Lấy lại tên Thăng Long cho đất Việt

Hà Nội trong mắt ta. Ảnh: Wiki.

Câu chuyện lấy lại tên Thăng Long cho Thủ đô nước Việt hình như là tuyển tập dài không có hồi kết. Bao nhiêu tâm huyết đóng góp của nhiều trí thức hết lòng với Thủ đô đều bị rơi vào quên lãng. Tác giả Nguyễn Cường gửi một bài thú vị về cách nhìn mới.

Mong quí độc giả góp ý cho bài viết thêm phong phú. Commnent có thể không lay chuyển được ai nhưng lại thay đổi được người viết. Đó cũng là một thay đổi lớn.

Lấy lại tên Thăng Long cho đất Việt

Tác giả: Nguyễn Cường 

Nhân đọc bài viết của một nhà văn khá nổi tiếng, ca tụng về những nét đẹp vừa lãng mạn nên thơ, vừa hào hùng của Hà Nội, mảnh đất biểu tượng cho ngàn năm văn hóa của dân tộc Việt, làm người viết không khỏi nhớ lại một ý tưởng tình cờ đến, trong tiềm thức sau một giấc mơ kỳ lạ, cách đây không lâu.

Từ Thăng Long đến Hà Nội

Thật vậy, cái âm hưởng của từ “Hà Nội” dám chắc đã in sâu đậm vào tâm khảm ký ức mọi người, trải qua ít nhất cũng khoảng chừng gần mươi thế hệ, nên đối với đa số không còn phải thắc mắc hay tìm hiểu gì thêm về nguồn gốc hay ý nghĩa của nó.

Hà nội là Hà nội, là cái tên như Sài`gòn hay Huế, là tiếng gọi đầu đời của biết bao trẻ thơ, là nơi chốn hẹn hò gặp gỡ của những văn nhân nghệ sĩ, và cũng giống như hơi thở của nhịp sống luân lưu trong hàng triệu triệu con dân Việt, thì sao lại còn phải dài dòng giải thích hay thắc mắc làm gì!?

Ðó thường là cảm tưởng chung của những người miền Bắc mỗi khi có dịp hỏi về ý nghĩa của Hà nội. Cũng có một số vị có sự kiên nhẫn độ lượng và thông cảm hơn, đã đưa ra lời giải thích theo sát nghĩa, đơn sơ và dễ hiểu là: Thành phố có con sông (Hồng), hay chính xác hơn, thành phố nằm ở ven sông.

Nếu chỉ giản dị như trên, thì chẳng có gì đáng nói, và dĩ nhiên, cũng chẳng có bài viết này. Nhớ lại câu châm ngôn thường nghe nói: không có lửa, sao có khói? Thắc mắc được nêu ra đây là: Tại sao cái tên nguyên thủy “Thăng long” được vua Lý Thái Tổ sáng lập khai sinh ra, kéo dài trong suốt hơn tám thế ky,ủ qua biết bao triều đại, kể cả khi nhà Trần đã cướp ngôi và thảm sát cả nhà dòng họ Lý, bị đổi tên khác là Ðông Ðô, Ðông Quan, rồi Ðông Kinh cả hơn trăm năm, rồi cuối cùng cũng được trả lại cho tên cũ, thì tại sao triều đình nhà Nguyễn lại quyết định bỏ đi, rồi sau cùng thay thế luôn bằng cái tên Hà Nội?

Câu trả lời cho thắc mắc trên sẽ được lần lượt trình bày trong bài viết này, theo chiều hướng suy luận chủ quan của người làm công việc khảo cứu, không nhất thiết phải là hoàn toàn đúng, và chắc sẽ có được tiếng nói phê bình từ nhiều giới độc giả hay các nhà chuyên môn nghiên cứu về văn hóa sử.

Thông thường, tên của một địa phương hay thành phố, đa số xuất phát từ một trong hai trường hợp sau: Tên khởi thủy do nhóm người đầu tiên đến khai phá hay lập nghiệp, thường gọi hay đặt cho. Giống như trường hợp tên người do cha mẹ đặt cho từ khi mới sinh ra, thường được giữ luôn đến suốt đời và ít khi bị thay đổi, không ngoài lý do tôn trọng ý kiến của nhửng bậc tiền nhân có công gây dựng. Ngoài ra, giữ được cái tên nguyên thủy còn nói lên tinh thần muốn duy trì truyền thống bảo tồn văn hóa của địa phương, chưa nói đến nhử~ng rắc rối về giấy tờ hay công việc hành chánh khi phải thay tên đổi họ.

Do vậy, hiếm khi thấy tên của một thành phố hay thị trấn lớn trên thế giới bị thay đổi, trừ một thiểu số vì lý do chính trị. Ðây thuộc về trường hợp thứ hai với các lý do có thể tạm coi là chính đáng, như một thuộc địa vừa được thâu hồi lại chủ quyền, và tên đường hay tên của thành phố là do ngoại bang đặt cho khi còn đang ở thế mạnh, hoặc đang chiếm đóng lãnh thổ.

Sen Tây hồ. Ảnh: Xuân Chính

Dù ở trong trường hợp nào, thì cái tên của một thành phố đều hàm chứa một ý nghĩa nào đó, mà những người thẩm quyền khi đặt tên, phải mất nhiều thời gian suy nghĩ đến, và ít ra cũng có sự đồng thuận của môt số người. Tuyệt đối không thể cho là kết quả của một sự ngẫu nhiên hay tình cờ theo cảm hứng cá nhân được. Hơn nữa, riêng trong trường hợp tiếng Việt thuộc dạng đơn âm, nên dù chỉ có một chữ hay một âm thôi, cũng thường cho ra nghĩa rồi, nói gì đến hai âm ghép vào. Dựa trên những suy tư đó, người viết đã thử truy tìm nguồn gốc ý nghĩa của Hà Nội.

Hà có nghĩa là con sông thì đã quá rõ, ai cũng biết cả rồi, không phải nói tới nữa. Riêng chữ “Nội” mới là vấn đề, vì từ “Nội” ở đây đóng vai của một trạng từ hay tĩnh từ. Theo nghĩa đen “Nội” là ở trong như đã giải thích, ngược lại với “Ngoại” là bên ngoài. Nghĩa đen bóng bẩy hơn một chút thì Nội là chính, còn Ngoại là phụ, như ta vẫn thường nói họ nội, hay họ ngoại. Thành phố có con sông chính, hay thành phố có con sông chảy ngang qua là ý nghĩa thuần nhất của Hànội.

Có người thì cho rằng vì có Hà Bắc, Hà Nam, Hà Ðông và Hà Tây, nên có cái tên Hà Nội ở giữa, cho hợp lẽ. Giải thích như vậy thì tạm được, nhưng chưa thông và còn thiếu sót. Trước khi có tên Hà Nội thì chỉ có các địa danh như Kinh Bắc và Sơn Tây.

Mãi sau này, khi đã có từ Hànội rồi, thì các “Hà” khác mới được khai sinh ra sau cho có vẽ hợp lý. Ðúng ra, tên Hà Nội đầu tiên đã được đặt cho một làng nhỏ nằm trong huyện Nông Cống thuộc tỉnh Thanh Hóa dưới thời vua Lê chúa Trịnh.

Sự thật có thể không chỉ đơn giản như vừa nói! Hãy lý luận thêm một chút: Một thành phố có con sông chảy qua là chuyện rất bình thường ở khắp nơi trên thế giới, ngay cả như ở miền Nam chẳng hạn, không là điều hiếm có, thì việc gì phải cần nhấn mạnh Hà “Nội với Ngoại” (hay chính với phụ!?) Vậy, tạm thời quên cái ý nghĩa đen bên ngoài có vẻ như vô tội vạ và ngay thẳng nhất. Còn lại, chỉ có thể là “người ta” thâm nho, muốn chơi “chữ với nghĩa”, muốn ám chỉ một ý khác như “Con sông hướng về bên trong” chẳng hạn! Xin nhắc lại, trong tiếng Việt thì giới tự đứng sau danh từ và làm bổ từ, nên theo đúng văn phạm phải là “sông (ở) trong”.

Nếu đúng, thì quả là một điều cần xét lại. Bỡi vì, một con sông lớn mạnh và bề thế như sông Hồng, phải chảy ra “ngoài” biển cả về với đại dương, mới xứng đáng là rồng mây gặp hội, và nhất là không thể nào lại chịu bị gò bó kềm hãm “trong” đất liền, chật chội nhỏ hẹp như những con kinh, hay cái mương, cái rạch được. Ðây là chưa dám nghĩ tới cái ý quanh co, khi muốn ám chỉ đến cái loại dòng nước cho ra từ “bên trong thân thể của các sinh vật”!

Dù sao, trên là chỉ mới nói sơ đến cái nghĩa đen và bóng đơn thuần bề ngoài, nhưng chưa nói đến ẩn nghĩa thâm sâu nhất, mà “người ta” muốn ngầm hiểu, áp đặt vào cái vùng đất địa linh nhân kiệt, tiêu biểu cho cả mấy ngàn năm văn hóa BáchViệt. Rồng hay Long, tuy là giống vật linh thiêng tưởng tượng chỉ có trong truyền thuyết, nhưng nguồn gốc về hình dạng vẫn thuộc vào loài bò sát, có thân mình dài như rắn. Cho nên theo khoa hình tượng học, thì sông được ví như rồng, như sông Cửu long được ví như chín (9) con rồng chảy cong vòng lượn mình uốn khúc qua lại.

Rắn hay Rồng, trong tư thế mạnh mẻ và đáng sợ nhất là khi chụp mồi hay để tự vệ, thường ngẩng cao đầu lên, phóng ra “ngoài” hướng về phía trước, để đối diện với nguy hiểm khó khăn hay kẻ địch. Ngược lại, trong thế sơ hở hay yếu nhất thì cuộn tròn lại, quay đầu vào bên “trong” nghỉ ngơi, lúc no mồi phè phởn, hay khi ngủ.

Hoa ban xuống phố. Ảnh: Ngọc Dung

Câu trả lời đã bắt đầu xuất hiện một cách khá rõ ràng, giống như ta đem hai bức tranh thật và giả treo sát bên cạnh nhau để so sánh sự tương phản khác biệt. Nếu đem viết hai chữ Hà Nội ngay liền phía dưới Thăng Long thì có thể thấy ngay có sự đối xứng nhịp nhàng. Cùng một ý là sông, thay vì dùng “Long” hay rồng tượng cho sự thông minh cao quý, thì lại biến cho thành “Hà”, tầm thường và nhỏ mọn như loài giun rắn.

Thay vì “Thăng” tiến, dũng cảm tự tin để hướng thượng đi lên, thì bị làm cho u mê nhu nhược chui rúc vào “Nội” thành hang hóc để cầu an. Rõ là nghĩa đối nghĩa, lời thay lời, theo cách đối đáp thời nho học còn thịnh không thể nhầm lẫn được.

Và chỉ cần thế thôi, họ chẳng muốn phải làm mạnh tay hay hảm hại gì cả. Chỉ cần phù phép làm cho con rồng Việt đang tính bay lên, đành chịu quay lại rúc đầu vô bụng ngủ yên cho quên hết mọi việc, cho họ khỏi phải bận tâm lo lắng. Tính đúng ra, thì con rồng Việt đã bị làm cho ngủ say sưa mê mệt đến cả hơn một thế kỷ rưỡi!

Nhớ lại, chẳng phải chỉ có người viết mới có ý nghĩ như vậy thôi. Các nhà làm văn hóa, các nhạc sĩ theo trực giác tự nhiên hay cảm tính bén nhạy, cũng đã thấy được điều muốn nói. Phải gọi cho được bản nhạc hùng ca là “Thăng long hành khúc”, mà không là “Hà nội hành khúc”!

Phải tựa như rồng đang bay lên lượn xuống, uy nghi mãnh liệt, cuồn cuộn như sóng dồn, như hào khí của đắng Quân vương, anh hùng hào kiệt. Phải được vậy thì mới xứng danh là đất của ngàn năm văn vật, niềm hảnh diện của các sĩ phu Bắc Hà! Nếu không, thì chỉ là giống Lươn, giống Trạch chuyên chui rúc ở bờ ao đầm lầy, có gì mà ca tụng, tự hào hãnh diện.

Nghĩ cho cùng, không phải là chuyện mê tín dị đoan mà là dữ kiện khoa học, cũng chẳng phải là Sấm truyền mà là Duy Lý Sử Quan, Thống Kê Xác Xuất. Kể từ khi cái vùng đất được vị vua anh minh họ Lý cho mang tên là “Thăng long” đó, thì ít ra cũng đã sản sinh cho đất nước những bộ óc tuyệt vời, những “Phá Tống, Bình Chiêm”, “Hội nghị Diên Hồng”, hay “Bình Ngô Ðại Cáo”. Nếu đã không làm cho đất nước trở thành cường quốc lẫy lừng trong thiên hạ, thì cũng không làm gì hổ thẹn đến vong linh tiền nhân.

Hà Nội hay Rồng Ngủ

Nhưng, kể từ khi mang cái tên Hà nội vào, thì may lắm cũng chỉ cho ra đời những nhân tài đại khái như “Truyện Kiều còn, nước ta còn!”; “Thống chế ơi, có tôi đây”; hay là tội nghiệp đáng thương hại hơn “Anh thành công, thì em sẽ thành công; còn anh thất bại, thì em xin chịu thất bại theo anh!” Ôi! còn đâu là cái hào khí của giòng giống Lạc Hồng muôn thuở!

Nguyên do nào thúc đẩy vua Minh Mạng ra Sắc lệnh (hay Chiếu Chỉ) đổi Thăng Long ra Hà Nội vào năm 1831, sau khi đã đăng quang nhiếp chính cầm quyền gần một con giáp? Xin trở lại từ đầu, lý do chính ai cũng có thể hiểu là dưới ảnh hưởng chế độ phong kiến thời xưa, cái gì thuộc về Vua đều được ví như rồng, hay ngược lại.

Thăng long không còn là kinh đô triều đình thuộc nơi chốn vua ở nữa, nên không được quyền mang tên Long. Tuy nhiên, thắc mắc ở đây là vì sao, trong cả trăm ngàn tên đẹp đẽ có ý nghĩa thiếu gì trong kho tàng văn chương Hán Việt hay Nho học không chọn, mà lại lựa ngay cái tên có vẽ tầm thường như Hà nội vừa nói ở trên, mới là điều cần nêu lên nghi vấn.

Phải chăng vì sợ rằng miền đất đó sẽ cho ra những anh hùng cái thế có thể làm nổi chuyện thay ngôi đổi chủ, hay vì sợ hồn ma của vua Lê chúa Trịnh muốn quay về, nên họ đã tìm ra đủ mọi phương cách để phòng ngừa hay chế ngự, bằng ngay cả các biện pháp thuộc lảnh vực huyền học siêu nhiên?

Hẳn các vị quan lại đại thần thời đó, phải biết là hơn ngàn năm trước, có một thái thú Cao Biền rất tinh thông về khoa Phong thủy, đã không mấy thành công và cũng gần như bỏ mạng, vì muốn ém cái đầu rồng của nước Việt. Hậu sinh thật đáng kính nể, dùng biện pháp mạnh như ông thầy họ Cao, tính cắt phăng luôn cái đầu rồng thì thất bại, nhưng dùng cách nhẹ nhàng hơn để dụ rồng quay đằu vô bụng ngủ, thì lại thành công hoàn toàn, bằng khoa siêu hình hay tâm linh, phá được cái thế quý địa “Nhả ngọc phun châu”, mà các thầy Ðịa lý ví như con rồng đang bay rồi hạ giáng xuống vịnh Bắc Việt để phun nước (?).

Hà Nội mùa Thu. Ảnh: Xuân Chính

Trăm dâu không thể đổ đầu tằm! Chắc chắn rằng vua Minh Mạng không chủ động xướng xuất việc này, vì nếu có thành kiến hay nghi ngờ, thì ông đã làm từ khi mới lên ngôi vua. Ngoài ra, ông cũng không giỏi gì lắm về văn chương chữ nghĩa, lại ham mê luyện tập võ nghệ săn bắn, và có nhiều phi tần mỹ nữ nhất trong các ông vua, thì không thể nào lại có những ý tưởng “cao siêu” đến thế. Vậy thì còn lại giả thuyết là do một ông quan nào đó đã “mớm” ý cho vua.

Giả thuyết trên tuy có vẽ hợp lý, nhưng vẫn còn thiếu sót. Hãy thử suy luận xa thêm một chút, nếu thật sự đó là sản phẩm trí tuệ của ông quan nào đó nghĩ ra, thì hẳn phải là người thuộc dòng khoa bảng thông minh xuất chúng. Mà đã làmột bậc sĩ phu chân chính được xã hội trọng vọng như vậy, thì danh dự, lương tâm của kẻ sĩ để đâu, để có thể cho phép chính mình xúi dục vua làm cái chuyện ám hãm cho đất nước như vậy.

Câu trả lời ở đây chỉ có thể là do kết quả của những ông quan mà trí óc không cao quá cái ghế ngồi của mình, chỉ biết nhìn thấy cái lợi ngắn hạn trứơc mắt, để rồi bị gạ gẫm xúi dục, mua chuộng bỡi những hồn ma bóng quế nào đó!

Tất nhiên, chắc sẽ có nhiều người thắc mắc cho rằng, dù giả thuyết trên nếu có đúng đi chăng nữa, thì cũng chỉ là một cái tên gọi, một sự liên tưởng mơ hồ thiếu cơ sở khoa học nào đó, giữa con rồng chỉ có trong huyền thoại với con sông Hồng. Làm sao có thể dám kết luận đó là nguyên nhân cho những sút kém thua thiệt mà cả dân tộc Việt phải gánh chịu về sau này!?

Câu trả lời ở đây sẽ là: Tất cả những suy luận trên đều dựa hoàn toàn vào bằng chứng sử liệu, trên cơ sở kiến thức khoa học ngày nay, và không phải là chuyện giả tưởng do trí tưởng tượng sắp đặt, hay từ một sự linh thiêng huyền bí nào cả. Ngôn từ về “Siêu hình” hay “Huyền học” có nói đến ở trên, chính là hiện thân của khoa tâm lý học hay phân tâm học, và kết quả của những cái gọi là huyền bí đo,ù chính là những phương pháp “Tẩy Não” hay nhẹ hơn là “Tự Kỷ Ám Thị” được áp dụng cho ngày nay.

Dù sự thật có như thế nào đi nữa, quan trọng hơn hết, vẫn là cái tâm cái ý của những người có quyền lực thời bây giờ khi muốn đổi ra tên Hànội, rồi biến thành hành động thể hiện qua chánh sách xử dụng nhân tài v.v. Thí dụ, trong bộ “Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện” do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn biên soạn, xuất bản vào khoảng năm 1909, viết về chuyện các Hoàng Thân Quốc Thích, cùng các Quan từ thời vua Gia Long cho đến Ðồng Khánh, gần một trăm năm.

Nếu bỏ ra các nhân vật thuộc Hoàng Gia Tôn Thất, thì trong tổng số hơn sáu trăm (600) tên của các quan lại, có không quá năm (5) vị là có nguyên quán gốc ở Hànội nói riêng, và không quá 60 vị có nguyên quán từ Nghệ An hay sông Cả trở ra, nói chung cho Bắc Hà. Con số quá khiêm nhường cho một miền đất mà tỷ số nho sinh sĩ tử dám chắc không dưới 30 % của cả nước, vào thời bấy giờ.

Rồng là con vật tưởng tượng ai cũng biết, nhưng sở dĩ vân hóa Phương Ðông thường nhắc đến coi như có thật, bỡi vì ngoài vấn đề uy quyền linh thiêng dành cho vua chúa, nó còn là biểu tượng của sự sang giàu, cho trí tuệ hay sự thông minh của con người. Chẳng cần đợi đến khi thực dân Pháp qua hay mãi về sau này, ngay từ thời đất nước còn độc lập và xuyên qua cả ngàn năm lịch sử, ai cũng phải khách quan nhìn nhận là miền Bắc, được coi như cái đầu của con rồng Việt, siêu hình hay thực tế, biểu tượng cho trí tuệ hàng đầu của cả nước. Từ đó, cũng chẳng có gì lạ khi miền đất gọi là Thăng Long, não bộ của đầu rồng, đã là mục tiêu chính để triệt hạ theo đúng sách vở, đánh rắn phải đánh ở cái đầu!

Nhìn lại một vài hiện tượng văn hóa đã xảy ra và chỉ khởi sắc từ miền Bắc, như hát Ả Ðào hay Ca Chầu dành cho mấy Ông, hoặc lên “Ðồng Cốt”dành cho mấy Bà. Hát Ả Ðào bình thường đúng là môn văn nghệ giải trí có nguồn gốc từ cung đình cho vua quan thưởng thức. Thế nhưng sau này đã được truyền ra trong dân gian, rồi bị biến dạng thành “nhà chứa” và kèm theo luôn nhà hút á phiện.

Những món ăn chơi vừa nói, thật sự đã có từ thời vua Minh Mạng. Lúc đầu chỉ nhắm vào các giới quan lại cựu thần vua Lê miền Bắc, được khuyến khích mượn thú ca kỹ, đi mây về gió tại tư gia để giải sằu, quên đi chuyện cũ mà thôi.

Nhưng đến thời vua Tự Ðức thì trở thành thương mại, lan xuống tận giới trung lưu hay thành phần nho học trí thức, và khi người Pháp qua cai trị thì họ lại càng mạnh tay khai thác để biến thành một phong trào “Bảo tồn văn hóa”! Thời đó, giới sĩ phu Hà Thành mà không biết thưởng thức cái món “Hát Ả Ðào”, thì không xứng đáng được coi là người lịch lãm.

Xác pháo. Ảnh: Dương Minh Long

Hiện tượng trên đúng là phù hợp với cái ẩn nghĩa “Hà Nội” hay “Rồng ngủ “. Vả lại, Rồng đang ngủ thì không thể làm gì khác trừ chuyện mơ mộng viễn vông, nên nhân tài Bắc Hà trong thế kỷ qua chỉ có quy tụ vào trong các bộ môn Thơ, Nhạc và Họa hay nói chung là về nghệ thuật, nghĩa là cần có nhiều đức tính mơ mộng và trí tưởng tượng dồi dào, và phải rời xa cái đất gốc thì mới có danh tiếng khá được! Ðó là chưa nhắc đến hiện tượng đa số các văn nghệ sĩ có tiếng ở miền Bắc thời bấy giờ, không ít thì nhiều, đều mang thêm vào cái nghiệp “Ði mây về gió”.

Trên chỉ mới là những biện pháp dành cho tầng lớp từ trung lưu trở lên, nhưng vẫn chưa đủ, vì miền Bắc nước Việt thời đó phải có ít nhất 90% nông dân. Chính số đông này dù có cha mẹ thuộc thành phần bần nông ít học, nhưng nhờ tính hiếu học và trọng khoa bảng, nên một số không ít cũng cố gắng cho con đi học để có thể vươn lên. Ðối với đám đông quá nhiều này, thì họ lại dùng phương pháp “tự kỷ ám thị”.

Lợi dụng lòng mê tín và thương con của các bậc cha mẹ, qua lời khuyên bảo của mấy ông Ðồng bà Cốt hay các thầy Pháp Sư đã được huấn luyện và mua chuộng, tìm những cái tên xấu xí, thô tục đặt cho trẻ con.

Thế là cái đất ngàn năm văn hiến đó đã một lúc cho ra đời hàng ngàn hàng vạn những “Thằng Cu” và “Cái Hĩm”, đã là nơi phát xuất ra một hủ tục phi nhân bản, phản dân tộc, tệ hại nhất trong lịch sử văn hóa của….loài người!

Vì, ngay cả những bộ lạc kém văn minh ở miền núi hay bên Phi Châu, cũng không hề gọi tên con mình xấu như vậy. Rõ ràng là người ta muốn cho những mầm non tương lai của nước Việt, phải bị nhập tâm ngay từ khi còn nhỏ: “Luôn luôn phải nhớ là giá trị của chúng mày chỉ xứng đáng với cái tên được gọi”!!!

Tên “Nội Bài”  có đáng là cửa ngõ quốc gia?

Nhân viết tới đây, không thể không nói đến một trường hợp tương tự thứ hai xảy ra sau cái tên Hà nội, chính là tên của phi trường quốc tế “Nội Bài”. Thú thật, người viết không thể hiểu được tâm trạng của cái ông tác giả nào đã đưa ra cái tên kỳ lạ như vậy! Tại sao người ta lại hay thích dùng chữ “Nội”?

Có thể nào là kết quả của những nổi lo sợ ám ảnh bởi chữ “Ngoại”, vì liên hệ đến ngoại bang hay xài đồ ngoại hóa, nghĩa là không yêu nước? Còn nếu cho là dùng chữ “Nội” vì do từ Hà Nội mà ra, thì sao lại ghép liền với chữ “Bài”, mới thật là hết ý kiến vì khó hiểu và vô lý quá!

Sân bay Nội Bài. Ảnh: Wiki

Trước hết, xét về nghĩa lý thì chữ “Nội” là ỡ trong, đã nói rồi và không cần lập lại. Riêng chữ “Bài” thì chỉ có hai nghĩa mà thôi. Nghĩa thứ nhất làm động từ là bài bác hay gạt bỏ đi. Ðiều này hoàn toàn vô lý, vì nếu có ý đó thì “Bài Ngoại” chớ sao lại “Bài Nội”?

Nghĩa thứ hai còn lại là khuôn khổ có giới hạn, hay đóng khuôn trong kích thước, như bài học, bài vẽ, bài ngà (thẻ bài), hay bài vị trên bàn thờ. Tạm bỏ qua những nghĩa không ổn, chẳng hạn như phi trường của thủ đô là phải thuộc hạng quốc tế, chỗ máy bay đi khắp bốn bể năm châu, làm sao lại bị hạn chế trong nội địa được!

Vậy thì chỉ còn một nghĩa tạm thời có lý là “cái thẻ ở trong (người)”. Có thể, theo nhận xét của người khai sinh ra cái tên Nội bài, thì phi trường là chỗ mà ai tới đó phải có cái thẻ bài hộ chiếu thông hành, thẻ xanh, thẻ đỏ, hay gì gì đó…..thì mới được đi(!?) Còn như dân thường không có thẻ, thì chắc suốt đời làm gì được bén mảng đến phi trường, nói chi đến chuyện đi xuất ngoại!. Nghĩa này tuy đơn sơ, nhưng có thể hiểu được. Và nếu chỉ có vậy thì tội nghiệp và buồn cho cái phi trường này quá.

Nhưng chưa hết, một giả thuyết khác có thể là trường hợp “chơi chữ’ của cụ nào vốn dòng thâm nho mà thôi. Giống như câu chuyện “Quần Thần” hay “Bầy tôi” là ám chỉ “Bồi Tây”, biết đâu mấy cụ lại bắt chước ông nghè họ Nguyễn, muốn nói “Nội Bài” đọc lái là “Lại Bồi” (theo cách phát âm sai “N” thành “L”) nghĩa là mấy người ra phi trường thời đó để đi xuất ngoại hay công tác nước ngoài chỉ là đi làm “Bồi” cho thiên hạ! Nghĩa này thì có vẽ suy diễn hơi tiếu lâm, khó có thể xảy ra. Dám chắc không cụ nào cả gan xâm mình để đùa kiểu như vậy.

Tuy nhiên, điểm thắc mắc chính ở đây là người Việt mình, nhất là sĩ phu Bắc Hà rất nhạy cảm về những chữ nói lái, mà cớ vì sao lại không hề có ai thấy từ lúc cái tên đề nghị còn nằm trên giấy tờ?

Cuối cùng, nếu tất cả giả thuyết trên đều sai, thì chỉ còn duy nhất một trường hợp, rất là khó chịu khi phải nói ra đây. Số là người viết thích ăn một món mà chỉ có mấy tiệm người Hoa làm mới ngon. Ðó là cái món “Dồi trường”, nguồn gốc theo nguyên thủy là do từ “Nội trường” mà ra.

Thành thử khi nghe đến cái tên Nội Bài thì tự nhiên người viết lại có ấn tượng mạnh khi nhớ cách nói vắn tắt, bỏ bớt chữ thường hay dùng, thí dụ như “Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội” thì gọi tắt là “Việt Minh”. Vậy thì có thể nào “Nội Bài” là do từ 4 chữ “Nội Trường Bài Tiết”?. Nếu đúng vậy, thì quả là chuyện “kinh thiên động địa”, quá sức tưởng tượng của mọi người!

Phố hoa. Ảnh: Ngọc Dung

Ai cũng biết rằng phi trường hay hải cảng đối với một thành phố, có thể được ví như là cái miệng để nuôi sống con người về vật chất, nơi để xuất ra hay nhập vào hàng hóa, cung cấp thực phẩm tiêu thụ cho dân chúng. Riêng về phương dịên tinh thần, và với thời đại không gian này, thì phi trường quốc tế còn là nơi trao đổi tiếp xúc với trí tuệ của thế giới.

Những du học sinh về nước, các nhà kinh doanh hay các nhân vật quan trọng (VIP) khi đến phi trường, thì cũng có thể coi như là mang sự thịnh vượng về vật chất hay chất xám về tinh thần cho đất nước, hiểu chung theo nghĩa bóng. Do đó, không thể coi thường, vì vô tình hay bị gạ gẫm (?), khi đặt cho cái tên tếu lâm như vậy.

Những người có thẩm quyền, nếu cần, phải truy tìm tông tích nguyên nhân nào, và ai đã chịu trách nhiệm xướng ra cái tên “Nội Bài”. Nghĩ “quẩn” thêm một chút, chẳng lẽ bỡi vì có vị danh nhân nào đó đã phán “Trí thức không bằng cục phân”, nên mới có lý do để “lòi ra” cái tên “Nội Trường Bài Tiết”? Và, một sự liên tưởng khác, biết đâu ẩn nghĩa của Hà Nội chính là “Hà Khứ Quy Nội”?

Ðể kết thúc bài viết này, xin có một vài đề nghị chân thành, mong rằng những vị nào có thẩm quyền và cơ hội để làm được chuyện thay đổi tốt đẹp cho đất nước trong tương lai, thì cũng nên cứu xét giùm cho:

1.      Trả lại tên cũ là Thăng Long cho thủ đô của nước Việt. Ðây không những là việc làm hợp tình hợp lý, mà còn có ý nghĩa vô cùng, vì trong thiên niên kỷ mới này, người Việt nào cũng mong ước cho đất nước mình sẽ trở thành con rồng đang cất cánh bay lên của châu Á.

2.      Bỏ tên sân bay “Nội Bài” và thay thế bằng tên nào thanh tao và có ý nghĩa hơn. Thí dụ, tại sao không gọi là phi trường “Hạ Long”? Chữ Hạ Long mà dùng cho phi trường quốc tế ở thủ đô Thăng Long của nước Việt, thì thật là tuyệt vời. Trước hết, nghĩa đen Hạ long là rồng giáng hạ hay rồng đến nhà, vừa nói sự may mắn sẽ đến với mình, mà còn chứng tỏ cho du khách, cái tinh thần quý trọng và hiếu khách của chủ nhà. Mặt khác, theo nghĩa bóng và quan trọng hơn hết, là ám chỉ sự thịnh vượng và nhân tài của thế giới, hay trí tuệ của khắp bốn phương, sẽ cùng nhau theo cánh chim sắt đáp xuống, hội tụ vào càng nhiều càng tốt. Có được như vậy, thì lo gì cái thủ đô Thăng Long hay con rồng nước Việt không thức giấc để chuẩn bị cất cánh bay lên!.

Không còn chừng gần mười năm nữa là kỷ niệm đúng 1000 năm ngày khai sinh ra “Thăng Long”, kinh đô đầu tiên của nước Việt độc lập và tự chủ, biểu tượng cho tài năng và trí tuệ của giòng giống Lạc Hồng. Vậy thì nhân dịp này và còn chờ gì nữa mà không.

Nguyễn Cường. 4-2011.

Thăng long của ngày xưa. Ảnh: Anhdephanoi

About these ads

99 Responses to Lấy lại tên Thăng Long cho đất Việt

  1. thai a says:

    Huong ung loi keu goi :” giu lai ten H.N” :
    Ten H.N linh hoat thay
    Vuot qua cac “nuoc” chi can thay chu “L” (Ha Loi)

  2. thai a says:

    Toi cung muon doi ten H.N thanh THANG LONG va tin rang 20 nam nua khi nuoc minh ra khoi que “BI”,con chau chung ta se doi lai thoi ! Hay cho xem !

  3. 7xGens says:

    Bận lâu k bờ leo, hôm nay đọc mấy entry bở cả hơi.

    Em thấy đề tài này gói gọn câu là: Lẩm cẩm, lẩn thẩn. Không khác mấy một đề nghị cải tiến chữ Việt của một “nhà cải cách” nêu nên trên VNN mấy tháng trước.

    Thời đại, mà chỉ cần một mẩu bằng cái kẹo cao su đã đủ chứa đựng cả kho sách cho cả thời kỳ trước đó. So sánh giữa 2 giai đọan (thời kỳ) để thay đổi là hết sức khập khiễng.

    Xét về kinh tế cũng như những nẩy sinh về mặt XH là vô cùng phức tạp: thay đổi tòan bộ con dấu các cấp, trích ngang mỗi cá nhân “được sống” bao trùm qua việc này là rất “rối rắm”, rồi kéo theo địa chỉ của hàng lọat chủ thể (pháp nhân, thể nhân). Rồi lại bắt buộc sửa đổi HP (đổi cái vô bổ- tên Thủ đô- k làm thay đổi bản chất thể chế). Chưa cần nói đến bộ phận Dân HN2 vừa mới được “cốp dấu” lại phải “cốp lại” là TL.

    V…V….và V…V,

    Trong khi hàng lọat các vấn đề cấp thiết, cấp bách, thiết thực hơn vạn lần cần phải thay đổi hơn.

    Tóm lại bác Cường đưa vấn đề này để đàm tiếu thì tốt, để thấy sáng tỏ khác biệt thời hủ nho (suy nghĩ hủ nho) khác xa với thời “hội nhập”- cần: thực tế hơn, khoa học hơn.

    Tư duy kinh tế- chính trị một số Bác cao niên, thế hệ chúng em thấy ….không phục.

  4. Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

    …Tại sao làm điều đúng lại phải sợ? Tại sao làm điều tốt lại phải sợ?Xã hội này có phải đã mất hết ý thức về các giá trị làm người rồi không, mất hết ý thức về các giá trị nhân đạo rồi không, mất hết ý thức về công lý, lẽ phải rồi không? Không, tôi không tin là như vậy….

    Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn không phải chỉ nhờ việc những người đấu tranh cho chính nghĩa và cho các giá trị tốt đẹp biết hy sinh, mà còn nhờ việc những người chống lại chính nghĩa và chống lại các giá trị tiến bộ biết nhận ra rằng họ cần ủng hộ lẽ phải. Và nghệ thuật đích thực bảo vệ nhân tính, phát hiện nhân tính kể cả ở những nơi, những lúc, ở những người tưởng như không còn nhân tính.

    Bên Quê Choa có bài “Nhật ký ngày 9/5/2011″ của Nguyễn Thị Từ Huy đọc xong mà cứ ngẫm nghĩ mãi. Đọc toàn bộ bài viết xin BẤM VÀO ĐÂY

    • Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

      Im lặng là hèn nhát, là thiếu lương tâm
      Tổng thống Abraham Lincoln đã nói:
      Trong lúc nên phản đối, sự im lặng làm con người trở thành những kẻ hèn nhát.
      Mục sư Martin Luther King, Jr.:
      Kẻ hèn nhát hỏi, ‘Có an toàn không?’ Kẻ cơ hội hỏi, ‘Có khôn khéo không?’ Kẻ rởm đời hỏi, ‘Có được tiếng tăm gì không?’ Nhưng, kẻ có lương tâm hỏi, ‘Có là lẽ phải không?’ Và có khi ta phải chọn một vị trí không an toàn, không khôn khéo, không để được tiếng tăm gì cả, nhưng ta phải chọn nó, vì lương tâm ta bảo ta rằng đó là lẽ phải.
      Mahatma Gandhi, nhà tranh đấu bất bạo động vĩ đại của Ấn Độ, đã nói:
      Sự im lặng trở thành sự hèn nhát khi tình thế đòi hỏi phải nói ra toàn bộ sự thật và có hành động thích nghi.:x

    • Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

      Xin tì một chút để làm rõ và bào chữa:
      Im lặng trước sự “uy hiếp” bởi hai nữ hoàng tỳ bà bà: Tép Riu và Nước Gạo của Lão Ái và HM là một sự “tự vệ” chính nghĩa. hì hì… :) ;) :x

    • hgiang says:

      öi troi oi ?
      Xin moi nguoi doc tiêp

      Nhật ký ngày 12/5/2011

      Nguyễn Thị Từ Huy

      Sáng nay vị cán bộ quản lý đó lại gọi cho tôi. Ông nói rằng ông mệt mỏi quá, vì bên công an lại đề nghị ông phải làm việc với tôi. Ông nói rằng tôi phải viết một cái đơn gửi lên trường trong đó nói rõ rằng tôi đã ký vào Kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ. Tôi trả lời ông là tôi không hiểu tại sao tôi lại phải viết cái đơn đó. Và tại sao lại phải gửi cho trường, vì trường không liên quan gì đến việc này cả. Tôi suy nghĩ và suy nghĩ, và cuối cùng cũng vẫn không hiểu được. Tôi từ chối gặp ông, vì trong tư cách một người làm khoa học, tôi không muốn làm việc gì trái với các nguyên tắc. Và tôi hiểu mọi việc chưa dừng lại ở đây. Còn đi tới đâu thì tôi không biết. Nhưng tôi không có gì phải sợ hãi. Tôi không làm gì sai, tôi không làm gì vi phạm pháp luật.

      Tại sao không được phép làm điều đúng ? Tại sao không được phép làm điều tốt ?

      Có lẽ chú Phạm Toàn nói đúng, rằng cuộc sống vẫn nói to với ta là không thể ảo tưởng, rằng hình như xung quanh ta, mọi thứ đang có màu máu và mùi vị thuốc súng.

      Tuy nhiên, chú Toàn ơi, cháu vẫn phải tiếp tục ảo tưởng, vì cháu không thể nghĩ rằng ta đang tồn tại không phải giữa những con người, rằng ta đang tồn tại cùng với những kẻ đã mất hết tính người. Chú có nhắc đến Javert, thật là hay. Đó là một ví dụ rất đẹp trong văn chương cho thấy rằng tính người là một cái gì rất khó hủy diệt. Sắt đá và máy móc trước pháp luật đến như cảnh sát Javert mà cuối cùng đã chọn cái chết. Tất cả chúng ta còn nhớ rằng chính Javert đã tự tử sau khi tha cho Jean Valjean, kẻ mà hắn đã theo đuổi suốt đời mới bắt được. Tác giả không phân tích một lời nào về tâm lý nhân vật, không nói một lời nào về việc tại sao nhân vật tự tử. Độc giả không được giải thích vì sao Javert tự chọn cho mình cái chết. Nhưng độc giả hoàn toàn hiểu rằng, cái chết của Javert chính là sự chiến thắng của nhân tính.

  5. VVP says:

    Danh có chính thì ngôn mới thuận. Ít thấy trong lịch sử các nhân vật có tên tuổi được lưu lại với tên xấu cả. Mọi người ít ai chú ý là tên Hà nội, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây đều là địa danh có từ lâu bên Tàu, có lẽ tư tưởng thuần phục thiên triều đã đi vào máu của các nhà cầm quyền nên ở đâu cũng muốn có địa danh như ‘mẫu quốc”,đáng tiếc là đến cái thời sát nhập vĩ cuồng lại có cả Hà Bắc cho đủ bộ. Thế mới biết cái nọc vong bản nó còn ăn sâu lắm, bất kể là tầng lớp nào trong XH Việt nam.
    Cái tên Thăng long vừa đẹp về ngữ nghĩa, vừa đẹp về hình tượng và lại có “bản quyền” của một quốc gia độc lập thế mà không dùng thì là ngu hay vì mục đích vị kỷ mà thôi. chả hi vọng gì tìm được ánh sáng ở giữa đường hầm, nên chúng ta còn phải lần mò tìm đến cuối đương hầm mơi hi vọng có vài tia sáng.

    • Người quan sát says:

      Đồng chí WP dùng những từ “ngu”, “nọc vong bản” mang tính phá hoại nhiều hơn là góp ý để người khác nghe. Dù sống trong thế giới ảo chúng ta cũng nên tỏ ra văn minh một chút.

  6. Quý Vũ says:

    Tên TL hay HN đều có ý nghĩa mặt này mặt kia nhưng để có thể đổi tên gọi của thủ đô, là một điều không dễ, phải có sức thuyết phục rất lớn mới có thể làm được điều này.

    Với tôi thì “khoái” tên HN hơn bởi ngày xưa lúc…. ván chưa đóng thuyền, chưa đến HN mà cứ nghe:

    Lý Trần thiên tải phồn hoa địa / Tịnh tác hồ đầu nhất dạng thu…..

    là trái tim cô đơn cứ thôi thúc phải tìm…. dáng thu ở….bờ hồ HN nào cũng được, hehe!
    Cũng suýt làm rể HN…. mấy lần!!!

    Giờ đây sau bao nhiêu năm, thỉnh thoảng điện thoại nhà reo với đầu kia là (04), thì có khi cũng giật thót cả người….hồi hộp lẫn mộng….mơ(?) và “nhớ người HN” chứ chẳng thể nhớ “cố nhân TL”………

  7. cua đồng says:

    Bác Tổng khéo chọn bài.Đúng tủ của các cụ Hà Thành.Không thấy phản ứng của tác giả…

  8. [...] luận giữa Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng. – Nguyễn Cường: Lấy lại tên Thăng Long cho đất Việt (Hiệu [...]

  9. [...] luận giữa Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng. – Nguyễn Cường: Lấy lại tên Thăng Long cho đất Việt (Hiệu [...]

  10. nguoitrungnien says:

    @anh HiệuMinh : sao tựa bài lại là “lấy lại tên Thăng Long cho … đất Việt “ ? Không chuẩn lắm ! Đúng ra nên là : Lấy lại tên TL cho thủ đô ! Còn nếu nói về đất Việt thì nên có một entry khác tựa là : Lấy lại tên (VNDCCH ?) cho đất Việt .

    Tiếp theo entry về tên thủ đô khá lý thú, anh làm một entry khác về tên nước đi. Hay là cho công bằng, anh làm thử một entry : “lấy lại tên Saigon cho thủ phủ Nam bộ” đi ! Hix, anh mà đặt vấn đề này ra, thì gan lắm và lớn chuyện đấy, hihi.

    • Kim Dung says:

      Hi…hi…NTN thách đố Tổng Cua gan trời. Tổng Cua thì có gan Cua. Nằm im thin thít trong hang từ hôm qua rùi, sau khi trót đòi đổi tên Thăng long cho …Đất Việt. he…he..

    • qx says:

      hehe bác Trung Niên, nếu lão HM mà đặt vấn đề đó bằng một entry thì sẽ có một đống bao cao su xài cả đời không hết.

    • Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

      Bác Chăn Bò Lương Thiện chỉ được cái xúi đúng.
      Để động viên HM cho một entry như thế, mình xin làm thử đôi dòng (in my own words) tại sao cần phải đổi tên nước, tên Đ, và trả lại tên Sài Gòn nhé.

      Mac-Lê, Cộng sản, XHCN…gì gì , cũng xuất hiện & tồn tại có lý do của nó. Vấn đề là ở hai chữ “phù hợp”. Xã hội & Tri thức loài người luôn vận động, thể chế xã hội cũng vậy.

      Chúng ta đã bàn hết cả giấy mực con đường nào để VN tiến lên. Cho dù không nói ra, nhưng có lẽ, đại đa số đồng ý sẽ phải là một nền chính trị dân chủ và kinh tế thị trường. Thời này tạm gọi là …thời bình, hầu hết chúng ta tự khép lại quá khứ và tự cho rằng mình có ít nhiều trách nhiệm với đất nước đang cưu mang bản thân và gia đình…Và quả thực, tui không hề thấy ở thể chế XHCN, những khả năng thích ứng với sự phát triển ở thời đâi trong một đất nước hòa bình , tui không thấy nó có những lý thuyết đủ thực tế, thực dụng… khả dĩ áp dụng hiệu quả cho nền Kinh tế nước nhà ( cả vi mô hoặc vĩ mô ). Nó đã được xây dựng có lẽ đúng trong giai đoạn khủng hoảng giai cấp trong xã hội, nó tồn tại cho một sự phản tỉnh cần thiết đối với loài người , nó hợp với sự đấu tranh giai cấp hơn…..chứ không phải đúng cho sự phát triển Kinh tế quốc dân của thời bình, đặt biệt là “kinh tế hội nhập” của hôm nay ( nói thẳng luôn là nền kinh tế Tư Bản Chủ Nghĩa của hôm nay tại VN ).

      Cũng xin nói thêm một tí : Dân chủ có một ưu điểm cực “hay” : Thông qua việc ủng hộ “Tự do ngôn luận”, thể chế Dân chủ tự chứa bên trong nó một “khả năng vô tận đưa ra các giải pháp”, đó chính là công cụ chủ yếu để cho phép xã hội loài người tiến hành việc tự hoàn thiện …nhay cả sửa đổi lại chính khái niệm Dân chủ ! Mặt khác, Dân chủ đã tồn tại (và sẽ tiếp tục tồn tại ) trên 300 năm nay, trong khi chủ thuyết Mac Lê, Cộng sản, XHCN…gì gì, đang phải “thay đổi hẳn diện mạo” dù chỉ ra đời mới có hơn… 70 năm đã dẫn đến sự sụp đổ của khối CS Đông Âu và hiện chỉ còn lèo tèo vài nước tự cho rằng mình vẫn theo thế chế XHCN! Tôi đã có tham gia ý kiến về Gorbachev trong những entry trước, nhưng thực ra ông chỉ là kẻ châm ngòi nổ cho một sự đổ vở, cho những nguy cơ tiềm tàng, sẵn có bên trong nền Chuyên chính vô sản!

      Sự thành thật là con đường giải quyết vấn đề một cách ngắn nhất. Đã không còn là XHCN (Kinh tế và chính trị Đầu tư bản, đít CS), không còn là CS nữa thì tại sao không tại sao không đổi tên nước, đổi tên Đ để rõ ràng, minh bạch cho nhân dân cùng tham gia thảo luận, phản biện những vấn đề liên quan đến dân tộc, đất nước.

      Thể chế “cũ” , nó không sai, không đúng ….nó đã quá lỗi thời và đã mất toàn bộ tính thuyết phục của ngày xưa , cái mà đã cho nó những lý do mạnh mẽ để xuất hiện và tồn tại…Còn hôm nay,nó đã cho thấy nó tự chứa bên trong quá nhiều ảo tưởng, nguy cơ, sai sót trong mội trường Kinh tế hội nhập, một nền Kinh tế có “cái nền” khá rõ và khá “phản phúc” đối với lý thuyết Vô sản là sự Tư Hữu ! Tư Hữu kèm với những đặt tính vốn có của nó ,là một Sự thật đang hiện diện và đang được thúc đẩy ở Việt Nam. Nó ảnh hưởng “liền liền” trước mắt tui và hơn 86 tr người Việt khác bao gồm luôn các vị “Đảng viên làm …kinh thế” đấy đầu với lý luận “vô sản”…..Do đó, với tui, nó hoàn toàn không phải là …”chuyện đùa chơi”, không phải để mà bị biến thành trò chơi chữ nhàm chán kiểu như những gì là “ Kinh tế nhiêu thành phần theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” ???. Nói cách khác, chơi chữ như vậy vẫn không tránh khỏi tạo ra một “căn nhà đầy khẩu hiệu mà không có nền, lại đầy rác rưởi của ngụy biện và giả dối! Và ví như , có ai đó có thắng trong lập luận ngụy biện và ảo tưởng này, thì cũng chỉ là một cái Thắng để mà …chờ Thua mà thôi ! Nên hay không, hãy nhìn thẳng vào yêu cầu thực tế của ngày hôm nay và mạnh dạn tiến hẳn về với Sự thật? ”Đi chung” với sự thật một ngày, là một ngày chúng ta có quyền hy vọng tiến gần đến những thành quả vững chắc nhất cho nền Kinh tế, giáo dục, và văn hoá của đất nước!

      Về vấn đề “trả lại tên Sài Gòn” chắc chúng ta cũng không lạ gì đã có nhiều tranh cãi, bàn bạc. Ở đây, tôi xin nhắc lại, Nhận xét, phê phán & so sánh phải không để rớt mất chữ “phù hợp”. Ngày nay, dân việt hầu hết đã tự khép lại quá khứ, xoá bỏ hận thù, hoà hợp hoà giải. 30 tháng 4 không còn là ngày quốc hận và cũng không còn mang ý nghĩa “giải phóng” mà là ngày vui của hoà bình lập lại, chấm dứt chiến tranh.

      Những thành phố của nước Nga: Stalingrad, Leningrad cũng đã trả lại những tên nguyên thuỷ. Nếu có ai bảo Nga khác, ta khác, thì xin hảy nhìn lại lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của Đại Việt, trải qua bao triều đại thăng trầm, ngay cả triều Lý thịnh nhất, hỏi thử có vùng đất nào, thành phố nào mang tên của một vị vua, một lãnh tụ???.

      Đơn cử vài dòng thế thôi, bác nào muốn “ném đá” thì xin tự nhiên nhé! Em đã cầm dép lên rùi, tẩu vi thượng sách hì hì..
      Sống …chính nghiệp, viết bài…ta giải trí
      Chốn hang Cua, nỗi lẫu vẫn còn sôi! :) ;) :D

      Ai Nghĩ Dùm Tôi

      • vd says:

        Em nghĩ theo tính tất yếu của sự ra đời, tồn tại và phát triển của mọi sự vật và sự việc thì khi một sự vật hoặc sự việc nào đó xuất hiện, mặc định xuất hiện một cách gọi để phân biệt nó với những cái khác và cái tên chính là tổ hợp âm thanh riêng để gọi định vị nó, hoặc một tổ hợp chữ viết để viết ra nó. Do đó cái tên về bản chất là một yếu tố cần phải có để phân biệt sự vật và sự việc khác nhau.

        Khi sự vật hoặc sự việc biến động, tức đã có sự thay đổi so với trạng thái trước thì tương ứng tự động phải thay đổi cách gọi để phân biệt được trạng thái mới của sự vật, sự việc, mà thực ra là những cái khác.

        Cho nên, các bác yên tâm, cái tên CHXHCN Việt nam dù có người không muốn thì trước sau cũng sẽ bị thay vì về thực chất nó ra đời vào năm 1976 cùng với trạng thái đất nước ta thời ấy, chứ bây giờ thì khác xa rồi. Còn khi đổi thành gì thì lại phụ thuộc xyz …yếu tố vào đúng thời điểm đó.

        Một cái tên là một tập hợp từ ngữ gồm thành phần cơ bản và thành phần phụ để định vị. Ví dụ yếu tố Việt không thể mất đi trừ khi người Việt biến mất, thế nhưng các thành phần bổ nghĩa có rất nhiều để chỉ những cái liên quan đến người Việt, theo chiều dọc lịch sử cũng như theo chiều rộng không gian có yếu tố Việt.

        Một ví dụ vui. Con cóc là cái tên để chỉ con cóc, hi hi. Nhưng trong chuyện cổ tích, con cóc ấy biến thành người thì người ấy được gọi là người cóc ( nàng tiên cóc nếu là gái và đẹp ).

        Sau này khi người ta muốn gọi VN vào thời điểm này chắc phải nói, viết như sau: ….Việt nam, thời còn có tên gọi là CHXHCN VN, lúc ĐCS còn lãnh đạo, vào thời điềm mà….

        Dài quá nhưng thế mới đủ. He he.

    • xoithit says:

      Bác chăn bò đúng là già rồi, hay quên.

      Quốc hiệu cũng đã có 1 bài rồi, chính bác tham gia cũng rất nhiệt tình :-P

      http://hieuminh.org/2010/09/02/suy-tu-ve-ten-goi-to-quoc/

  11. [...] Nguyễn Cường: Lấy lại tên Thăng Long cho đất Việt (Hiệu [...]

  12. nguyên says:

    Đồng ý là tên TL hay hơn HN,nhưng cái cách bác này “nập nuận” rất tầm phào, vòng vo và lại là mục tiêu là lên án triều đại nhà Nguyễn mà cụ thể là Minh Mạng. Có lẽ chăng NC là con cháu người Chăm ? Minh Mạng là 1 ông vua triều Nguyễn có những chính sách triệt tiêu hết hy vọng của người Chăm trong việc đòi tự trị,nên người Chăm rất ghét Vua Minh Mạng. Niên hiệu Gia Long là chữ ghép từ Thăng Long và Gia Định, Và lên ngô ở Huế. Vậy là ý tưởng thống nhất,liền lạt từ Nam tới Bắc. Có gì phải chê trách ?

  13. Mọi lập luận chẳng có ý nghĩa gì đối với cái tên riêng đã thành kỉ niệm ,đi vào tâm thức nhân dân, tự nó sinh sôi ra các lớp nghĩa khác nhau.Tuy nhiên tôi chỉ không thích cái tên ấy vì một lẽ nó trùng với tên mộtt tỉnh của Trung Quốc.Hơi buồn ở chuyện này…Có nhiều tên tỉnh trùng quá.Không nước nào như vậy.Buồn…Thế thôi.

  14. [...] Hiệu Minh Lấy lại tên Thăng Long cho đất Việt [...]

  15. Hà Linh says:

    Em thì em không quan tâm lắm chuyện cái tên, em quan tâm về chất lượng sống của người dân Thủ Đô và những hành xử của chính quyền Thủ đô sao cho xứng đáng là một chính quyền “thanh lịch”, một thủ đô-nhận nhiều ưu đãi của người dân một nắng hai sương của cả nước. EM chỉ mong sao có ngày dạo Thủ Đô mà tay không phải ôm khư khư cái túi vì sợ móc túi thôi không mơ ước cao xa gì! ừ thì đành rằng nơi nào mà chả có tội phạm nhưng mà cứ xem như là ra một bài tập là ” Một ngày Thủ Đô ta không có móc túi, không văng tục, chửi bậy , vứt rác bừa bãi” xem sao.
    Với em tên sân bay Nội Bài cũng chẳng sao miễn là khi em làm dịch vụ ở sân bay em được nhân viên mặt đất phục vụ đúng chuẩn thôi chứ chưa cần phải quá là ” vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”…

  16. Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

    Thú thật, mình không phải là người Bắc, đặc biệt không phải là trang thanh lịch Tràng An, Mặc dù có đọc sách và đi du lịch nhưng chẳng biết nhiều về Hà Nội, nên chẳng biết viết gì. Vậy mà cũng tốn mất hết gần 20 phút để đọc hết các còm ở đây. Cái nghiệp chơi blog nó khổ thế! chợt nhớ bạn nào nói rằng: vào blog chơi là đã sai mẹ rồi! đúng thật.
    Đằng ấy KD và DQ ơi! cưới tớ với:

    Nghiệp Bờ lốc (blog)
    Dấn thân vào LỐC cũng cực ghê.
    Nhất là cho kẻ chuyện mê mê.
    Tinh sương, lướt LỐC nào đâu quản.
    Tối mịt, rè comm cũng chẳng nề.
    Tranh luận dăm câu trí vật vờ.
    Tán tỉnh đôi dòng chuyện bỏ bê.
    Thương con, nhớ vợ đành cam chịu.
    Sự nghiệp tan tành với Lốc lê.
    hu..hu
    :) ;) ;x
    Ai Nghĩ Dùm Tôi

    • Hiệu Minh says:

      Entry ơi en ở lại nhà
      Virus en diệt, còm già en thương
      LỐC già một nắng hai sương
      Còm sỹ đi mất trăm đường xót xa.

      Van còm, còm ở lại nhà
      Còm đi để lại muôn vàn đau thương
      Hôm nay xác phím đầy đường
      Ngày mai khói chuột còn vương khắp làng

      Chuyến này già LỐC sang ngang
      Là tan triệu hít vàng từ nay.
      Lần này LỐC quyết ra đi
      Là LỐC không hẹn ngày về nữa đâu.

      Còm về thương lấy sỹ già
      Đừng mong BỜ LỐC nữa mà uổng công
      LỐC giờ sống cũng như không
      Coi như LỐC đã sang sông shutdown.

    • Daqui says:

      Cả 2 Bài thơ của hai ” chàng ” đều rất hay . Tiếc là DQ ” mù ” thơ nên ko họa lại được !Nhưng hai ” chàng ” cứ an tâm đi , chắc Kỳ Duyên Nữ sĩ đang còn bận mơ giấc mơ êm ái cùng …Ai !? Rồi nàng sẽ phúc đáp … đến nơi đến chốn nhá . Cảm ơn cả hai rất nhiều về những vần thơ rất ruyên !

    • Kim Dung says:

      Chít cười
      To ANDT: Sao chúng tớ lại phải “cưới” Đắng Ấy nhể? Chúng tớ có tội tình gì đâu cơ chứ?

      Vừa dậy, đọc được 2 bài thơ Cua Cóc, buồn cười quá. Tớ xin góp thêm một bài Cua Cóc nữa:
      ————-

      Ai sinh Blog Bleo
      Để cho Ai phải đi theo thế lày
      Leo đêm rùi lại leo ngày
      Leo lên leo xuống thân gầy xác ve

      Cũng toan dứt bỏ cơn mê
      Cũng toan rũ áo đi về với…trâu
      Nhưng đời sắc sắc không không
      Nhưng tình đâu dễ tơ lòng đứt đoan (đoạn)

      Thế nên Ai lại ngó ngàng
      Lại Leo, lại Lốc với chàng Tổng Cua
      Lại Cải một bên, và Duyên một bên
      Lại lên lại xuống với miền entry

      Comm cho chàng Tổng mê ly
      Comm cho nàng Cải vân vi nụ cười
      Comm cho nghiêng ngả đất trời
      Comm cho cuối mắt đầu môi mới là

      Comm xong, thấy 2… bà già
      Tóc bạc, móm mém và…ha..ha…cười
      Hỡi ơi Ai Nghĩ Dùm Tôi
      Lốc, leo để mặc… chạy thôi thân mình

      Nghĩ về Lốc mà… thất kinh!

      • Daqui says:

        Ha ha ha , Kỳ Duyên ơi , ko bít hai ” chàng ” mà vô tình gặp chúng mình thì có cần đến … ” áo phao ” ko KD nhể ?

      • Kim Dung says:

        Hu…hu…Sao ko thấy chú dể cất tiếng, ca bài ca “phiêu lưu cưới” nhể?

      • Daqui says:

        Ai bẩu nàng lại gợi ra cái… viễn cảnh nong nanh ” 2 bà già tóc bạc móm mém ” làm cho ” chàng ” chạy đứt mất dép rùi . Bắt đền nàng đấy , huhuhu !

      • qx says:

        Chàng đi mua sữa cho sắp nhỏ chưa về, hai nữ cảm phiền chờ một chích, đa tạ.

        :))

      • Kim Dung says:

        Ừa. Chàng đi mua sữa lâu quá nhẻ? Chắc quên ba toong. Làm cho 2 nữ đây mỏi lưng quá. Hị…hị..Ai Đấm Dùm Tôi ơi!

      • Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

        Xưa: “thất thập cổ lai hy”.
        Ngày nay thất thập cái gì cũng chơi.
        Tinh mơ, đã lướt mạng rồi.
        Tối mò, vào Lốc vẻ vời dạo chơi.
        Rê “chuột” tìm khắp nơi nơi
        Gặp khi hai ả dạo chơi kinh thành
        Xiêm y đủ trắng, vàng,xanh
        Thân mùi ngan ngát ngỡ ngàng mọi nơi
        (Thịt cá thì chỉ ăn chơi
        Tất cả chủ yếu là xơi khoai mì :))
        Duyên là chị, em Dã Quì
        Nữ hoàng Tép-Gạo ai bì sánh hơn
        Lão Ai mặt nghệch băn khoăn (nghi là bị trúng ám khí… :) )
        Tợ như Ngổng ỉa, bần thần chọn ai?
        Chắc là trời đã tính sai.
        Tuổi tôi bẩy chục chia hai (cũng) chẳng vừa.
        Thôi thì tình thật xin thưa
        Nhường hai nường lại cho ngài HM…he he.. :) ;) :D

      • Kim Dung says:

        HM nghe thấy thất kinh
        Tự nhiên lại vác 2 khối tình… dai dai
        Răng là rụng, điếc là tai
        Mắt thì hoen lệ, hai vai thì còm

        DC sống mỏi sống mòn
        2 con, một vợ vẫn còn rất tơ
        Ai hay Cua rất mộng mơ
        Tóc thì xoăn tít như thơ ko vần

        Tình iu đến, thấy thất thần…
        Như giông, như bão, như sóng thần Ai ơi!!!

      • Đâù bài :”Lấy lại tên Thăng long cho Đất việt” -> Thong thả
        Giữa bài :”Trả lại tên cho em” -> Dồn dập
        Cuối bài :” Trả lại các người Đẹp cho Cua” -> Ngay lập tức

        Sướng nhất vẫn là Tổng Cua!
        Quăng đi, quăng lại vẫn vào… lòng Cua

      • Kim Dung says:

        Kết: Có Hậu (tức Hà Thiên Hậu):
        ————————-
        Thực ra Cua chỉ đi Hầu
        Thiên Hạ đích thực mới là việc Cua
        Hơ…hơ…

      • Luận tranh cháy cả… đàn (diễn đàn)
        Luận bàn tràn cả … lốc (Blog)
        Luận thảo lao đao… nghị (nghị trường)
        Luận bình lình xình … vỉa (vỉa hè)

        Thăng long chẳng thấy… “thăng” (phát triển)
        Hà nội vẫn cứ …lội (như sông)

      • Hoai Huong says:

        Chị yêu ơi, ai dè chị cũng “quái” và hài hước đến chết người. Đọc mấy bài thơ của chị em dù có đang mặt lạnh cũng phải nghiêng ngả, làm thiên hạ ở gần bên tưởng em có vấn đề thần kinh. Nhưng quả thật, đọc cái entry này của HM, rồi các comments của mọi người, em rơi từ trạng thái cảm xúc này sang trạng thái cảm xúc khác, từ hỉ đến ái.
        Dù sao với em, Thủ đô VN có đổi thành tên gì gì thì nét đẹp vốn có của đất Kinh đô vẫn chẳng thay đổi, người đẹp Kinh đô (như chị là một trong những đại diện) cũng mãi mang vẻ đẹp không bao giờ mất, đó là những giá trị phi vật thể trường tôn.
        Thủ đô VN có đổi tên gì thì tình yêu của em với Thủ đô không có gì khác biệt. Cũng như trong một lần trả lời phỏng vấn áo chí, khi người ta thắc mắc cái giọng nói Thủ đô “rặt” của em, em đã trả lời: Tôi sinh ra được uống nước sông Hồng nên…. Và em tư hào, rất tự hào về điều đó.

      • Kim Dung says:

        Hi…hi…Chào em HH: Khổ lắm! Có một chàng, tự nhiên đòi cưới 2 chị em, Nữ hoàng Tép Riu và Nữ hoàng Nước gạo, khi mà chàng Ải đã đùm đề vợ nắm, con dắt rùi. Nên chị đành công khai cả nhan xắc, xức khỏe, cả tài lăng của 2 chị em.

        Ảnh sợ quá, nên đẩy cho Tổng Cua. Từ lúc đó, Tổng Cua nằm im thin thít trong hang, lấy cớ là trót phạm húy chính trị, đòi đổi tên Thăng Long cho Đất Việt. Từ hôm qua đến nay, đố dám ló mặt ra!:)

        Còn chị thì ko coi trọng lắm chuyện đổi tên. Miễn là HN- hay TL…đều phải trở thành một thủ đô đúng nghĩa, có văn hóa thanh lịch, có sự tinh tế, trên nền tảng bề dày của học vấn.

        Thủ đô ko phải là thành phố kinh tế, hay công nghiệp. Thủ đô chỉ là trung tâm hành chính, văn hóa và khai thác du lịch

      • Daqui says:

        Kì Duyên ui , xem ra tình hình cũng rất chi là …tình hình nhẻ ? Tớ tuy cũng là ” Nữ Hoàng ” ( Nước Gạo chứ ko được là Tép Riu như cậu ) , nhưng chỉ là người Hà Lội thôi . Lại ko bít nàm thơ , và còn ô mai xấu quá date nữa , huhu !
        Thôi thì DQ lặn đây , để “chàng” Đằng Âý … “cưới ” cậu và khỏi phải ” chia đôi tuổi ” ( hì hì , nếu để nguyên thì hơi bị chẹp đôi KD nhể ?). Và ” chàng ” Tổng Cua cũng ko phải mang theo khối tình …”dai dai” nữa , mà còn bò ra để post Bài mới kẻo Bà con đang mong , nhá nhá !

  17. Trung says:

    Em xin lỗi bình luận 1 câu: “NHIỄU CHUYỆN”. Các bác hết việc khác quan trọng hơn rồi à? Mà đưa chuyện thay tên đổi họ ra mà cãi?

  18. qx says:

    Hình ảnh của bài cái đẹp, cái xinh hehe…

    qx

  19. Phọt Phẹt says:

    Thôi xin các bố. Cứ đặt luôn là “Thành phố Nguyễn Văn 1…”, “Thành phố Lê Thị 2…” thì là ổn tất.

  20. NGUYỄN ĐÌNH HƯNG says:

    TIẾC NHỂ!Trước khi kỉ niệm một ngàn năm Thăng long,anh TRỌNG triệu tập QH họp bất thường đổi tên HÀ NỘI thành THĂNG LONG thì có phải phù hợp với ý nguyện của tám chục triệu dân VIỆT(trong đó chị TRẦN THANH VÂN đã khởi xướng từ lâu).
    Tôi tin,tên “THĂNG LONG” sẽ được đổi lại.Nhiều tên đường ở Hà nội mới đặt SẼ BỊ XÓA.
    HÃY CHỜ XEM.

  21. Hiệu Minh says:

    Đề nghị bác Nguyễn Cường lên tiếng, re-com nhé. Tổng Cua không dám nói gì đâu :)

    Entry này có nhiều điều thú vị, mới lạ nên mới gãi ngứa cho các bác tranh luận. Các comment rất hay và trí tuệ.

    Nếu ai không còm thì nhìn mấy em trong ảnh minh họa cũng đủ mát mắt. Hay là bác nào làm một entry bảo vệ tên Hà Nội đi.

    Cảm ơn các bác nhiều.

    • gocsayblog says:

      Nhà cháu không ‘bảo vệ’, vì tên Hà Nội có tội tình gì đâu.
      “Hà Nội đó niềm tin yêu hy vọng…của hôm nay và mai sau”- Phan Nhân
      Nhưng nếu được bỏ phiếu thì nhà cháu thích tên Thăng Long hơn, có nhẽ nó cũng là bệnh nghề nghiệp.

      • Hiệu Minh says:

        Tôi đang đọc còm mà buồn cười vì bác Gốc Sậy nhẩn nha thả chữ, hóm cực kỳ.

      • Thùy Dương says:

        Nhà anh gốcsậy là dân khảo cổ, khoa sử. Đúng học trò thầy Vượng nói chuyện hóm y như Thầy.

      • Hiệu Minh says:

        Thế thì bác Gốc Sậy này là vua Hùng thứ 20. Vua Hùng thứ 19 là giáo sư Vượng :)

      • Daqui says:

        Nói về chuyện ” Hóm ” thì DQ có một kỉ niệm vui vui với ” Vua Hùng thứ 19 ” . Hôm ấy đúng vào ngày 1/4 năm lâu lắm rồi . Mình nghe một giọng đàn ông trầm qua đt báo tin GS TQV ” đã bị mất đêm qua rồi ” . Tất nhiên là mình đã bàng hoàng cả người , nhưng vẫn cố hỏi lại người có giọng nói hơi giống GS Vượng , thì được trả lời biết đt của mình vì có trong sổ đt gđ !Thế là mình vội báo tin cho bạn bè , thân quen biết . Và cũng có một số lại báo tin đi tiếp … Cho tới khi mà GS mất thật thì ko biết có ai lại …ko tin là chuyên thật ko !?

      • gocsayblog says:

        Nhà cháu không dám, không dám, nhất định không dám nhận những lời quá khen của các bác.
        Nhà cháu là NGHỊCH tử của Thầy Vượng thôi ạ. Chả làm được cái gì sất. Can cái tội vì chót được nghe Thầy giảng nên thi thoảng cứ mắc bệnh NGỨA LƯỠI .

        Chuyện mà bác Daqui kể thì là chuyện có thật mà nhà cháu bị “mắng tắt bếp”. Một đêm, chính Thầy bốc điện thoại gọi khắp nơi, xưng tên nhà cháu, thông báo GS Vượng đã mất. Loạn cả Hà Nội đêm đó, nhưng nhà cháu ngủ tít chả có biết gì (vì ai lại đi báo tin lại cho người báo tin đầu tiên). Khi biết chỉ là test đùa thì nhà cháu lại bị nghi tối ấy đã a-dua với Thầy (thậm chí là chủ mưu) để chọc thiên hạ.

        @ Bác Trần Thanh Vân: Dạ, xin bác cho nói thẳng (tính nhà cháu thế, không sửa được), bác giảng: Tế lễ Đàn Xã Tắc là tế Thần Nông là SAI mất rồi ạ!

        Đàn này ( 社 稷 坛 ) được dựng để tế thần Xã (社 tức thần Đất) và thần Tắc (稷 tức thần Lúa/thần Mùa Màng). Còn tế Thần Nông (神農- nhiều khi gọi là đàn Tiên Nông) lại là ở 神农坛 – một đàn tế hoàn toàn khác ạ.
        (Nhà cháu cóp-pết chữ khối vuông để bác tiện kiểm tra, chứ chữ thày cũng giả thày hết rồi ạ)
        Nhà cháu dám mạo muội nói đế dưới còm của bác là vì đọc xong lại thấy nổi bức xúc vì các địa linh của Thăng Long bị xóa không thương tiếc thôi ạ!

        Mong bác bỏ quá! Đừng “giận cá chém thớt” đến mức gọi nhà cháu là “Anh GS ( Gốc Sậy, Gốc Sung gì đó )”.
        Nick của nhà cháu chưa bao giờ viết tắt là GS (ai nhầm với Giáo Sư thì phiền lắm) và Gốc Sậy thì KHÁC gốc Sung chứ ạ?

      • Daqui says:

        Bạn gocsay mến , thảo nào lúc ấy DQ cứ ngờ ngợ ( giọng người đàn ông báo tin ) giông giống giọng thầy Vượng .Hóa ra lại đúng là … thầy thật !

  22. Thao says:

    Bác Kiên khảo cổ giải thích thì chắc là đúng rồi.

    Nhiều người giải thích Hà Nội là đất (thành phố) trong sông, em thấy thuyết phục hơn. Em còn thấy điều này: Sông Nhị Hà, hay Nhĩ Hà (sông có hình vành khuyên đeo tai) là đoạn sông Hồng, (sông Cái) chảy qua Hà Nội. Hà Nội nằm bên hữu ngạn Nhĩ Hà.

    Bác Nguyễn Cường tán rộng quá, lập luận không thuyết phục. Nhưng cũng cám ơn bác đã cho chút thư giãn và gợi lại cái tên hào hùng một thuở: Thăng Long; hào khí một thuở: Hào khí Thăng Long.

  23. Ngụy Triều says:

    Hà Nội đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử như: Tống Bình, Đại La, Long Đỗ thời Bắc thuộc.
    Khi Việt Nam giành được độc lập, Hà Nội lúc đó trở thành thủ đô của Đại Việt từ thế kỷ thứ 11, với tên gọi Thăng Long. Nhưng cái tên Thăng Long ấy không tồn tại xuyên suốt cho đến khi được gọi là Hà Nội vào năm 1831 mà đã từng được gọi là Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh, Bắc Thành .
    Hà Nội còn có nhiều các tên gọi không chính thức khác, chủ yếu xuất hiện trong văn thơ và dân gian: Trường An hay Tràng An, Phượng Thành ha Phụng Thành, Long Thành, Long Biên, Kẻ Chợ (trong dân gian); Thượng Kinh, Kinh Kỳ, Hà Thành, Thành Hoàng Diệu.
    Lấy lại tên Thăng Long cho Đất Việt. Thế có cần lấy lại tên cho đất Việt: Không phải CHXHCN Việt Nam mà là Đại Việt như thuở khởi đầu có cái tên Thăng Long?!

  24. KTS Trần Thanh Vân says:

    Tôi là người đã cùng Gs Ts Vũ Đình Cự, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, chính thức viết “ĐƠN THỈNH CẦU PHỤC HỒI TÊN KINH ĐÔ THĂNG LONG” gửi đến “Tứ trụ Triều đình” và tất cả các cơ quan có liên quan với rất nhiều cứ liệu kèm theo để chứng minh lý lẽ, sự cần thiết và tầm quan trọng, từ giữa năm 2006.
    Hội KHLS Việt Nam đã nhận trách nhiệm TỔ CHỨC HỘI THẢO Ở VĂN MIẾU, mọi người hồ hởi, rầm rập ….
    Rất tiếc, tâm huyết đó như đấm vào bị bông. Không một ai trong “Tứ trụ Triều đình” hiểu và ý thức được sự cần thiết phải làm việc đó, nên họ đã lờ đi.
    Bởi vậy, tôi đã chán, không muốn nói nữa.

    Bạn Xôi thịt nói cũng đúng, cái “xác” thành phố mới là cái cần phải quan tâm. Thành phố Hà Nội hôm nay đã nát như Tương Bần thế này thì tên đẹp để mà làm gì?. Tác giả Nguyễn Cường phân tích các kiểu chữ Nôm chữ Hán để lập luận cho vui thôi, không lay chuyển được ai cả.
    Việc ông vua Gia Long lên ngôi năm 1802 đã đập tan Hoàng thành Thăng Long năm 1803 và xây thành Voban kiểu Pháp năm 1804. Để xóa hẳn dấu tích xưa, ông vua Minh Mạng đã lập ra tỉnh Hà Nội năm 1831, rồi đến khi người Pháp xây thành phố Hà Nội đã đập nốt những công trình thành quách còn lại và lấp nốt sông Tô Lịch đoạn từ sông Hồng vào qua Cửa Bắc, qua đường Thụy Khuê, qua cửa Hồ Khẩu, vào Hồ Tây … tức là các vua Nguyễn và người Pháp đã làm xong sứ mạng chôn vùi niềm kiêu hãnh của Hào khí Thăng Long. Hà Nội bị triệt Long Mạch rồi, còn đâu Thăng Long nữa?
    Mệt mỏi thật !!!

    • gocsayblog says:

      Nhà cháu khai quật được di tích đàn xã Tắc Thăng Long ở gần Ô chợ Dừa. Thủ tướng từng chỉ thị ‘bảo tồn tốt nhất có thể”. Thế rồi di tích ấy được lấp lại để lấy chỗ làm đường.
      Và người ta tổ chức lế tế Xã Tắc ở CỐ ĐÔ Huế, với ‘tất cả là thật, chỉ vua là giả’, bác Trần Thanh Vân bảo sao ạ?

      • KTS Trần Thanh Vân says:

        Anh GS ( Gốc Sậy, Gốc Sung gì đó ) có hiểu Tế lễ Đàn Xã Tắc là tế gì không? Là Tế Thần Nông, cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt… đó là hoạt động quan trọng của nền kinh tế Nông nghiệp khi xưa. Đến nay, nông nghiệp không phải là duy nhất nữa, mà mấy ông “sính cúng lễ” vào tận Huế để cúng là dở hơi rồi. Thứ nhất, vua không ở đó, họ thay mặt ai để cúng? Thứ hai, khúc ruột miền Trung chó ăn đá, gà ăn sỏi, có thóc lúa đâu mà cúng? Nam Bộ và Bắc Bộ mới là hai vựa thóc chứ? Cho nên, chuyện đó xưa rồi, người ta cần tế cho Boxite Tây Nguyên, hoặc Tế Đường sắt cao tốc Bắc Nam., hoặc gì đó .. Làm nhiều điều có tội thì càng sính cúng lễ mà chẳng biết lễ ai? Cầu cái gì?
        Trái lại,.trong khi đó thì trên Ba Vì , nơi thờ Đệ nhất Sơn Thần đẳng Thánh nước Việt, nghe nói ông PTT Nguyễn Sinh Hùng vừa xây cái đền cao ngất ngưởng để thờ giòng họ Nguyễn Sinh đất Nghệ An nhà ông ấy.
        Đất nước này loạn rồi

      • Thanh says:

        Bác Vân ơi! Dầu tiên chúc bác và bác Trai sức khỏe!
        Còn về chuyện lễ tế trong Huế em thấy cũng tốt, nhưng làm sao tế cho ra tế thôi, nơi nào mà chẳng một dải non sông gấm vóc. Vả lại lại, đàn xã tắc Hà Nội thì lấp đi, đành vào Huế tế thôi bác à.
        Vài ý mọn mong bác Khỏe!

      • Quốc Trung says:

        Bạn Thanh gì đó ơi, cho tôi hỏi một chút:

        Cứ “chiểu theo” mấy ý đã nêu trong
        “Thư ngỏ của TS Nguyễn Hồng Kiên gửi ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch”
        (https://davangblog.wordpress.com/2011/03/24/ts-nguy%E1%BB%85n-h%E1%BB%93ng-kien-trao-d%E1%BB%95i-ti%E1%BA%BFp-v%E1%BB%81-l%E1%BB%85-t%E1%BA%BF-xa-t%E1%BA%AFc/) như:
        “Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ truyền thống quan trọng ở Việt Nam nhằm cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm, thiên hạ thái bình…”.
        “Các triều đại ở Việt Nam, từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn đều cử hành Lễ tế Xã Tắc vào mùa Xuân hàng năm và luôn xem đây là Quốc lễ”.
        Thì tôi hiểu Lễ tế xã tắc và Lễ cầu Quốc Thái Dân an chắc là một, bởi cùng chung mục đích “cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm, thiên hạ thái bình” và đều là “Quốc lễ”, tức ở tầng cấp quốc gia. MÀ ĐÃ LÀ “QUỐC LỄ” THÌ PHẢI LÀ THẬT, PHẢI LÀ TRANG NGHIÊM, không thì TRỜI “có ý kiến” đó.

        Vậy cho tôi hỏi theo qui định chính thức từ thời xưa:
        1. MỘT NƯỚC MỖI NĂM TỔ CHỨC MẤY LẦN LỄ CẦU QUỐC THÁI DÂN AN?
        2. AI LÀ NGƯỜI ĐƯỢC QUYỀN CHỦ TRÌ QUỐC LỄ NÀY?
        3. ĐỊA ĐIỂM TỔ CHỨC QUỐC LỄ NÀY CHÍNH THỨC LÀ Ở ĐÂU?
        4. SAO LẠI LÀ VUA GIẢ?
        Bởi theo những gì tôi “lượm lặt” được sơ sơ gần đây thì:
        1. Trong năm 2010 đã có 2 Quốc lễ “cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm, thiên hạ thái bình” được tổ chức ở 2 địa điểm khác nhau với 2 chủ thể tổ chức khác nhau:
        - Lễ tế xã tắc tổ chức ở Huế ngày 08/4/2010 (tức ngày 24/02 Âm lịch) do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đứng ra tổ chức. (Lễ này được gọi là “phục dựng” và chẳng ai nói là “giả”, lại được tiến hành như thật nên tôi coi ý nghĩa của nó cũng là thật).
        - Lễ cầu Quốc Thái Dân an vào đêm 26/9/2010 tại Sóc Sơn do Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đứng ra tổ chức. (Lễ cầu này lại được lồng ghép trong Lễ yểm tim, khai quang tượng đài Thánh Gióng).
        2. Từ đầu năm đến nay, chỉ riêng ở Huế đã có 2 Quốc lễ “cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm, thiên hạ thái bình” được tổ chức ở 2 địa điểm khác nhau với 2 chủ thể tổ chức khác nhau:
        - Đại lễ cầu Quốc thái Dân an, có Phó Chủ tịch nước tham dự sáng ngày 10/2/2010 (tức ngày 8/02 Âm lịch), tại Thiền viện Hương Vân – Trung tâm Văn hóa Huyền Trân (núi Ngũ Phong, phường An Tây, TP Huế), Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo (GHPG) tỉnh Thừa Thiên – Huế phối hợp với Trung tâm Văn hóa du lịch Huyền Trân long trọng tổ chức.
        - Lễ tế xã tắc tổ chức ở Huế ngày 20/3/2010 (tức ngày 24/02 Âm lịch) do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đứng ra tổ chức.
        THẾ LÀ THẾ NÀO? ĐỀ NGHỊ CÁC BÁC NÀO THÔNG HIỂU TRẢ LỜI GIÙM CHO VỚI.

      • KTS Trần Thanh Vân says:

        Đã bảo “Chán, chẳng buồn nói nữa” thế mà vẫn cứ nói, nói cho đỡ tức thôi, nói với bạn hữu để biết mà chia sẻ thôi.
        Nhắc đến Thăng Long, phải nhắc đến Long Mạch chủ là Sông Tô Lịch, qua 2 câu thơ :

        Sông Tô nước chẩy trong ngần
        Con thuyền buồm trắng lúc gần lúc xa

        hoặc 4 câu:

        Nước Sông Tô vừa trong vừa mát.
        Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh.
        Ngập ngừng muốn ngỏ tâm tình.
        Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.

        Mọi người có biết rằng, chỉ mới cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, các thuyền buôn nước ngoài vẫn ra vào buôn bán trên ngã ba bến Hồng Tân, ( tức chợ Bưởi ngày nay ) ở đó có Sông Tô Lịch và sông Thiên Phù gặp nhau, các dấu tích vẫn còn cả. Hiện vẫn còn Đình Bái Ân, Chùa Bái Ân ( Bái Ân là Tạ ơn Trời Đất ) nhưng người ta cứ lấp sông, người ta cứ xây nhà… khúc sông chỗ ấy nay còn độ 300m… quái thật.
        Cho nên người Hà Nội ngày nay vừa yếm thế, vừa tự ty vừa hận đời… chán lắm

    • Vô tình HTH đọc được bài viết này của KTS. HTH xin phép KTS được copy and paste để các còm cùng đọc.

      Vì sao nên lấy tên Thăng Long?

      Cách đây hai năm, ngay sau khi chương trình truyền hình VTV4 chiếu hết bộ phim “Đèn vàng” dài 12 tập của nhà văn Trần Chiến và đạo diễn Mai Hồng Phong, thì bài viết “ Đèn vàng và nỗi niềm người Hà Nội ” của Trần Thanh Thanh xuất hiện trên báo “ Người Hà Nội ”. Bài báo như một lời cảm thán của bộ phim, phản ánh tâm tư sâu kín của người Hà Nội, muốn thoát ra khỏi số phận của những nhân vật trong phim “Đèn vàng ”. Những con người thông minh, tế nhị, đầy tự trọng, đầy kiêu hãnh nhưng luôn luôn phải sống kìm nén, luôn luôn mặc cảm và luôn luôn phải dấu kín lòng mình.

      Gần đây, phim “Đèn vàng” lại được chiếu lại trên VTV4, vẫn thu hút người xem. Có người xem lại lần thứ hai, thứ ba, có người mới xem lần đầu. Bộ phim đầy cảm xúc của “ Người Hà Nội ” được trình chiếu đúng vào lúc chúng ta đang có nhiều ý kiến trái chiều, có nên phục hồi tên Thăng Long cho Thủ đô chúng ta?

      Hãy tự “ cởi trói ”

      Cuối năm 2006, lần đầu tiên tôi đến thăm giáo sư Vũ Khiêu tại nhà riêng, trao đổi với giáo sư về những cuộc thảo luận của nhiều trí thức, nhà khoa học, và của các kiến trúc sư ý nguyện muốn phục hồi tên Thăng Long thay cho tên Hà Nội, và xin ý kiến giáo sư về tổ chức một hội thảo khoa học chủ đề này. Giáo sư Vũ Khiêu tỏ ra hoan hỷ, khích lệ ước nguyện của chúng tôi. Khi tôi chào giáo sư ra về, ông còn ân cần dặn thêm: “Chị phải nhớ rằng ông vua Gia Long đã trói con Rồng lại rồi đấy, phải thả Rồng ra thôi ”.

      Chỉ một câu nhắc nhở của vị giáo sư già, tôi đã phải đi mầy mò tìm kiếm mất hơn nửa năm. Cuối cùng tại nhà riêng của nhà thư pháp Trần Quốc Chí, tôi tìm ra bí mật của sợi dây vô hình đã trói con Rồng Thăng Long. Sau cuộc trò chuyện, nhà thư pháp cầm bút lông, viết tặng tôi ba chữ Hán.

      Thứ nhất, chữ LONG nghĩa là THỊNH, là GIẦU SANG, đó là tên hiệu của vua Càn Long và vua Gia Long. Năm 1802, ông Nguyễn Ánh đã dựa vào người nước ngoài, diệt nhà Tây Sơn để lên ngôi, lập Kinh Đô ở Phú Xuân- Huế, và đặt niên hiệu cho mình là GIA LONG nghĩa là GIẦU SANG . ( xem chữ Long – Thịnh – ảnh đính kèm)

      Thứ hai, năm 1803 vua Gia Long cho đập HOÀNG THÀNH THĂNG LONG ( vì nó cao to và đầy hào khí, nhà vua không muốn Hoàng Thành mới xây ở Phú Xuân Huế sẽ bị lép vế so với khu thành cũ rêu phong này). Vậy là Hoàng thành xưa có tên là RỒNG BAY không còn nữa, nhưng mảnh đất nơi Hoàng thành đã tồn tại 800 năm vẫn còn và đã trở thành trại lính.

      Năm 1831, vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội, vậy thì trong 29 năm, từ năm 1803 đến 1831, nơi đây được gọi là gì? Một số người gọi vùng đất này là Bắc thành như thời Nguyễn Quang Trung, một số nữa vẫn lưu luyến hình ảnh con Rồng xưa , nhưng không được phát âm chữ LONG, sợ bị phạm húy tên nhà vua, họ buộc phải nói chệch LONG THÀNH ra LUNG THÀNH.

      Theo chiết tự chữ Hán, Lung là chữ Long có thêm bộ trúc, nghĩa là lao tù, là con Rồng bị nhốt trong cũi tre ( xem chữ Long Rồng và chữ Lung ). Vậy là con Rồng bay vút lên trời cao của chúng ta không còn nữa, ai nuối tiếc lắm cũng chỉ được nhìn thấy một con Rồng khác đang bị nhốt trong cũi tre mà thôi.

      Câu chuyện phi lý này đã làm nhức nhối bao nhiêu văn thân nho sĩ nước ta thời bấy giờ, tác động đến cả cậu bé Nguyễn Sinh Cung sinh ra ở làng Kim Liên (Nam Đàn- Nghệ An) cuối thế kỷ thứ 19, rời đất nước ra đi từ bến Nhà Rồng năm 1911, nhưng đến năm 1922 khi vua Khải Định sang Pháp, vở kịch “ Con Rồng tre ” của Nguyễn Ái Quốc đã ra đời.

      Đến năm 1942 ở nhà tù Hồng Kông, bài thơ chiết tự chữ “ngục” của Nguyễn Ái Quốc lại một lần nữa nói về tâm trạng bị ám ảnh của con Rồng nằm trong cũi và ước muốn được tháo cũi sổ lồng : “ Nhà lao mở cửa ắt Rồng bay ”.

      Từ khi người Pháp xây dựng thành phố Hà Nội, hai chữ Thăng Long không còn được ai nhắc đến một cách công khai nữa, nó âm thầm đi vào các ngõ hẻm, các căn gác xép, nó xuất hiện trên những vần thơ u hoài của những trí thức thất thế. Lâu dần nó tạo nên một nếp sống khép kín của giới trí thức Hà thành: Kiêu hãnh nhưng cam chịu, nghe thấy hết, nhìn thấy hết, nhưng chỉ bày tỏ chính kiến bên bàn trà cùng một vài người bạn tâm giao mà thôi.

      Hà Nội đúng là một thành phố trong sông, đẹp một cách êm đềm, thanh lịch, nhưng không sao dấu kín được nỗi bứt rứt của những con người đầy hoài bão, đầy ước mơ nhưng không dám nói thật lòng mình và không bao giờ dám đứng thẳng dậy để biến những ước mơ đó trở thành hiện thực.

      Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bao nhiêu nam nữ thanh niên của Hà Nội đã ra đi, không ít người trong số đó đã bỏ mình nơi chiến trường xa, còn những người được trở về trong niềm hân hoan của bạn bè, của người thân … thì chỉ một thời gian sau họ lại lặng lẽ leo từng bước lên căn gác xép của ngôi nhà cổ, lặng lẽ nhâm nhi tách trà … Rất ít người trong số đó làm nên nghiệp lớn và rất ít người trong số đó mạnh dạn thay đổi nếp nghĩ và thay đổi cách sống để tạo dựng cho gia đình mình và con cái mình một tương lai tốt đẹp hơn.

      Giờ đây, chiến tranh qua đi đã lâu rồi, xã hội đã thay đổi nhiều rồi, cửa đã rộng mở để cho con cháu chúng ta vươn tới những ước mong cao hơn, xa hơn. Nhưng vẫn còn ai đó mang nặng nỗi ám ảnh về sự mất mát của hai trăm năm qua, họ không hài lòng với hiện tại, nhưng họ đang cố níu kéo, họ sợ bị biến động, họ sợ bị mất hết.

      Không đâu bạn ơi, nhân danh là một người dân Hà Nội gốc Thăng Long (nghĩa là có cụ tổ sáu đời đã theo tướng Trần Quang Diệu từ thời vua Quang Trung), tôi muốn gửi bạn lời khuyên chân thành rằng: “Bạn hãy mạnh dạn tự tháo chiếc vòng kim cô trên đầu mình, hãy tự cởi trói và đứng thẳng dậy để làm những việc nên làm ”.

      Đường còn dài

      Sai lầm nào cũng phải trả giá và cuộc chiến nào cũng đầy gian nan. Tôi không hy vọng sau thủ tục đổi tên Thủ đô thì mọi việc sẽ tốt đẹp ngay và “không phải làm mà vẫn có ăn”. Không đâu, đây sẽ là hiệu quả cộng hưởng của nhiều yếu tố gộp lại. Cùng với việc Thủ đô phát triển theo trục phong thủy Thăng Long, tên Thăng Long được phục hồi, thì hào khí Thăng Long sẽ được tỏa sáng. Lúc đó ta sẽ làm việc nhiều hơn và việc làm của ta mang lại hiệu quả hơn. Lúc đó tinh thần của ta thông suốt hơn và trí tuệ của ta minh mẫn hơn.

      Tôi chỉ muốn giãi bày một chút, những năm qua, tôi đã từng lên tiếng phản đối rất nhiều dự án ở Hà Nội, không ít người còn nghĩ rằng do tôi tư duy trì trệ, bảo thủ lạc hậu nên cản trở xã hội phát triển … Xin thưa: Tôi phản đối những thứ đó chính bởi vì tôi không muốn người ta băm nát Hà Nội ra, vì ủng hộ việc Thủ đô mở rộng và phục hồi tên Thăng Long hôm nay.

      Tôi còn nghĩ rằng “ủng hộ không chỉ nên giơ tay biểu quyết mà còn phải hành động”. Còn ai đó trong một phút vội vã đã lỡ nói rằng “Thôi thôi đừng bày vẽ nữa, xin hãy để cho Hà Nội yên vì cái tên không quan trọng” thì cũng chính là bạn không dám nói thật lòng mình, bạn rất coi trọng cái tên, bạn thấy Hà Nội đã từng bị phá nhiều rồi, bạn sợ cái tên bị phá nữa là hết.

      Tôi rất trân trọng Hà Nội cũ và cũng như bạn, phải có mọi giải pháp gìn giữ từng góc phố hàng cây của Hà Nội cũ. Hà Đông, Sơn Tây không bao giờ là Hà Nội, còn Hà Nội là một phần quan trọng của Thăng Long nhưng không phải Thăng Long.

      KTS. Trần Thanh Vân / VietNamNet

      • KTS Trần Thanh Vân says:

        Cám ơn HTH, nhưng có ai them nghe tôi đâu

      • KTS Trần Thanh Vân says:

        Bài ĐÈN VÀNG & NỖI LÒNG NGƯỜI HÀ NỘI đăng trên báo NGƯỜI HÀ NỘI ngày 25/5/2006, được rất nhiều người thích đọc..

      • Hải Ly (Castor) says:

        Đó là điều đúng đắn!! Cháu mới 15 tuổi thôi – con gái Hà Nội ạ :”D – cháu thích vẽ, thích thơ, thích văn, thích ngắm phố cổ, thích tranh của Bùi Xuân Phái và nghe những bài hát, bài viết về Hà Nội thật lãng mạn, thật hoài niệm. Nhưng thực sự trong lòng cháu luôn cảm thấy hào hùng, khí thế vô cùng khi đọc những bài viết về cuộc chiến ở Hà Nội – người Hà Nội đã anh dũng thế nào, người Hà Nội đã kiêu hãnh thế nào. Cháu cảm thấy thực sự vui khi nghiên cứu lịch sử Hà Nội. Cảm thấy như chính cháu đang sống trong thời gian Hà Nội vùng dậy đấu tranh vậy! Nghe các cô các chú, các bác nói về việc đổi tên Thăng Long, cháu thiết nghĩ, đó là một việc đúng đắn như việc nên có luật thủ đô vậy. Sẽ NHIỀU NGƯỜI nói rườm rà lắm chuyện, nhưng có lẽ vì họ chỉ nghĩ riêng đến bản thân họ thôi, họ đâu có quan tâm đến thế giới bên ngoài họ đâu, họ có quan tâm đến lịch sử và nét đẹp thực sự của Hà Nội mà nhiều đời người đã tô đẹp đâu. Cháu ủng hộ (cô?) Trần Thanh Vân, và cháu NGHE cô! Cháu chỉ mong có nhiều người lắng nghe ý kiến cô. Đừng vội nhìn theo quan điểm mình, hãy nhìn theo quan điểm người khác đã, phải không cô? Hì, cháu cứ tưởng vấn đề này lâu rồi nên không ai nói đến nữa, may quá, gặp topic này. Mong vấn đề này sẽ lại trở thành vấn đề nóng, bên cạnh việc BiểN Đông :-|!

    • Bài thứ 2 của KTS Trần Thanh Vân về chủ đề “Nên lấy lại tên Thăng Long”

      Ngay sau ngày Hà Nội sáp nhập để trở thành Thủ đô (mở rộng), Thư Thăng Long – Hà Nội nhận được bài viết của một kiến trúc sư lâu năm, có tên tuổi. Những ý tưởng và kiến giải của bài là suy nghĩ của một nhà chuyên môn, rất đáng để chúng ta suy ngẫm, trao đổi và biết đâu, có thể trở thành hiện thực không xa?

      Mùa thu năm 1010, ba tháng sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã ban Thiên Đô chiếu và Ngài đã hỏi quần thần: “Ý các khanh ra sao?”. Sự kiện đó diễn ra vào thời kỳ đất nước Đại Việt còn rất lạc hậu nghèo nàn, 1000 năm trước. Quan quân trong triều lúc đó, chắc không mấy ai đã hiểu hết ý nghĩa của 214 chữ do nhà vua ban ra, nhưng họ có niềm tin tưởng tuyệt đối vào đấng minh quân, nên quần thần đã nhất tề hưởng ứng, thông qua và làm theo.

      Vào lúc đó, dưới sự dìu dắt của Thiền sư Vạn Hạnh, dày công tự tìm tòi, nghiền ngẫm và nghiên cứu cấu trúc NÚI CHẦU SÔNG TỤ, sự linh thiêng và thế bay lên của phong thủy Thăng Long dường như đã ngấm sâu vào tâm thức của nhà vua trẻ Lý Công Uẩn nên vừa lên ngôi, Ngài đã cấp tập ra lệnh khởi hành ngay công việc hệ trọng bậc nhất liên quan đến vận mệnh đất nước.

      Lịch sử ngót 1000 năm qua đã chứng minh Đức vua Lý Thái Tổ đã có tầm nhìn xa, có hành động vô cùng thông minh và chuẩn xác!

      Chiếu dời đô ngắn gọn nhưng chứa đựng trí tuệ, hoài bão của bậc minh quân, lại mang hơi thở của một thời đại mới, đã miêu tả địa thế Thăng Long “… Ở giữa khu vực Trời Đất, được thế Rồng cuộn Hổ ngồi, chính giữa nam – bắc, đông – tây, tiện nghi núi sông, sau trước…”

      Ngày đó, cả nước Đại Việt chỉ có sáu triệu dân. Hoàng thành Thăng Long chỉ rộng chưa đến 10km2, ở phía nam hồ Dâm Đàm là nơi giành cho nhà vua và triều đình cư ngụ, nhưng ở phía bắc hồ là nơi quân lính đồn trú để bảo vệ kinh thành. Như vậy, cung điện nhà vua và trại lính đồn trú là hai thành phần quan trọng nhất của kinh đô xưa đều ôm trọn Hồ Tây.

      Trong suốt thời Lý sang thời Trần, phường Nhật Chiêu bên bờ sông Hồng luôn luôn là nơi tụ hội quân lính, nơi xuất quân ra đi đánh giặc, nơi dân chúng gánh lương thực đi tiếp tế và đón đoàn quân chiến thắng trở về để mở tiệc khao quân. Đình Nhật Tân, đình Yên Phụ và đình Thủ Lệ ngày nay vẫn thờ Đức Linh Lang bảo vệ hồ Tây, vị Thánh được gọi là Uy Đô Vương, con Vua Hồng Bàng. Tương truyền mỗi khi có giặc giã là Ngài nhập thế, dẫn đầu đoàn quân xông ra đánh giặc, giặc tan, Ngài lại bay về trời.

      Trung tâm Thăng Long nay vẫn là Hồ Tây và sông Hồng

      Ngày nay chúng ta phát triển Thủ đô sang hướng tây và chọn Hồ Tây là trung tâm. Núi vẫn vậy. Sông vẫn vậy. Và bầu trời vẫn vậy, thiên thanh tựa ngàn xưa. Nhưng ngày nay dân số nước ta đã hơn 80 triệu (gấp 13 lần khi xưa), riêng Thủ đô có hơn sáu triệu dân. Thủ đô phải to rộng hơn nhưng vẫn phải bám sát trục phong thủy NÚI CHẦU SÔNG TỤ.

      Thủ đô Hà Nội nay như một ngôi nhà lớn, tựa lưng vào vòng cung từ núi Tản Ba Vì đến Xuân Mai Hòa Bình, nhìn ra Hồ Tây mênh mông, là một đại minh đường hình bán nguyệt, trước nữa có sông Hồng chảy theo hướng Thìn, hướng của chòm sao Cang Kim Long là một đại long mạch.

      Năm 1831, Vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội gồm bốn phủ: Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân. Riêng phủ Hoài Đức đã được người Pháp xây nên thành phố Hà Nội, thủ phủ của liên bang Đông Dương, ba phủ còn lại vẫn thuộc Hà Đông và Hà Nam.

      Hà Nội là một thành phố đẹp, nhưng chỉ là một đô thị hành chính của chính quyền bảo hộ, lấy hồ Hoàn Kiếm làm trung tâm. Khu vực đồn trú của quân lính đóng ngay trong khu Hoàng thành cũ, còn hồ Tây và phường Nhật Chiêu xưa thuộc huyện Từ Liêm, mãi đến năm 1995 mới được lập thành quận Tây Hồ.

      Từ năm 1955 đến nay, dân số Hà Nội gia tăng từ 30 vạn lên đến hơn ba triệu người, nhà cửa, công trình… bị xen cấy, chen lấn, cơi nới, lại thêm cách quản lý yếu kém, cục bộ, thiếu tầm và thiếu cả tâm… khiến bộ mặt Hà Nội cũ bị biến dạng, trở nên chật chội, nham nhở, kỳ dị và xấu xí đi rất nhiều.

      Ngày 29/5/2008, Quốc hội nước ta đã thông qua nghị quyết mở rộng địa giới hành chính Thủ đô, vẫn theo đúng trục phong thủy Thăng Long. Theo tôi, đó là cơ hội cho chúng ta xây dựng một Thủ đô văn minh hiện đại nhưng đắm mình trong thiên nhiên. Đó cũng là cơ hội để chúng ta bảo tồn Hà Nội cũ với trung tâm Hồ Gươm trở về đúng với sắc thái khi xưa.

      Với diện tích là thủ đô lớn thứ 16-17 trên thế giới, bao gồm ba thành phố là Hà Nội (cũ), Hà Đông và Sơn Tây, ba thành phố này phải bảo toàn sao cho vẫn giữ được những sắc thái riêng biệt, trong đó Hà Nội cũ là đô thị hạt nhân. Chính vì Thủ đô mở rộng không còn là “thành phố trong sông” nữa, nên Thủ đô ở thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập quốc tế này, nên mang tên Thăng Long, và sẽ là nơi nắm giữ điểm huyệt của nền kinh tế mũi nhọn.

      Thủ đô mở rộng sẽ là nơi tập trung các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu khoa học, nơi có thành công bước đầu về xây dựng khu công nghệ cao Hòa Lạc, để xây dựng một đô thị xanh hoàn hảo với môi trường trong lành, phát huy tối đa tài năng trí tuệ của giới khoa học trẻ tuổi, để có doanh thu nhiều tỷ USD hàng năm và phát triển kinh tế du lịch sinh thái và dịch vụ.

      Ngày nay, trái đất đang ngày càng nóng lên và cả thế giới đang bị uy hiếp bởi thiên tai, động đất và ô nhiễm môi trường… Bởi vậy xu thế đô thị hóa trên thế giới đã bước sang giai đoạn thứ ba là xây dựng những đô thị xanh để đưa con người về với thiên nhiên, từ bỏ việc xây dựng tập trung nhà bê tông cao tầng và tấm kính lớn.

      Địa giới hành chính Thủ đô mở rộng tới 3.344km2, trong đó có 2.500km2 và ba triệu người là nông dân vẫn ở trên khu đất xanh, cài răng lược với khu đô thị và đan xen giữa các trục giao thông là các hồ chứa nước và các kênh dẫn nước. Giải pháp phong thủy này tạo ra các hành lang dẫn gió đưa luồng sinh khí đến vùng trung tâm Hồ Tây. Giải pháp đó đưa mầu xanh thiên nhiên tiếp cận mọi người dân đô thị, đồng thời đóng góp vào việc xóa bớt ranh giới giữa người giàu và người nghèo.

      Làng đô thị vườn có thể tiến thẳng lên thành một đô thị xanh, không phải qua giai đoạn là một đô thị xám, khi đã có nguồn nước từ sông Đà về, có hồ chứa nước để điều hòa khí hậu, có giải pháp thu năng lượng mặt trời và năng lượng lòng đất để sưởi ấm mùa đông và làm mát mùa hè, có mọi giải pháp thu gom, xử lý chất thải và ô nhiễm môi trường.

      Nhưng đây phải là một sự nỗ lực rất lớn không phải chỉ riêng chính quyền và nhân dân Thủ đô, mà còn đòi hỏi sự chung vai, chung sức, chia sẻ lớn của cả nước. Trong vị thế một thủ đô mới, với chức năng, nhiệm vụ mới, đầy thách thức nhưng cũng đầy cơ hội, Thủ đô mở rộng của chúng ta nên lấy lại tên Thăng Long, cái tên thể hiện thế đất, thế lực, và thế phát triển mới – Rồng bay. Còn Hà Nội, khu đô thị bảo tồn nên giữ lại tên cũ, là một phần quan trọng của Thăng Long.

      KTS Trần Thanh Vân

      • KTS Trần Thanh Vân says:

        Lại cám ơn.
        Có một bài cũng trên VNN, tôi viết trước nữa cơ.
        Vô ích

      • Hải Ly (Castor) says:

        “thiếu tầm và thiếu cả tâm”. Chữ tầm đi với chữ tâm một vần. Cháu đồng ý với câu này :((

  25. Quốc Trung says:

    Quốc Trung says:
    May 10, 2011 at 4:26 am

    Những phân tích kiểu chiết tự với các tên “Thăng Long”, “Hà Nội”, “Nội Bài” rồi suy diễn thành những ý cao xa hơn sao mà khiên cưỡng vậy?
    Không đủ sức thuyết phục tẹo nào!

    —-
    Quốc Trung nói tiếp:

    Định chả muốn nói nhiều ngoài một câu đã còm, nhưng thấy tình hình rôm rả quá lại không nhịn rồi mà thêm một nhời tiếp theo Nguyễn Hồng Kiên:

    Tôi thì lại “hãi” nhất khi tác giả phân tích cái “ẩn nghĩa thâm sâu” của 2 cái tên THĂNG LONG và HÀ NỘI. Sự liên tưởng “tuyệt vời” tới mức suy diễn:
    LONG (trong Thăng Long) = RỒNG (1) = SÔNG (1)
    HÀ (trong Hà Nội) = SÔNG (2) = RỒNG (2)
    Đem đập nhập SÔNG (1) theo nghĩa bóng = SÔNG (2) theo nghĩa đen;
    rồi lại đem đập nhập RỒNG (1) theo nghĩa đen = RỒNG (2) theo nghĩa bóng.
    Một sự đập nhập vênh váo! Tài tình đến thế là cùng!

    Thế mà còn dám liều để đi đến cái sự suy diễn và giải thích về thời thế có lẽ chẳng thể khiên cưỡng hơn được nữa:

    THĂNG LONG = RỒNG BAY LÊN
    HÀ NỘI = RỒNG NGỦ

    Ôi chao!!!

  26. Thiên Nhân says:

    Chắc trong chúng ta, ai cũng nhớ câu thơ của Ông Sáu Nghệ :
    Từ thuở mang gươm đi mở cõi
    Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
    Dù có đổi hay không đổi, cái tên Thăng Long vẫn mãi mãi gắn liền với bất cứ tên nào, dù cũ hay mới của Thủ Đô. Bởi vậy, trong dịp kỷ niệm Thủ Đô tròn 1000 tuổi người ta vẫn phải gọi Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội, dù tên hiện tại chỉ là Hà Nội.
    Tôi thấy không nên tranh cãi nhau nhiều bằng cách chiết tự, đoán già đoán non, nhưng tôi cũng thấy hợp lý hơn nếu lấy lại tên Thăng Long để giữ gìn được tên cũ do Ông Cha ta đặt ban đầu, nhớ lại thời kỳ hào hùng dựng nước, và có ý nghĩa hơn từ Hà Nội. Tuy nhiên, cơ hội may mắn cho việc này nhân dịp 1000 năm Thăng Long đã qua, chắc khó có ai quay lại chủ đề này.
    Tuy nhiên, cũng nên cảm ơn Tác giả đã nêu lại một ý tưởng hay này.

  27. Nguyễn Hồng Kiên says:

    Nhà cháu ủng hộ việc dùng lại tên Thăng Long.
    Tuy nhiên, cách dẫn giải của bác Nguyễn Cường không thuyết phục, thậm chí phản tác dụng vì CHỦ QUAN và SAI.

    Địa danh Hà Nội chẳng có gì XẤU XA như cái cách bác Cường “lý luận”:
    “Vậy, tạm thời quên cái ý nghĩa đen bên ngoài có vẻ như vô tội vạ và ngay thẳng nhất. Còn lại, chỉ có thể là “người ta” thâm nho, muốn chơi “chữ với nghĩa”, muốn ám chỉ một ý khác như “Con sông hướng về bên trong” chẳng hạn! Xin nhắc lại, trong tiếng Việt thì giới tự đứng sau danh từ và làm bổ từ, nên theo đúng văn phạm phải là “sông (ở) trong”.”

    Nhà cháu không phải nhà ngôn ngữ học, cũng không phải nhà văn nên không dám phân loại từ “Nội” là loại từ gì. Bác Cường lúc thì bảo: “Riêng chữ “Nội” mới là vấn đề, vì từ “Nội” ở đây đóng vai của một trạng từ hay tĩnh từ.” (chắc là TÍNH từ), còn trong câu trên bác lại bảo đó là GIỚI TỪ, BỔ TỪ).
    Nhưng liệu có phải vì rối quá về từ loại mà bác Cường mới “phát kiến” ra cái nghĩa Hà Nội là “sông (ở) trong” và nghĩa ám chỉ “Con sông hướng về bên trong”?

    Nếu CHẺ CHỮ ra thì “Hà” ở đây không phải là Chủ thể (tương tự Hà Bắc, Hà Tây…). Từ chỉ rõ vị trí của các vùng đất này là chữ “Nội” (mà bác Cường DỊCH là (ở) trong), chữ “Bắc”, chữ “Tây”…
    Đọc kỹ thì thấy bác Cường cũng lại không nhầm “Hà” là chủ thể.
    Vì nếu lấy sông Hồng làm TÂM QUY CHIẾU để có tên gọi về vùng đất phía Bắc – Hà Bắc… thì lại không thể viết: “Thành phố có con sông chính, hay thành phố có con sông chảy ngang qua là ý nghĩa thuần nhất của Hànội.” (Lỗi gõ bàn phím gây ra lỗi chính tả này không biết của tác giả bài viết hay tác giả blog?).”

    Bác Cường thật quá mâu thuẫn khi vừa bảo “ý nghĩa thuần nhất của Hà Nội là thành phố có con sông chảy ngang qua”, nay lại bảo Hà Nội có “nghĩa ám chỉ “Con sông hướng về bên trong”.

    Ngay suy luận về “ý nghĩa thuần nhất” của bác Cường cũng sai. Cho đến gần đây, khi UBND Hà Nội có quyết định thành lập quận Long Biên thì Hà Nội mới là “thành phố có con sông chảy qua”. Hà Nội thời các Cụ đâu có vắt sang bên kia sông Hồng?

    Tất cả suy diễn của bác Cường sai là vì bác chỉ chú trọng đến MỘT con sông Hồng.
    Ngày trước, tôi được GS Trần Quốc Vượng dậy cho câu ca dân gian cắt nghĩa Hà Nội rất rõ ràng, dễ hiểu: “Nhị Hà quanh Bắc sang Đông/ Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này”. Nghĩa là Hà Nội là vùng đất Trong sông. Đơn giản vậy thôi!

    Bác Cường đã tự tạo ra một mớ bòng bong và rồi vướng mãi trong đó không thể ra được. Đặc biệt, khi bác “thừa thắng xốc tới” ở phần “Tên “Nội Bài” có đáng là cửa ngõ quốc gia?”
    Không thể quá sa đà với các suy diễn chủ quan khá rắm rối của bác Cường, nhà cháu chỉ xin nói đến câu khẳng định: “Riêng chữ “Bài” thì chỉ có hai nghĩa mà thôi.”
    Sao lại thế được? Nhà cháu chả hiểu bác Cường tra từ điển nào hay viết theo cách hiểu cá nhân? Nhưng bác Cường hiểu: Bài học, bài vẽ, bài ngà (thẻ bài), hay bài vị trên bàn thờ… “là khuôn khổ có giới hạn, hay đóng khuôn trong kích thước” LÀ KHÔNG ĐÚNG.

    Nhà cháu cho rằng bàn về địa danh, KHÔNG THỂ hiểu theo Quốc ngữ được.
    Trước hết phải xem địa danh ấy được gọi/phiên âm theo chữ Nôm hay chữ Hán.

    Vì vậy nhà cháu không dẫn Từ điển tiếng Việt ra đây mà xin mạo muội “múa rìu” để COPY/PASTE cụ thể từ các Từ điển tra được trên mạng:

    Trong chữ Nôm có 2 chữ BÀI:
    俳 có 4 nghĩa theo 04 cách đọc: bài (an bài) – bai (bẻ bai) – bày (bày ra) – bời (tốt bời bời).
    捭 bài (bài ngà) – bìa (bìa sách)

    Còn chữ Hán có đến 09 chữ BÀI với “ty tỷ” nghĩa:
    俳 bài, bái Bài : bài ưu 俳優 -phường chèo .
    捭 bãi, bài (1): Mở, Quỷ Cốc Tử có một bài sách gọi là bãi hạp thiên 擺闔篇 -nghĩa là bài học về cách úp mở để đi du thuyết. (2): Hai tay đánh. |TĐ KHXH phiên âm là Bài và chú là “tách ra”.
    排 bài (1): Bới ra, gạt ra. (2): Đuổi, loại đi, như để bài 詆排 -ruồng đuổi, bài tễ 排擠 – đuổi cút đi .v.v… (3): Bầy xếp, như an bài 安排 – bầy yên (xếp đặt đâu vào đấy). Một hàng gọi là nhất bài . (4): Phép nhà binh về bộ binh, pháo binh, công binh, truy trọng binh thì ba Bằng là một bài, quân kị thì hai bằng là một bài.
    擺 bãi, bài (1): Mở ra. (2): Bầy, như bãi bố 擺布 -bầy đặt. (3): Đánh đồng đưa (buộc một quả cân nặng vào cái dây treo lên rồi đánh cho đi đi lại lại).
    棑 phỉ, bài: hàng, dãy. Là một trong nhiều nghĩa của chữ bài 排 .
    牌 bài (1): cái bảng, dùng mảnh ván đề chữ làm dấu hiệu hay để yết thị gọi là chiêu bài chiêu bài 招牌 hay yết thị 牌示 . (2): thẻ bài, dùng để làm tin. (3): cỗ bài, các thứ bài đánh bạc. (4): bài vị (viết tên hiệu vào gỗ hay giấy để thờ gọi là bài vị).
    簰 bài
    裨 bì, tì, bài, tỳ (1): bổ ích. (2): giúp, các tướng tá gọi là thiên bì 偏裨 . (3): nhỏ, cùng nghĩa với chữ bại 稗 , như bể nhỏ gọi là bì hải 裨海 . Ta quen đọc là chữ tì.
    陴 bì, bài, bệ (1): cái tường thấp trên mặt thành, có khi đọc là chữ bài. (2): chân.

    Như vậy thôi đã đủ thấy là bác Cường đã QUÁ CHỦ QUAN.
    Ý định của bác thì rất hay nhưng những thể hiện cụ thể ở bài viết này nhà cháu xin được gọi đích danh là LẨM CẨM. Rất mong bác đừng tự ái!

    Nhưng phải nói thẳng nói thật, vì tự nhiên nghĩ mà lo, nhỡ bác Cường lại tiếp tục BẺ CHỮ các địa danh theo kiểu Nội Bài là viết ngắn của Nội Trường Bài Tiết thì…

    • nguoitrungnien says:

      Wa, còm lý thú thật. Tớ không dám nói đúng sai, nhưng thật hay. Xin được vote bác Kiên một phiếu. Phải chi entry nào trong blog HM cũng có một phản biện hay như thế ni ! (Hỏi nhỏ thêm, từ hồi blog Gốc sậy của bác Kiên bị Sinh tử Lệnh khóa cửa, bác đã có xây nhà mới chưa ?)

    • Hiệu Minh says:

      Com của bác Gôc Cây Sậy rất tuyệt. Tổng Cua từng “bẻ đôi chữ Nho” để nói về chuyện khác. Bây giờ đọc comment của bác Kiên mà giật mình vì dám múa rìu qua mắt thợ

      http://hieuminh.org/2010/01/08/be-doi-chu-nho/

  28. Địa danh là tên của một vùng đất, một địa phương gắn liền với lịch sử hình thành và “sứ mệnh phải sinh ra” của vùng đất đó. Địa danh có lẽ cũng không khác nhiều nhân danh mà một con người từ khi sinh ra đã được chính Bố mẹ đẻ của mình đặt cho cái tên đầu tiên (tên cơm cúng – sau này khi người đó chết đi thì sẽ được người thân và họ hàng dùng chính cái tên này để cúng và thậm chí … gọi hồn về). Trong quá trình sống và làm việc để thể hiện tính cách riêng và thuận tiện thì con người tự nghĩ ra Nghệ danh (với lĩnh vực hoạt động nghệ thuật), Pháp danh (khi đi tu trong đạo Phật), Bút danh (khi làm báo, viết văn, thậm chí cả … viết Blog như Tổng Cua HM). HTH thấy thật vô lý khi mà những “con người thế hệ sau” tự ý thay đổi một cách bừa bãi tên gọi của 1 số vùng đất đã ăn sâu vào tâm thức và đời sống của người dân tại địa phương đó… mà điển hình là hai cái tên như Thăng long và Sài gòn. Nhìn lại đại lễ 1000 Thăng long – Hà nội –> thực tế thì còn đâu nhiều dấu tích của Thăng long mà chỉ là kỷ niệm, hoài cổ…

    Cái tên Sài gòn nào có tội tình gì, chẳng qua là “Ông em thứ” cứ học đòi theo Ông anh cả (CCCP- Liên Xô cũ) đổi tên Xanh Peterburg thành Leningrat. Nay Ông anh cả đã tỉnh ngộ ra còn Ông em thứ thì vẫn cứ ngủ mê … không biết đến bao giờ mới tỉnh và ngộ ra.

    Xin nhắc lại với quý vị rằng hai trường hợp này chỉ là cá biệt trong số rất nhiều trường hợp tùy tiện khác. HTH xin cung cấp 1 số tư liệu chính thống để các còm R & D và bình luận tiếp.

    Ngàn năm Thăng Long – Hà Nội qua những cái tên

    Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký, không chỉ là “Rồng bay lên”, mà còn có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đây là một tên gọi hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

    Thăng Long – Hà Nội là Kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long – Hà Nội có nhiều tên gọi. Chúng tôi xin chia các tên gọi ấy thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:

    Rồng đá trên thềm điện Kính Thiên trong Thành cổ Hà Nội.

    Tên chính quy

    Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

    1. Long Đỗ. – Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là Thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

    2. Tống Bình. – Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 – 618), Đường (618 – 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình.

    3. Đại La. – Đại La hay Đại La Thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô. Theo kiến trúc xưa, Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La Thành. Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là Thành Đại La. Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “… Huống chi Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…” (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr. 241).

    4. Thăng Long. – Về ý nghĩa tên gọi Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải thích rằng: Thăng là bay lên, Thăng Long tức là rồng bay. Thực ra, ở trong Hán tự có nhiều cách viết và giải thích chữ “thăng”. Với cách viết thứ nhất, chữ “thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là cái thưng, một dụng cụ đo lường dung tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu thưng”). Cách viết thứ hai: có chữ Nhật đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết thứ nhất. Thăng Long, Kinh đô mới của Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đặt tên Thăng Long với cách viết như trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn làm Kinh đô mới, đồng thời có sức mạnh kỳ diệu và tốt lành của giống Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự cho mình là “con Rồng cháu Tiên”.

    Có điều đáng chú ý là các từ điển thông dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải (Từ nguyên xuất bản 1947, Từ hải xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất bản sau có khác không), không thấy ghi từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ Thăng. Riêng Trung văn đại từ điển (tập 5, Đài Bắc 1967, trang 208), ở chữ “Thăng” là “Thưng” dạng viết thứ nhất nói trên, có từ kép “Thăng Long” nhưng là danh từ chung và được giảng là “rồng bay lên”. Như vậy, có thể thấy tên gọi Thăng Long với cách viết ghi trên sử cũ là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

    5. Đông Đô. – Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô” (Toàn thư Sđd – tr.192). Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” (Cương mục – Tập 2, H. 1998, tr.700).

    6. Đông Quan. – Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” (Toàn thư , Sđd – Tập 2, tr. 244).

    7. Đông Kinh. – Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427) Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là Thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông Kinh” (Toàn thư , Sđd. Tập 2, tr. 293).

    8. Bắc Thành. – Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ – Quang Trung 1787 – 1802), vì Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành (Nguyễn Vinh Phúc – Trần Huy Bá – Đường phố Hà Nội – 11.1979, tr.12).

    9. Thăng Long. – (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi Kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian cả nước, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay Vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu – Chủ biên. Lịch sử Thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).

    Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành Thăng Long lại rộng lớn quá.

    10. Hà Nội – So với tên gọi Thăng Long với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử (dù chỉ đưới dạng truyền thuyết: ghi lại sự kiện có rồng hiện lên khi Vua tới đất Kinh đô mới), thì tên gọi Hà Nội có tính cách địa lý, với nghĩa “bên trong sông”. Nhưng nếu xét kỹ trên bản đồ thì chỉ có Sông Nhị là địa giới Tỉnh Hà Nội cũ về phía Đông, còn Sông Hát và Sông Thanh Quyết không là địa giới, như vậy có bộ phận Tỉnh Hà Nội không nằm bên trong những con sông này. Và khi Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, tên gọi lại càng không tương xứng với thực địa…

    Trung văn đại từ điển, tập 19 (Đài Bắc 1967, tr.103) cho biết Hà Nội là tên một quận được đặt từ đời Hán (202 Tr.CN – 220 S.CN) nằm phía Bắc Sông Hoàng Hà. Tên Hà Nội từng được ghi trong Sử ký của Tư Mã Thiên (hạng Vũ Kỷ), kèm lời chú giải: “Kinh đô đế vương thời xưa phần lớn ở phía Đông Sông Hoàng Hà, cho nên gọi phía Bắc Sông Hoàng Hà là Hà Ngoại”. Rất có thể Minh Mạng đã chọn tên gọi Hà Nội, một tên hết sức bình thường để thay tên gọi Thăng Long đầy gợi cảm, nhưng tên gọi mới Hà Nội này lại có thể được giải thích là “đất Kinh đô các đế vương thời xưa”, để đối phó với những điều dị nghị. Chính cách đặt tên đất “dựa theo sách cũ” đã lại được thực thi, sau này, năm 1888 Thành Hà Nội và phụ cận trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, tỉnh lỵ Hà Nội phải chuyển tới Làng Cầu Đơ (thuộc Huyện Thanh Oai, Phủ Hoài Đức), cần có một tên tỉnh mới. Người ta đã dựa vào một câu trong sách Mạnh Tử (Lương Huệ Vương, thượng, 3) “Hà Nội mất mùa, thì đưa dân đó về Hà Đông, đưa thóc đất này về Hà Nội, Hà Đông mất mùa cũng theo phép đó”. Dựa theo câu trên, người ta đặt tên tỉnh mới là Hà Đông, tuy rằng tỉnh này nằm ở phía Tây Sông Nhị, theo thực địa phải đặt tên là Hà Tây mới đúng.

    Cửa Bắc.

    Tên không chính quy

    Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ… dùng để chỉ Thành Thăng Long – Hà Nội.

    1. Trường An – (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 Tr. CN – 8 S.CN) và Đường (618 – 907). Do đó, được các nhà Nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ Kinh đô. Từ đó, cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ Kinh đô Thăng Long.

    Thí dụ:

    Chẳng thơm cũng thể hoa nhài.

    Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

    Rõ ràng chữ Trường An ở đây là để chỉ Kinh đô Thăng Long.

    2. Phượng Thành (Phụng Thành)

    Vào đầu Thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú Nôm rất nổi tiếng: Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa Xuân ở Thành Phượng).

    Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa Xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ Thành Thăng Long.

    3. Long Biên. – Là nơi quan lại nhà Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều (Thế kỷ III, IV, V, và VI) đóng trụ sở ở Giao Châu (tên nước ta thời ấy). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long – Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 – 1877), ghi lại bài thơ của Vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

    Long Biên tài hướng Phượng Thành hồi

    Triệu đối do hy vĩnh biệt thôi!

    Dịch nghĩa:

    Nhớ người vừa tự Thành Long Biên về tới Phượng Thành

    Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi vào triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.

    Thành Long Biên ở đây, Vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877, Vua Tự Đức triệu ông về Kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

    4. Long thành. – Là tên gọi tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa – Ngọc Hồi của Vua Quang Trung. Sau chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long Thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long Thành).

    5. Hà Thành. – Là tên gọi tắt của Thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai(?)…

    6. Hoàng Diệu. – Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đôi khi trong các báo chí của ta, chúng ta sử dụng tên này để chỉ Hà Nội. (Thành Hoàng Diệu).

    Ngoài ra, trong cách nói dân gian còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long – Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ – Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất Kinh Đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ Kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh). hoặc trong tác phẩm: Thượng Kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác; Kinh Kỳ, tên này nói đất có Kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến); Và đôi khi chỉ dùng một từ như “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ Kinh đô Thăng Long.

    Loại tên không chính quy của Thăng Long – Hà Nội còn nhiều, được người đời sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao… kể ra đây chưa hết…

    Trích Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long

  29. Tầm chương trích cú,bắt bẻ vặn vẹo (có khi sẵn sàng mạt sát nhau) là đặc điểm của sỹ phu Bắc Hà xưa còn sót lại.Nên giành tâm trí bàn về những vấn đề có thể to,có thể nhỏ nhưng có ích cho mọi người thì tốt hơn…

    • Tuyen Vo says:

      Đồng ý hai tay. Tên hay chữ không quan trọng bằng cái gọi bằng tên đó như thế nào. Một Thành phố dù khởi sự chỉ là lều trại vẫn trở nên vĩ đại khi có những thị dân vĩ đại sống ở đó. Một nước (giả sử đặt tên là) Đại Việt tên nghe lủng xủng lẻng xẻng vẫn nhỏ bé một cách thảm hại trước một Tiểu bang hùng mạnh của Hoa Kỳ.
      Tranh hơn thua trong những chuyện như vậy chỉ cho thấy ngòai những lý do không dám nói thì còn là biểu hiện lâm sàng của một inferiority complex (http://en.wikipedia.org/wiki/Inferiority_complex ) nặng nề.
      TQV

  30. Quốc Trung says:

    Những phân tích kiểu chiết tự với các tên “Thăng Long”, “Hà Nội”, “Nội Bài” rồi suy diễn thành những ý cao xa hơn sao mà khiên cưỡng vậy?
    Không đủ sức thuyết phục tẹo nào!

  31. Bùi Văn Xương says:

    Tầm chương trích cú,bắt bẻ vặn vẹo (có khi sẵn sàng xúc phạm nhau)là đặc điểm có lẽ từ lớp sỹ phu Bắc Hà xưa còn rơi rớt lại đến nay.Nên tập trung vào những vấn đề có thể to,hoặc nhỏ nhưng thiết thực hơn với đất nước…

  32. Quý Vũ says:

    Chuyện tên gọi xin không có ý kiến, nhưng đặc biệt, hầu hết ca khúc viết về Hà Nội đều hay tuyệt. Đôi khi cũng…..ghen với người Hà Nội, vì muốn tìm một ca khúc về Sài Gòn để ngân nga mà chẳng thấy.

    • cafe says:

      “Tình ca phố” là 1 bài hay về SG đó

      • Quý Vũ says:

        Ngoại trừ “Sài Gòn mưa trưa nắng sớm” là gợi chút đặc trưng về SG, còn lại, ta có thể thấy toàn bài hát Tình Ca Phố, có thể là viết cho 1 t.phố nào đó ở miền Nam.

        Tôi rất yêu Sài Gòn, nhưng thú thật, cứ nghe Hà Nội đầy màu sắc, hương hoa, như:

        “Hà Nội mùa thu,
        cây cơm nguội VÀNG
        cây bàng lá ĐỎ
        mái ngói thâm NÂU
        mùa cốm XANH về
        thơm bàn tay nhỏ,
        cốm sữa vỉa hè, thơm bước chân qua
        mặt nước VÀNG lay bờ xa mời gọi
        bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời”

        là lại ước ao một ca khúc hay như vậy về Sài Gòn.

        Thực sự còn quá nhiều ca khúc hay về Hà Nội mà người yêu Sài Gòn phải chạnh lòng.

      • Xích lô says:

        Phải chịu thôi vì Sài Gòn là thành phố trẻ mà bề dày lịch sử không nhiều nên những hình ảnh đặc trưng gợi nhớ cũng ít, vả lại người ta cũng xây dựng Sài Gòn theo hướng thành phố công nghiệp nên những hình ảnh đó đã ít lại đang bị phá mất nữa, những hàng cây xanh mát làm quên đi những cái nóng buổi trưa đang bị thu hẹp, những kiến trúc thời Pháp (phải nói dân Pháp xây dựng tài thật) cũng đang bị lấn áp…

      • Hoai Huong says:

        Một ca khúc nữa của Trịnh Công Sơn cũng viết về Sài Gòn, rất đặc trưng Sài Gòn: Em còn nhớ hay em đã quên?

      • Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

        Còn nhiều lắm chứ! Chẳng hạn như hai nhạc phẩm này:
        Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt

        Sài gòn ơi, nắng vẫn có còn vương trên đường
        Đưòng ngày xưa, mưa có ướt ngập lối đường về
        Rồi mùa thu, lá còn đổ xuống công viên
        Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng
        Hay đã khóc thương cho người yêu…

        Sài Gòn niềm nhớ Không Tên

        sai gòn ơi! đâu những ngày mưa mùa khoác áo ra đi
        tay cầm tay nói nhỏ câu gì
        những quầy hoa quán nhạc đêm về
        còn rộn ràng giọng hát Khánh Ly

        sài gòn ơi! thôi hết rồi những ngày hát nhớ nhau
        nhớ Phạm Duy với tình ca sầu
        mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu
        còn gì đâu…
        :x

    • qx says:

      Có thơ, một khúc thơ hay nhứt nè bác, hạp thân phận Sài Gòn lắm:

      Tiếc thay cây quế giữa rừng
      Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo

      Đại khái rứa, bác chịu khó dò tìm thiếu gì các bài hát hò vè lý cải lương hát bội ngâm thơ …

  33. vd says:

    Tôi thấy tác giả đặt ra nhiều giả định về việc vua Minh Mạng đặt tên Hà nội. Nhưng thiếu một tình huống.

    Sông Hồng là con sông gây ra lụt lội kinh niên cho sứ Bắc, kể cả Thăng long. Người dân đồng bằng Bắc bộ phát âm lẫn lộn N và L, hiện tượng này không có ở từ miền Trung trở vào và có thể vua Minh mạng không hiểu được.
    Ngoài việc Nguyễn Ánh muốn khẳng định dòng dõi nhà ta đây mới xứng đáng là vua bằng cách lấy tên hiệu Gia long, và lấy Phú xuân là kinh đô với nghĩa muôn năm giàu có hạnh phúc, tươi đẹp như mùa xuân thì việc làm tầm thường hóa chốn kinh thành xưa để tôn cao mình lên có lẽ cũng thúc đẩy đổi tên Đông đô thành Hà nội ( lội ) chăng?
    Hơn nữa người Việt mình có một tâm lý háo danh, lạc quan tếu nên hay đặt tên kêu như chuông, như khánh để hi vọng, để tự sướng…

    Theo tôi cái tên chỉ là cái tên và đúng là nó gắn liền với việc nó được ra đời dù theo cách nào (kể cả bị thay đổi như thế nào!)

    Thực chất sự phát triển của một vùng đất, một lãnh thổ hay một quốc gia chẳng lệ thuộc vào ý nghĩa cái tên đó.

    Cho nên Hà nội hay Thăng long mà không chống được lụt lội do sông Hồng gây ra hàng năm thì người đồng bằng Bắc bộ vẫn gọi nó là Hà lội. Còn sân bay Nội bài vốn là một sân bay quân sự phát triển sau chiến tranh mà không lớn mạnh dần lên bằng việc kinh doanh một cách đúng đắn thì dù có đặt tên kêu coong coong như Phi long hay Hạ long thì cũng vô nghĩa

  34. Người quan sát says:

    Thấy cái ảnh “Thăng Long của ngày xưa” mà tiếc cho đê sông Hồng hôm nay. Trông nhà cửa phố xá đâu ra đấy cho dù giữa đường là một cái xe kéo tay.

    Không hiểu thực dân đã gây ra những tội ác nào, nhưng họ đã làm đẹp cho Hà Nội, ít nhất là bộ mặt, và cho dù những nhà ấy không dành cho người nghèo.

    Thử so với HN hôm nay và hai bờ sông Hồng. Còn chỗ nào như ngày xưa ấy.

  35. Trần Đạt says:

    Tôi rất ủng hộ việc trả lại tên Thăng Long cho Hà Nội.

  36. xoithit says:

    Tranh cãi về ý nghĩa của tên gọi, tôi nghĩ là điển hình của văn hoá phương Đông, khi người ta quá chú trọng đến cái danh mà (cố làm) quên đi cái bản chất. Xin lỗi tác giả Nguyễn Cường, người tốt thấy sao nói vậy :-)

    Những nước tôi từng sinh sống (ngoài VN) là Mỹ và Úc chẳng hạn, nghe địa danh thật là tầm thường. Nếu không phải những cái tên khó phát âm (tra ra thì toàn tên mấy ông thổ dân hoặc vài từ quâng bơ từ tiếng thổ dân) thì cũng là tên những con người hết sức bình thường hoặc những sự vật bình thường. Nhà cũ của tôi ở 1 con đường tên là James Ruse Drive. Tôi có thói quen tò mò hay thích tìm hiểu lịch sử, nguồn gốc nên cũng bỏ công ra tra cứu một hồi thì tìm ra ông James Ruse này ngày xưa là dân tù khổ sai. Mãn hạn tù thì đi khai hoang và dần làm chủ sở hữu cả 1 vùng đất mà ngày nay có con đường ấy. Cách đây hơn 10 năm, tôi còn ở Mỹ, thỉnh thoảng cũng bày đặt lên New York City chơi cho bớt quê mùa. Ngay trung tâm NYC, ngoài 1 loạt dãy phố tên toàn là số, con phố có tên gây ấn tượng nhất với tôi là phố The Strongest – người khoẻ nhất. Ở Vn mà đặt tên phố kiêu này chắc bị đập cho te tua.

    Trước tôi có đọc cuốn “The origin of brands” của Al Ries (viết theo phong cách cuốn Nguồn gôc muôn loài -The origin of species của Charles Darwin). Ông này cũng nhấn mạnh tên gọi, thương hiệu muốn thành công phải nghe thật kêu và có ý nghĩa. Tôi không phản đối nếu đấy là tên, thương hiệu mới. Với một tên/thương hiệu có sẵn, cách chúng ta xây dựng, làm tăng giá trị gắn liền với tên gọi xem chừng thiết thực hơn. Một Hà Nội văn minh, thanh bình và giàu đẹp hẳn sẽ có ý nghĩa hơn nhiều nếu chúng ta gắn cái nghĩa rồng bay vào tình cảnh hiện tại của Hà Nội.

    Tôi là dân Hà Nội gốc (cả bên nội lẫn bên ngoại bất kể mấy đời cũng tính là người Hà Nội), không gốc đến nỗi tầng 2 tháp Rùa nhưng cũng là phố Hàng Đường. Đối với tôi cái tên Hà Nội thật thân thương còn cái tên Thăng Long nghe hơi xa vời và thường chỉ được dùng khi người ta ám chỉ Hà Nội 1 cách gián tiếp. Tôi đau lòng khi thấy Hà Nội của tôi ngày càng xuống cấp. Khôi phục các giá trị xưa của Hà Nội và thổi thêm luồng sinh khí mới cần thiết hơn níu kéo lại 1 cái tên cũ.

    Cũng định tem bác nhưng viết lan man nên chắc tem không kịp.

    • Trần Đạt says:

      Tôi cũng đồng ý với bác. Nhưng nếu lấy lại được tên Thăng Long đồng thời vẫn “nâng cấp” được nội dung của nó thì càng tuyệt vời hơn.

    • Người quan sát says:

      Cho bác XT 10 sao lời bình này. Tên tuổi dù có đẹp nhưng không đi với đạo đức thì phỏng có ích chi. Cái nết đánh chết…cái tên :)

    • Daqui says:

      DQ cũng ngĩ cái tên hay ko quan trọng bằng cái tên đã để lại trong lòng ta biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương . Hà nội ơi , hãy cứ mãi là HÀ NỘI -VIỆT NAM và ngày càng được như mong đợi nhé !

    • Quý Vũ says:

      hehe, dạo này bác XT…..sung dữ, còm nào cũng tuyệt, vote bác một trời sao!

  37. KTS Trần Thanh Vân says:

    Tôi tâm đắc với đề tài này.
    Xin viết sau

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 2,623 other followers

%d bloggers like this: