Chết Lâm Bưu” đáng được chúng ta suy ngẫm.

      Sau khi sự rạn nứt Nga Hoa thành hình, 45 sư đoàn Liên Sô áp sát biên giới Nga Hoa, và Trung Cộng không còn coi Mỹ là kẻ thù chính nữa, mà là Liên Sô.

    • Tịt Tuốt says:

      - Vị Trí Của Việt Nam Sau Sự Rạn Nứt Nga Hoa
      Song song với sự rạn nứt Nga Hoa, Hội Đàm Paris đạt được kết quả ngưng chiến. Quân Mỹ rút khỏi Việt Nam 6 tháng sau khi Hiệp Định ký kết. Mỹ rút quân trong danh dự, khỏi phải tuyên bố đầu hàng Việt Cộng. Để lại Việt Nam trong tình trạng da beo, cho phép Việt Cộng giữ nguyên trạng để dàn xếp về chính trị, coi đó như là việc nội bộ của những người Việt Nam với nhau.

      Đây cũng là điều làm cho chúng tôi nhức đầu, không hiểu. Và tôi tin rằng rất nhiều người không tìm một giải đáp cho chính mình, huống hồ gì giải thích cho con cháu chúng ta tại sao thua trận, tại sao bỏ nước ra đi nhục nhã.

      Trước hết là cái Hiệp Định Paris khốn kiếp kia. Cái Hiệp Định đã cho Kissinger và Lê Đức Thọ nhận giải Nobel Hòa Bình.

      Cay đắng thay cho QLVNCH! Chắc nhiều người không hiểu tại sao. Có lần tôi du học, cũng vào năm 1964 ở Montgomery, một bà người Canada có chồng là Thiếu Tá Không Quân Mỹ, bà hỏi tôi bằng tiếng Pháp, “tại sao các anh, đều là người trong nhà mà lại đánh nhau mãi không thôi”(Pourquoi vous continuez à vous lutter entre frères). Theo họ, đây là “chiến tranh huynh đệ tương tàn”. Do đó, dàn xếp được cuộc chiến này thật là một việc làm “nhân đạo”, đáng được tuyên dương.

      Nhưng nếu chấp nhận điều này đúng thì không giải thích được sự tham chiến của Mỹ tại Việt Nam, là mắc kế Việt Cộng, là cho Việt Cộng thêm chính nghĩa “đánh Mỹ cứu nước”, và tức nhiên chấp nhận là “Đế Quốc Mỹ xâm lược”, hay ít nhứt là Mỹ xía vào nội bộ Việt Nam. Do đó, ta hiểu rõ hơn mặt trái của Hiệp Định Paris 1973.

    • Tịt Tuốt says:

      Hội Đàm Paris, trước khi Hiệp Định được ký kết có phần Mật Đàm của ba siêu cường: Mỹ, Liên Sô và Trung Cộng.

      Chúng ta làm sao biết được trong mật đàm này, các bên đã thảo luận điều gì. Đây chỉ là suy đoán mà thôi. Nếu muốn các bên tham chiến còn lại tại Việt Nam sau khi Mỹ đã rút quân không còn khả năng đánh nhau mãi mãi thì chỉ có cách không tiếp tế chiến cụ cho các bên nữa.

      Điều này đã được kiểm chứng trong các bên liên hệ. Bên phía VNCH, chúng ta đã bị cắt viện trợ quân sự ngay sau khi Mỹ rút quân. Từ viện trợ một tỷ Mỹ kim hằng năm còn có trên $300 triệu/năm. Tuy từ khoảng 500,000 quân đã được nâng lên một triệu quân, nhưng đó là quân ô hợp, chỉ ỉa ra đó chứ làm sao có khả năng thay thế 500,000 quân Mỹ có đầy đủ tướng tá và một hệ thống tiếp vận tối tân nhất thế giới.

      Lại nữa, chương trình Việt Hóa Chiến Tranh hứa hẹn nào là “một đỗi một” về quân số cũng như về chiến cụ, chỉ là cái bánh vẽ để VNCH chịu đặt bút mà ký vào Hiệp Định, đúng là ký vào bản án tử hình cho chính mình, nhưng miễn sao quân Mỹ được rút ra trong danh dự thì tốt rồi.

      Thực tế của cái gọi là “một đỗi một” như thế nào? Một số khoảng 200 F-5Ạ được chuyển đến VNCH thì chỉ được chừng 40 cái dù đuôi dùng thắng lại sau khi đáp. Thử nghĩ làm sao dùng được 200 chiếc. Không những thế, sau khi Hiệp Định đã được ký kết, thì số F-5Ạ tạm cho mượn gắp rút đó đã lần lượt hồi phục (vì khi tiếp nhận đâu có khả dụng) và “one flight” ra nước ngoài.

      Không Quân còn nhiều khó khăn khác nữa, chỉ trong ngành tiếp vận mới thấu hiểu, như phi cơ nhẹ (O-1A không còn bố thắng và máy vô tuyến chạy được, radar lưu động thì cho radar dở ra ráp lại được [thay vì transportable thành mobile]). Nói cách khác, chỉ có trong nghề mới biết mà thôi. Đó là thuộc “critical items”, thiếu một bộ phận thì không làm sao chạy được.

      Bên Pháo Binh cũng có trường hợp tương tự, pháo 150 ly và 155 ly được chở tới nhưng không có kim hỏa. Cũng vì thế mà chúng ta thấy trong tổ chức của DAO (Defense Attache Office) thay thế Phái Bộ Cố Vấn (MAAG), người đứng đầu là một vị tướng lo về tiếp vận, là vai trò chính yếu của Mỹ sau Hiệp Định Paris được ký kết. Và ngay tại BTTM/QLVNCH, tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân chuyên lo về tiếp vận để phù hợp với nhu cầu của Counterpart của mình. Đó là tại miền Nam.

      Tại miền Bắc cũng có trường hợp tương tự. Trong buổi thuyết trình tại Nam Hà sau khi Trung Cộng giao chiến với Việt Nam vào năm 1979, Việt Nam mới bật mí ra rằng Trung Quốc đã không thật lòng với ta trong chiến tranh giành độc lập, vì họ đã “viện trợ không đồng bộ”. Đó là từ ngữ của họ nói lên sự viện trợ nhưng không dùng được. Họ lấy ví dụ như cái “bình tong”(ám chỉ bidon đựng nước uống cho binh sĩ) mà không có cái bao để mang vào người, không lẽ một tay cầm súng, một tay cầm “bình tong” thì làm sao đánh nhau được.

      Tóm lại, ta có thể suy ra rằng, mật đàm là ngưng viện trợ quân sự để đôi bên không còn đánh nhau nữa. Mỹ và Trung Cộng đã đồng thanh thi hành mật đàm.

      Trái lại, Liên Sô không tôn trọng mật đàm mà còn tăng mức viện trợ cao hơn trước kia. Chính điều này đã làm cho Mỹ xích lại gần Trung Cộng hơn lên, và Trung Cộng càng xem Liên Sô là đối địch ra mặt, nhất là khi Liên Sô mang 45 sư đoàn áp sát biên giới Nga Hoa.

      Liên Sô đã giúp cho Bắc Việt thắng cuộc, thống nhất đất nước. Đảng Cộng Sản Việt Nam lập công lớn, tuyên bố “đảng ta lãnh đạo sáng suốt, tài tình, đánh bại ba đế quốc lớn nhất thế giới là Mỹ, Nhật và Pháp để mang lại độc lập dân tộc.” Và từ đó, ngại gì không tuyên bố “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” như để phất lên ngọn cờ thứ hai mà đảng cộng sản nhất định sẽ thắng lợi(?).

    • Tịt Tuốt says:

      Để Kết Luận, thử nhìn lại con đường đã trải qua của đất nước Việt Nam để thấy được giải đáp cho câu hỏi “ai thắng ai?” Cũng trong tù đầu thập niên 80, người viết bài này được đọc một quyển xuất bản tại Mỹ vào năm 1978, có tựa đề The Myth of Victory, tạm dịch là Huyền Thoại Chiến Thắng.

      Tác giả quyển này cho rằng chiến thắng thật sự phải là từ tình trạng kém cỏi ta vươn lên tình trạng khá hơn sau chiến thắng, về mặt này hay mặt khác. Ví dụ, sau Thế Chiến Thứ Hai, Mỹ đã phải bỏ tiền ra tái thiết Âu Châu theo Kế Hoạch Marshal. Âu châu đều tê liệt, Mỹ còn phải tốn thêm tiền, thì sao gọi là chiến thắng. Từ đó, tác giả nêu ra việc sử dụng bom neutron, nghĩa là chỉ tiêu diệt con người mà có thể giữ nguyên tài sản vật chất nơi xảy ra chiến tranh.

      Cũng trong quyển sách này, tác giả có nêu Việt Nam sau khi chiến thắng đã được gì? Phải chăng là những vấn đề nhức óc đối phó với nhân dân trong nước, với những phe phái trong đảng cộng sản với nhau, bị cấm vận và cô lập không ai giúp đỡ, mà Mỹ lại trở thành nơi mà Việt Nam sẽ phải cầu cạnh để xây dựng và tái thiết đất nước. Như Kissinger đã tiên đoán, mười năm sau, Việt Nam sẽ cần đến Mỹ.

      Cuộc chiến tại Việt Nam không phải là cuộc chiến đánh Mỹ cứu nước của đảng cộng sản và nhân dân Việt Nam, mà là cuộc chiến tranh giữa hai khối tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Miền Nam đã chọn con đường theo tư bản chủ nghĩa, không đánh chiếm và gây tang tóc cho miền Bắc. Miền Bắc đã nướng bao nhiêu sanh linh của miền Nam và miền Bắc mưu cầu xây dựng xã hội chủ nghĩa nên được phe cộng giúp đỡ và trực tiếp tham chiến ở miền Bắc nên có ai biết được hỏa tiễn SAM-2 hay MIG-21 do ai điều khiển.

      Dân ta chỉ biết mù mờ rằng nhân dân Việt Nam anh hùng đã tắt máy phục kích trên mây, để đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào. Có ai biết được nhân dân miền Bắc cũng như nhân dân miền Nam đều rất mất mát và đau khổ trong cuộc chiến. Chúng ta đều là vật hy sinh trong khi hai khối siêu cường chạm trán với nhau trên lãnh thổ chúng ta. Chúng ta là những vật hy sinh khi quyền lợi của chúng ta không còn là quyền lợi của đồng minh. Tại sao chúng ta không thấy được những gì đã xảy ra chỉ vì quyền lợi của các nước đã từng hô hào ủng hộ ta trong chiến tranh. Nên nhớ cho rằng trên đời này, “không có người bạn nào vĩnh cửu, không có kẻ thù nào vĩnh cửu, mà chỉ có quyền lợi là vĩnh cửu”. Huống hồ cùng đồng bào máu mủ, lại vì hai chữ anh hùng, giống như một bánh vẽ, mà chém giết lẫn nhau.

      Phải chăng ai là người có tội lớn nhất, là người đã từng sách động nhân dân phải hy sinh oan uổng trong một phần tư thế kỷ để rồi vỡ lẽ ra rằng chúng ta đã lầm. Đã lầm mà không chịu mình lầm. Lại còn chụp cho đối phương cái mủ bán nước buôn dân, trong khi mình mới thật là tội đồ buôn dân bán nước.

      Vì vậy, những người đã thua trận cũng không có gì phải ân hận. Người thắng trận cũng chẳng có gì để tự hào. Chúng ta đều là nạn nhân của một sự va chạm mạnh của hai khối trong chiến tranh lạnh. Rủi ro là sự chạm mạnh đó lại nằm trên đất nước thương yêu của chúng ta. Nay, chính chúng ta phải tự mở mắt cho mình. Phải đứng lên xây dựng lại cuộc sống con người. Nhân quyền và tự do dân chủ mới xây dựng được cho Việt Nam phồn thịnh và sống còn trước sự áp đảo của ngoại bang. Hãy bỏ đi những mặc cảm thua hay thắng, vì đó chỉ là phù du. Hãy ngưng đi những màn cắn xé lẫn nhau và coi nhau như đồng bào ruột thịt. Vì “ai thắng ai?” chỉ là lời nói khích trước kia chỉ xô ta vào tuyệt vọng.

      Tác giả: Cựu Tù

      • Hồ Tại Thiên says:

        Chắc ko phải bác Tịt Tuốt (bên ba sàm)?

        Tịt Tuốt đã nói
        26/07/2012 lúc 21:10

        Ong Tiến sĩ là có tiếng rồi, cnf tiếng thơm hay thúi thì lại do Ông quyết, thời cơ để có tiếng thơm cho con cháu đã có,Liệu đợi xem có đúng là TS thật hay dỏm là đây.

        • Tịt Tuốt says:

          Cám ơn bác HTT nhé! Không phải đâu là không phải đâu@lãoNgoanĐồng, Tịt Tuốt tui chưa bao giờ còm bên ABS cả! :roll:

      • minh says:

        Xin lỗi anh, thua trận không có gì tự hào nhưng thắng trận thì có đấy, không nói đến thắng các anh thì Bắc Việt cũng đánh bại được âm mưu của Mỹ- một siêu cường trên thế giới. Ai bán nước buôn dân thì để gần 90 triệu người nói mới công bằng anh ạ. Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân, nếu như bạn nói thì cái chính thể này có tồn tại được lâu thế không? Qua lâu rồi cái thời kỳ ngu dân rồi, tôi cũng đang sống ở Mỹ và nhiều người bạn bè tôi cũng thế. Có thể có những cái không đồng ý với cách điều hành đất nước hiện nay nhưng bán nước buôn dân không có đâu anh. Các anh muốn hòa bình sao năm 56 ko có tổng tuyển cử cả nước, trước 54 bao nhiêu người đi trước các anh đứng lên chống Pháp giành lại tự do cho đất nước?

  47. Vĩnh Hảo says:

    Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

    • ich Due says:

      Bằng lăng! Bằng lăng!

      Năm trước
      Tháng Năm về,
      Lòng ta xốn xang
      Bằng lăng!
      Bằng lăng!
      Nở tím Hà thành
      Dậy sớm, rời nhà ra phố
      Bơi bồng bềnh trên dòng sông hoa

      Hôm nay trên đường Thợ Nhuộm
      Lướt nhanh trên phố Trúc Khê
      Bằng lăng!
      Bằng lăng!
      Giữa mùa hoa nở rộ
      Lòng ta không xốn xang
      Giữa muôn hoa khoe sắc
      Trái tim sao hững hờ
      Dõi mắt về nơi xa thẳm
      Những bông hoa tím bật nở
      Trong cánh rừng nham nhở
      Trên những cành bằng lăng cháy đen
      Nhớ lắm, khi xưa ta cùng đồng đội
      Xuýt xoa:- Bằng lăng rừng đẹp thế!
      Thằng Sơn trẻ nhất đại đội
      Thấy các ông anh mơ màng
      Buông câu:
      – Bằng lăng rừng rất đẹp
      Bằng lăng phố em đẹp hơn!
      Hôm sau…
      Cả người và cây cháy đen!

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 3,571 other followers

%d bloggers like this: